1
LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan:
- Những số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn chưa được sử dụng để bảo
vệ một học vị nào.
- Các số liệu và kết quả nghiên cứu trên do chính bản thân tác giả thực hiện
dưới sự hướng dẫn của TS. Hoàng Hoa Hồng.
- Luận văn này do tôi tự viết và trình bày; trong suốt quá trình thực hiện luận
văn không xảy ra tranh chấp với các tổ chức, cá nhân khác.
- Luận văn có sử dụng một số tài liệu trong và ngoài nước đã được tác giả chú
thích và trích dẫn rõ ràng khi sử dụng. Ninh Thuận, ngày 15 tháng 6 năm 2011
Tác giả
Lê Tiến Dũng 2
LỜI CẢM ƠN
MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KHU VỰC ĐẦM NẠI
1.1. 1. Điều kiện tự nhiên đầm Nại
1.1.1.1. Vị trí địa lý
1.1.1.2. Địa hình-địa mạo
1.1.1.3. Đặc điểm khí hậu
1.1.1.4. Chế độ gió
1.1.1.5. Chế độ mưa và lượng mưa
1.1.1.6. Đặc điểm thủy văn và thủy triều
1.1.1.7. Lũ lụt và bão
1.1.1.8. Dòng chảy
1.1.1.9. Khả năng trao đổi nước giữa đầm Nại và vịnh Phan Rang
1.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội
1.1.2.1. Dân số, lao động, việc làm
1.1.2.2. Hiện trạng sử dụng đất
1.1.2.3. Cơ sở hạ tầng
1.1.2.4. Giáo dục
1.1.2.5. Y tế
1.1.3. Tài nguyên biển
1.1.3.1. Tài nguyên biển Ninh Thuận
1.1.3.2. Tài nguyên biển khu vực đầm Nại
1.2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CƯU Ở NƯỚC NGOÀI
1.2.1. Nghiên cứu về hiệu quả khai thác thủy sản
1.2.2. Về giải pháp bảo vệ nguồn lợi thủy sản ở nước ngoài
1.3. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở TRONG NƯỚC
1.3.1. Thực trạng khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản
1.3.2. Chính sách quản lý nghề cá Việt Nam và các hạn chế cơ bản
1.3.3. Một số hoạt động nghiên cứu liên quan đến khai thác và bảo vệ nguồn
lợi thủy sản tại đầm Nại
10
11
14
14
16
21
24
24
24
25
27
27
4
2.1.2. Thực trạng quản lý và bảo vệ nguồn lợi thủy sản tại Đầm Nại
2.1.3. Đề xuất giải pháp
2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1. Phương pháp chung
2.2.2. Phương pháp nghiên cứu tài liệu
2.2.3. Thu thập thông tin sơ cấp
2.2.4. Phân tích, xử lý số liệu thống kê
2.3. PHẠM VI VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 3 - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. THỰC TRẠNG NGHỀ KHAI THÁC THỦY SẢN TẠI ĐẦM NẠI
3.1.1. Đặc điểm ngư trường Đầm Nại
3.1.1. Phạm vi giới hạn, diện tích
3.1.2. Đặc điểm địa hình đáy biển
3.1.3. Đặc điểm khí tượng thủy văn
28
28
30
30
31
31
31
31
31
32
33
33
34
34
35
36
38
39
39
40
40
41
43
43
44
45
46
46
47
48
3.4.2.3. Tính khả thi của giải pháp
3.4.3. Giải pháp Quy hoạch sắp xếp lại nghề khai thác thủy sản
3.4.3.1. Căn cứ đề xuất
3.4.3.2. Nội dung giải pháp
3.4.3.3. Tính khả thi của giải pháp
3.4.4. Giải pháp ban hành thể chế, chính sách
3.4.4.1. Căn cứ đề xuất
3.4.4.2. Nội dung giải pháp
3.4.4.3. Tính khả thi của giải pháp
3.4.5. Giải pháp tăng cường thực thi pháp luật
3.4.5.1. Căn cứ đề xuất
