Sinh học đại cương c4 - Pdf 25

Chương 4
NHÂN TẾ BÀO
Nhân (nucleus) được Braw phát hiện vào năm 1831 và được xem là thành phần bắt
buộc của tất cả tế bào động vật cũng như thực vật. Ở các tế bào Prokaryota (vi khuẩn) người
ta không quan sát thấy nhân. Tuy nhiên hiện nay với những phương pháp nghiên cứu sinh
hóa, hiển vi điện tử và di truyền vi sinh vật đã
chứng minh rằng trong các tế bào Prokaryota tồn tại
phân tử ADN (acid deoxyribonucleic) nằm trong
vùng “thể nhân” có cùng chức năng tương tự như
nhân của Eukaryota, vì vậy thể nhân ở vi khuẩn có
tên gọi là nucleoid. Như vậy ta có thể xem sự tiến
hóa từ dạng ADN trần phân tán trong tế bào chất ở
dạng nucleoid (Prokaryota) sang dạng ADN liên kết
với histon thành các nhiễm sắc thể định khu, tách
biệt bởi màng nhân ở dạng nhân (nucleus) ở
Eukaryota là sự tiến hóa của bộ máy di truyền của
sinh giới.
1. Hình dạng
Nhân tế bào có nhiều hình dạng khác nhau: hình cầu, hình bầu dục, hình hạt đậu, hình
mái chèo, hình nhiều thùy,
hình chia nhánh...
Hình dạng của nhân
thường phụ thuộc vào hình
dạng của tế bào nhưng đôi
khi cũng có hình dạng khác
hình dạng tế bào (bạch cầu
với nhân múi, tế bào tuyến cơ
của tằm hình khối vuông có
nhân hình phân nhánh). Hình
dạng của nhân có thể biến đổi
theo tuổi của tế bào và trạng

thì lại giống với lưới nội
chất trơn nghĩa là
cholesterol chiếm 10%
thành phần lipit và các
thành phần lipit khác
gần giống như của lưới
nội chất trơn. Nó kém
lỏng linh động hơn
màng lưới nội sinh chất
có hạt. Màng nhân ngoài
nối liền với màng
LNSC.
Về chức năng nó
phụ trách việc tái tạo
màng nhân, tham gia
tổng hợp màng LNSC
và các màng nội bào
khác kể cả màng tế bào
cùng với LNSC. Cách
làm của nó là gửi tới nơi
cần những mảnh màng
mới tạm thời cuốn lại
thành các túi hình cầu
giống như các túi vận tải
nội bào.
80
VnVc
Vn
NP


hạt protein có hình chiếu trùng nhau.
Một số loài sinh vật, lỗ màng nhân có thêm một phân tử protein nằm giữa lỗ gọi là nút
lỗ màng.
Tất cả hệ thống protein thuộc lỗ màng nhân điều khiển việc qua lại của vật chất qua lỗ
màng. Các chất hòa tan trong nước qua lại màng dễ dàng.
Lỗ màng rộng 9nm dài 15nm nên các chất có kích thước lớn, hoặc lớn hơn 9nm qua
lại màng phải theo cơ chế chủ động, có sự can thiệp của các protein lỗ màng và cả sự biến
dạng của protein muốn qua màng nhân.
Qua lại màng nhân chủ yếu là các ARN (ra), các ADN polymerase (vào), các phân
đơn vị của ribosom (ra) các histon và các protein của ribosom (vào).
* Sự hình thành và biến mất của màng nhân:
Màng nhân được nhân đôi lúc phân bào, do chính màng nhân cũ tạo nên, có sự tham
gia của LNSC có hạt, LNSC trơn và bào tương. Khi sắp bước vào kỳ giữa của sự phân bào thì
màng nhân biến mất. Biến mất có nghĩa là vỡ vụn ra từng mảnh và cuốn lại thành hình túi cầu
và phân tán trong bào tương. Các laminin thì rời ra, giáng cấp thành monomer và phân tán
trong bào tương. Khi màng nhân xuất hiện có nghĩa là các túi cầu này hợp lại, các laminin
polymer hóa trở lại để tái tạo thành hai màng nhân cho hai tế bào con.
Điều chú ý là khi có tín hiệu giải thể màng nhân thì đồng thời tất cả các hiện tượng cắt
tách và hòa nhập các phần khác của tế bào cũng dừng lại.
81
Hình 4.4. Cấu trúc lỗ màng nhân
4.2 Dịch nhân
Dịch nhân chứa nguyên liệu và enzym xúc tác các quá trình nhân đôi ADN, sao mã và
một số quá trình khác xảy ra trong nhân. Gần đây người ta phát hiện được sự có mặt của một
hệ thống các sợi protein các loại trong số đó có actin. Hệ thống này được gọi là khung xương
của nhân. Một số bộ phận của khung xương thì neo với lamina. một số bộ phận khác thì liên
kết với các vùng nhất định của chromatin.
Rất có thể khung xương cùng với lamina tạo thành một phức hợp có khả năng điều
chỉnh sự biểu hiện của gen và chuyển các ARN ra bào tương. Phức hợp điều chỉnh này có thể
liên hệ chức năng với khung xương của bào tương và cả với màng tế bào.

. Ngoài ra các nhiễm sắc thể dạng kép còn có một bộ phận gọi là tâm động
(Kinetochore), một cấu trúc 3 lớp hình lòng máng ngắn vừa ôm lấy phần tâm (centromere) từ
hai bên tâm động thấy xuất hiện sợi thoi vô sắc nối liền với sợi thoi vô sắc từ trung thể lúc
phân bào.
82
Hình 4.5. Nhiễm sắc thể
* Số lượng nhiễm sắc thể: tế bào Eukaryota có hai nhiễm sắc thể tức là có hai bộ
giống nhau, mỗi bộ gồm n nhiễm sắc thể khác nhau. Số n khẳng định với loài nhưng khác
nhau tùy loài.
Ở người 2n = 46 = 23 x 2. Trong 23 nhiễm sắc thể có 22 nhiễm sắc thể thường và một
nhiễm sắc thể giới. Ở nam giới nhiễm sắc thể giới có hai loại, nhiễm sắc thể X và nhiễm sắc
thể Y và được gọi là dị giao tử ( giao tử mang Y và giao tử mang X). Ở nữ giới chỉ có một
loại nhiễm sắc thể giới là X và do đó chỉ có một loại giao tử mang X. Ở người thì dị giao tử là
dị giao tử đực, khác
với một số loài vật
dị giao tử lại thuộc
về con cái và gọi là
dị giao tử cái.
* Cấu trúc
siêu vi thể của
nhiễm sắc thể.
Nhờ thành
tựu của J.R.Paulson
và U.K.Laemmli,
năm 1977 nhiễm
sắc thể ở kích thước
hiển vi cho thấy, ở
kỳ giữa nhiễm sắc
thể người bao gồm
một lõi khung


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status