3.4.5.2. Nội dung giải pháp
3.4.5.3. Tính khả thi của giải pháp
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
4.1. Kết luận
4.2. Khuyến nghị
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
67
70
73
73
73
74
74
75
75
75
75
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1: Hiện trạng sử dụng đất của các xã ven đầm Nại 8
Bảng 2.2: Phân bổ mẫu điều tra theo nghề 29
Bảng 3.3: Thành phần loài và sản lượng một số loài kinh tế tại đầm Nại 36
Bảng 3.4: Phân bố số hộ khai thác tại đầm Nại theo nghề và địa phương năm 2010 39
Bảng 3.5: Biến động số hộ khai thác tại đầm Nại theo nghề từ năm 2006÷2010 40
Bảng 3.6: Thống kê phương tiện khai thác tại đầm Nại theo nghề và xã, năm 2010 41
Bảng 3.7: Tình hình trang bị phương tiện khai thác theo nghề năm 2010 41
Bảng 3.8: Các thông số cơ bản của lưới Rê 3 lớp theo nhóm công suất 43
Bảng 3.9: Các thông số cơ bản của lưới Rê 01 lớp theo nhóm công suất 44
Bảng 3.10: Các thông số cơ bản của lưới Đáy theo nhóm công suất 44
Bảng 3.11: Các thông số cơ bản của nghề Câu theo nhóm công suất 45
Bảng 3.12: Thống kê trình độ lao động theo độ tuổi lao động 48
Bảng 3.13: Mùa vụ khai thác nghề lưới rê 50
Bảng 3.14: Sản lượng khai thác nghề lưới Rê/hộ điều tra năm 2010 51
Bảng 3.15: Biến động sản lượng, năng suất khai thác của nghề lưới Rê qua các
năm từ 2008÷2010
52
Bảng 3.16: Sản lượng và thành phần sản phẩm khai thác nghề lưới Rê 53
Bảng 3.17: Doanh thu, lợi nhuận của hộ nghề lưới rê từ năm 2008÷2010 54
Bảng 3.18: Mùa vụ khai thác nghề lưới Đáy 55
Bảng 3.19: Sản lượng khai thác nghề lưới Đáy/hộ điều tra năm 2010 56
Bảng 3.20: Sản lượng và năng suất khai thác nghề lưới Đáy qua các năm từ
2008÷2010
57
Bảng 3.21: Sản lượng và thành phần sản phẩm khai thác nghề Lưới Đáy 58
Bảng 3.22: Doanh thu, lợi nhuận của hộ nghề lưới Đáy từ năm 2008-2010 58
Bảng 3.23: Mùa vụ khai thác nghề câu 60
8
DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 1.1. Đầm Nại-huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận 4
Hình 1.2. Cơ cấu nghề nghiệp chính tại đầm Nại 7
Hình 3.3: Bản đồ khu vực ngư trường đầm Nại 33
Hình 3.4: Bản đồ phân bố nguồn lợi cá và giáp xác đầm Nại 35
Hình 3.5: Dạng phân bố đều khắp 37
Hình 3.6: Dạng phân bố tập trung nước sâu 37
Hình 3.7: Dạng phân bố tập trung ven bờ 38
Hình 3.8: Bản vẽ cấu tạo loại Sỏng chiều dài 4 mét 42
Hình 3.9: Bản vẽ cấu tạo loại Sỏng chiều dài 6 mét 42
Hình 3.10: Cấu tạo lưới rê 03 lớp tại đầm Nại 43
Hình 3.11: Cấu tạo lưới Đáy tại đầm Nại 45
Hình 3.12: Người dân cào, bắt ngao tại đầm Nại 46
Hình 3.13: Cấu tạo ngư cụ bẫy cua, ghẹ tại đầm Nại 46
Hình 3.14: Ngư cụ nghề bẫy cua ghẹ tại đầm Nại 47
Hình 3.15: Hoạt động te, xiếc điện tại đầm Nại 47
Hình 3.16: Khu vực hoạt động nghề lưới Rê tại đầm Nại 51
Hình 3.17. Biểu diễn biến động về số vàng lưới và sản lượng nghề lưới Rê qua các năm 52
Hình 3.18. Đồ thị biễu diễn doanh thu, chi phí và lợi nhuận nghề lưới Rê qua các năm 54
Hình 3.19: Khu vực hoạt động nghề lưới Đáy tại đầm Nại 56
Hình 3.20: Đồ thị biểu diễn biến động về số hộ và sản lượng đánh bắt bằng nghề
lưới Đáy qua các năm
57
Hình 3.21: Đồ thị biễu diễn cơ cấu thành phần loài đánh bắt nghề lưới Đáy 58
Hình 3.22: Đồ thị biểu diễn biến động về doanh thu, chi phí và lợi nhuận của
9
DANH MỤC CÁC PHỤ LỤC
Trang
Phụ lục 1: Thành phần loài cá và giáp xác tại đầm Nại 91
Phụ lục 2: Kích cỡ khai thác một số loài cá và giáp xác tại đầm Nại 95
Phụ lục 3: Phiếu điều tra phỏng vấn hộ gia đình hoạt động khai thác thủy
sản tại đầm Nại
97
10
BẢNG CÁC TỪ VIẾT TẮT HST Hệ sinh thái
NTTS Nuôi trồng thủy sản
NLTS Nguồn lợi thủy sản
BVNLTS Bảo vệ nguồn lợi thủy sản
KT&BVNLTS Khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản
KTTS Khai thác thủy sản
ĐQL Đồng quản lý
QLDVCĐ Quản lý dựa vào cộng đồng
QLNCDVCĐ Quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng
UBND Ủy ban nhân dân
Nghề khai thác, nuôi trồng thủy sản ở đầm Nại phát triển đã đóng góp tích cực cho
việc phát triển kinh tế - xã hội của huyện Ninh Hải nói riêng và tỉnh Ninh Thuận nói
chung, tạo điều kiện cho người dân có công ăn việc làm, góp phần xóa đói, giảm
nghèo, duy trì ổn định đời sống của nhân dân trong vùng.
Vào khoảng thời gian trước năm 1980, nguồn lợi thủy sản tự nhiên trong đầm
khá phong phú về chủng loại, trữ lượng lớn, hoạt động đánh bắt chủ yếu bằng các nghề
lưới rê, cào ngao, đăng đáy với số lượng còn hạn chế, nguồn lợi ít bị ảnh hưởng; hoạt
động nuôi trồng thủy sản và hoạt động sản xuất khác chưa phát triển mạnh nên môi
trường sinh thái ít bị ô nhiễm, nguồn lợi thủy sản chưa bị áp lực lớn, thu nhập ngư dân
dựa vào đầm khá ổn định.
12
Sau năm 1980, nhất là vào những năm gần đây, do sự gia tăng dân số, nhu cầu
phát triển và mở rộng diện tích của nhiều ngành kinh tế (khai thác thủy sản, NTTS ven
đầm, làm muối, trong rong Câu ) và các hoạt dân sinh quanh vùng như: nông nghiệp,
nuôi trồng thủy sản, khai thác thủy sản… phát triển nhanh nhưng lại không được đặt
trong một quy hoạch tổng thể đã gây ra hậu quả sinh thái nghiêm trọng làm ô nhiễm
môi trường nước, ảnh hưởng tài nguyên thiên nhiên. Đứng trước thực trạng đó, từ năm
1983 đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu của các cơ quan: Trường Đại học thủy
sản Nha Trang (nay là Trường Đại học Nha Trang), Viện Kinh tế-Quy hoạch thủy sản,
Viện sinh học nhiệt đới, Viện quy hoạch thủy lợi, Viện nghiên cứu thủy sản III, Sở
Khoa học và Công nghệ Ninh Thuận, Sở Thủy sản Ninh Thuận (nay là Sở Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Ninh Thuận), các đơn vị trực thuộc Sở Thủy sản
Ninh Thuận (cũ) và một số cơ quan nghiên cứu khác đã thực hiện và đề xuất các giải
pháp thiết thực giúp các cơ quan chức năng, chính quyền địa phương các cấp tổ chức
quản lý chặt chẽ, khắc phục nhiều hạn chế, yếu kém trong công tác quản lý đối với
những vấn đề nêu trên.
Đối với hoạt động khai thác ngày càng đẩy mạnh bằng những ngư cụ mang tính
chất hủy diệt nguồn lợi như: sử dụng xung điện, sử dụng ngư cụ có kích thước mắt
lưới nhỏ, đánh bắt đối tượng không đúng mùa vụ theo quy định, hủy hoại môi trường
“Giải pháp nâng cao hiệu quả khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản tại Đầm Nại, tỉnh
Ninh Thuận” bắt đầu từ ngày 15/3/2010 đến ngày 15/3/2011 nhằm mục tiêu đề ra giải
pháp nâng cao hiệu quả khai thác và bảo vệ nguồn lợi thủy sản tại đầm Nại.
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận về khai thác
và BVNLTS ở địa phương; giúp cơ quan quản lý về thủy sản ở địa phương có cơ sở
lập quy hoạch, kế hoạch, định hướng phát triển, tổ chức quản lý khai thác và BVNLTS
có hiệu quả trong thời gian tới.
Ngoài phần mở đầu, nội dung chính của Luận văn được thể hiện trong 03
chương:
Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Nội dung và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Cuối cùng là Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục.
14
CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KHU VỰC ĐẦM NẠI
1.1. 1. Điều kiện tự nhiên đầm Nại:
1.1.1.1. Vị trí địa lý:
Đầm Nại thuộc địa bàn huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận nằm ở vị trí từ vĩ độ
11
0
36’-11
0
38’ Bắc; kinh độ 109
0
00-109
0
03 Đông; được bao bọc bởi địa giới hành chính
C
và 14,2
o
C. Nhiệt độ nước ngoài đầm dao động từ 22-30
o
C, trung bình 27-28
o
C.
- Bức xạ và nắng: Đầm Nại - Ninh Thuận nằm ở vĩ độ thấp, quanh năm có thời
gian chiếu sáng dài, mùa khô kéo dài 8-9 tháng, tổng số giờ nắng trung bình hàng năm
là 2.800-2.900 giờ. Lượng bức xạ ở khu vực này tương đối lớn, trung bình hàng năm
khoảng 160 Kcal/cm
2
, tháng ít nhất là 91 Kcal/cm
2
.
(Nguồn: Đài khí tượng thủy văn Nam Trung Bộ).
1.1.1.4. Chế độ gió:
Mỗi năm có 02 mùa gió chính là gió mùa Tây Nam và gió mùa Đông Bắc, thể
hiện rõ tính chất gió mùa và ảnh hưởng của dải ven bờ. Gió mùa Tây Nam thể hiện rõ
từ tháng 6-8, gió mùa Đông Bắc kéo dài từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, các tháng
gió chuyển tiếp là tháng 4-5 và tháng 9-10. (Nguồn: Đài khí tượng thủy văn Nam
Trung Bộ).
Chế độ gió ảnh hưởng tới hướng và vận tốc dòng chảy của nước trong đầm. Đây
là nguyên nhân gây tù đọng nước ở một số tiểu vùng và bồi tụ trầm tích trong đầm. 16
1.1.1.5. Chế độ mưa và lượng mưa:
17
1.1.1.9. Khả năng trao đổi nước giữa đầm Nại và vịnh Phan Rang:
Vận tốc dòng chảy trên lạch Ninh Chữ khi triều dâng và triều rút là khá lớn.
Trung bình mỗi ngày có đến 4-6 giờ nước chảy với vận tốc trên 50 cm/s, có nơi vận
tốc dòng chảy có thể lên tới 110 cm/s (trong mùa lũ) [10].
1.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội:
Đầm Nại và vùng xung quanh đầm có tiềm năng khá lớn về đất đai, lao động,
tài nguyên biển để phát triển các ngành nuôi trồng thủy sản, khai thác thủy sản, sản
xuất muối và nông nghiệp. Tuy nhiên do đời sống nhân dân còn nghèo, thiếu vốn đầu
tư, trình độ văn hoá và những hiểu biết về kỹ thuật còn hạn chế nên những tiềm năng
này vẫn chưa được khai thác đúng mức. Bên cạnh đó, điều kiện thời tiết quá khắc
nghiệt, thiên tai, hạn hán thường xuyên xảy ra là những khó khăn cản trở sự phát triển
kinh tế- xã hội của vùng.
1.1.2.1. Dân số, lao động, việc làm:
Tổng diện tích đất tự nhiên của 05 xã quanh Đầm Nại là 15.198,2 ha (chiếm
26,6% diện tích tự nhiên toàn huyện Ninh Hải). Tính đến tháng 10/2010 tổng số hộ
vùng này là khoảng 10.995 hộ với dân số là 52.580 người, chiếm 43,81% tổng dân số
toàn huyện Ninh Hải, tỷ lệ nữ chiếm 56,73%. Mật độ dân số vào khoảng 356
người/km
2
, khá cao so với mật độ dân số toàn huyện 215 người/km
2
.
- Về cơ cấu nghề nghiệp: Ninh Hải là một huyện đa ngành nghề: Nông nghiệp
(trồng trọt, chăn nuôi), làm muối, thủy sản, lâm nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương
mại, du lịch… Tại khu vực quanh đầm Nại, do điều kiện tự nhiên khá phù hợp, đồng
thời có diện tích đồng bằng lớn nên đa số dân cư quanh đầm nhiều đời qua chủ yếu sống
bằng nghề làm nông, một bộ phận dân cư khác ven đầm sinh sống bằng các nghề gắn
nhiên của các xã quanh đầm Nại là 15.198,2 ha; chiếm 26,6% diện tích tự nhiên toàn huyện (bảng
1).
Bảng 1.1: Hiện trạng sử dụng đất của các xã ven đầm Nại
Trong đó
NTTS Nông nghiệp
Mặt nước
Đầm
TT Xã, thị trấn Tổng
diện
tích
(ha)
Diện
tích
% DT
NTTS
Diện
tích
%
DTNN
Diện
tích
%
1075,7
3562,21 806,8 Toàn huyện 57.118(Nguồn: UBND các xã quanh đầm Nại, 2010)
1.1.2.3. Cơ sở hạ tầng:
- Về điện: Toàn bộ 12/12 xã, thị trấn của Huyện đã có điện lưới Quốc Gia, 70%
số hộ dân có điện lưới sử dụng. Như vậy, toàn bộ các xã quanh đầm Nại đều đã có
điện lưới phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt.
- Về giao thông: Các loại đường đi qua các xã đầm Nại có đường sắt Thống
Nhất qua xã Tân Hải; đường quốc lộ 1A qua xã Hộ Hải, Tân Hải; tỉnh lộ 704 có chiều
dài 4,14km chạy trên địa bàn thị trấn Khánh Hải, chiều rộng 6-8m; Huyện lộ tuyến 2
từ Tỉnh lộ 702 (thôn Tri Thủy xã Tri Hải) đi qua thôn Bỉnh Nghĩa đến Xóm Bằng xã
Phương Hải, chiều dài tuyến 12,47km, rộng 4-8m, đi qua 2 xã Tri Hải và Phương Hải;
19
Huyện lộ tuyến 11 từ Quốc lộ 1A (xã Tân Hải) chạy theo hướng Đông đến thôn
Phương Cựu xã Phương Hải, tổng chiều dài 3,25 km, đường rộng 2-4m. Các tuyến
đường Quốc lộ 1A, Tỉnh lộ 704, Huyện lộ tuyến 2 và tuyến 11 tạo thành các tuyến
đường bao bọc quanh đầm Nại với tổng chiều dài khoảng 25 km. Nhìn chung, mạng
lưới giao thông dày đặc bao quanh khu vực đầm Nại và các xã, một số đường trong
thôn xóm cũng đã được bê tông hoá, tương đối thuận lợi cho việc đi lại, tuy nhiên vẫn
còn nhiều đường đất, giao thông nội đồng chủ yếu là đường đất, nhỏ.
- Về thủy lợi: Hệ thống kênh Bắc nhận nước từ Nha Trinh-Lâm Cấm cung cấp
nước sản xuất cho 04 xã, thị trấn xung quanh đầm Nại (trừ xã Tri Hải).
nghìn tấn. Ngoài ra Ninh Thuận còn có các bãi tắm nổi tiếng như: Ninh Chữ, cà Ná.
(Nguồn: Quy hoạch phát triển ngành thủy sản giai đoạn 2006-2010).
1.1.3.2. Tài nguyên biển khu vực đầm Nại:
Theo kết quả nghiên cứu [16) của Nguyễn Trọng Nho (1993) cho thấy: Thành
phần thực vật nổi phong phú với gần 150 loài, trong đó loại tảo silic chiếm ưu thế.
Thành phần loài động vật nổi mang tính chất biển, cấu trúc đơn giản, trong đó
các loài thuộc giáp xác chân chèo (Copepoda) chiếm ưu thế (Acartia, Oithona, các
dạng ấu trùng phù du).
Sinh vật đáy (benthos): Thường gặp các giống Najas, Ruppia, Thalassia. Động
vật đáy trong ao rất ít, chỉ gặp một số cá thể giun nhiều tơ, ốc quắn, cá bống, một số
giáp xác thấp và ấu trùng muỗi…
Tài nguyên sinh vật vùng biển Ninh Thuận nói chung và vùng đầm Nại nói
riêng khá phong phú và đa dạng, thuận lợi cho việc khai thác và nuôi trồng các loài
thủy sản có đặc tính tương tự như các loài trong tự nhiên.
1.2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CƯU Ở NƯỚC NGOÀI
1.2.1. Nghiên cứu về hiệu quả khai thác thủy sản
FAO đã tiến hành cuộc khảo sát thông tin liên quan đến hoạt động khai thác
thủy sản nghề lưới vây của 15 quốc gia thuộc châu Âu, châu Á, châu Mỹ và châu Phi
từ năm 1995-1997. Kết quả cho thấy ở một số nước như: Pê Ru, Triều Tiên,
Malaixia có lãi ròng dương, ngược lại ở một số nước khác như: Trung Quốc, Ấn
Độ có lãi ròng âm. Lý do của hiệu quả kinh tế thấp là do sự khai thác quá mức về
nguồn lợi làm cho sản lượng ngày càng giảm, ngược lại chi phí đầu tư, chi phí bảo
dưỡng cao.
Các công trình nghiên cứu tập trung vào việc tìm ra mối quan hệ giữa hiệu quả
kinh tế và các yếu tố kỹ thuật [31].
Ở Hawaii, nh Marcia Hamilton v Steve Huffiman [28] đã có nghiên cứu sâu về
doanh thu và chi phí hoạt động khai thác của nghề cá nổi quy mô nhỏ của 4 nhóm ngư
dân khác nhau (nhóm đánh cá toàn thời gian, bán thời gian, làm tiêu khiển và nhóm
21
“quyền đánh cá” cho tổ chức ngư dân và “giấy phép đánh cá giới hạn” thường chỉ cho
ngư dân. Cả hai được xem như là một loại "quyền sử dụng lãnh thổ trong nghề cá". Do
22
đó, ngư dân nhận thức nguồn lợi thủy sản là của chính mình, không ai khác được phép
đánh cá trong ngư trường (nơi tổ chức của họ được giao quyền đánh cá). Đây là động
cơ để ngư dân cùng tham gia quản lý nghề cá với Chính phủ và sáng tạo ra hệ thống để
tự quản lý nghề cá của chính mình. Cơ chế tiếp cận giới hạn này được nghiêm ngặt
tuân thủ từ nhiều thế kỷ ở Nhật Bản, nó cũng được tuân thủ rộng rãi tại Hàn Quốc và
Đài Loan [1]. Cơ chế tiếp cận giới hạn xuất phát từ Nhật Bản và chính sách quản lý
nghề cá của họ được phát triển dần thành phương thức Đồng quản lý nghề cá/Quản lý
nghề cá dựa vào cộng đồng và được nhiều nước trên thế giới, nhất là các nước đang phát
triển áp dụng một cách có hiệu quả.
Một số nước điển hình về áp dụng phương thức quản lý nghề cá dựa vào cộng
đồng như:
Nhật Bản đã thiết lập hệ thống quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng, thông qua
các chính sách, pháp luật, thể chế nghề cá gồm:
- Quyết định sửa đổi Luật Nghề cá theo đường lối dân chủ sau chiến tranh thế
giới lần 2;
- Ban hành Luật Nghề cá mới vào tháng 12/1949, hủy bỏ tất cả các "quyền
đánh cá" cũ bằng cách mua lại với giá trị bảo đảm vào năm 1950;
- Lập "quy hoạch quản lý nghề cá ven bờ" ở mỗi một tỉnh, với việc tham khảo
công chúng, ban hành "giấy phép đánh cá giới hạn" và "quyền đánh cá" của chính
quyền tỉnh dựa trên quy hoạch vào năm 1950.
Kết quả, Nhật bản đã cấp 100% vùng nước ven bờ cho Hội hợp tác nghề cá để
tự quản lý vùng nước, giảm nhẹ chi phí cho nhà nước đồng thời tăng hiệu quả quản lý.
Tổng số tổ chức quản lý nghề cá toàn Nhật Bản vào năm 1952 chỉ là 359, sau đó tăng
dần theo thời gian, lên 1.339 vào năm 1988, 1.524 vào năm 1993 và 1.734 vào năm
1998. So sánh với tổng số Hội Hợp tác Nghề cá là 1.890 vào năm 1998, thì hầu như tổ
chức quản lý nghề cá đã phát triển ở hầu hết mọi Hội Hợp tác Nghề cá [1].
tiếp cận dựa vào cộng đồng. Tuy nhiên, số liệu đã chỉ ra rằng một khung pháp lý (Bộ
luật về chính quyền địa phương năm 1991) với việc trao quyền nhiều hơn cho cấp địa
phương (phân cấp) có thể là nguyên nhân làm tăng đột biến số lượng các khu bảo tồn
biển quản lý dựa vào cộng đồng được hình thành tại Philippines. Theo sự phân cấp này
thì cấp tỉnh tổ chức quản lý vùng biển ven bờ thuộc địa phương mình và tiếp tục phân
cấp cho cấp huyện và cấp huyện giao quyền quản lý vùng biển có ranh giới 15 km kể
từ mép bờ đảo cho chính quyền cấp xã. Đồng thời, khi Bộ luật nghề cá mới ra đời
(1998) quy định 15% vùng nước địa phương dành cho việc thiết lập các khu bảo tồn
biển, đã tạo nên làn sóng thiết lập các khu bảo tồn biển cấp cộng đồng tại những khu
vực có hệ sinh thái biển đặc thù như rạn san hô, cỏ biển, rừng ngập mặn gắn với việc
kiểm soát khai thác thủy sản theo từng địa phương. Theo đó thì tàu thuyền đánh cá
24
thương mại (tàu lớn, có khả năng đánh bắt xa bờ hơn) và tàu thuyền ở nơi khác không
được đánh bắt trong vùng biển đã được phân cấp của địa phương. Trong vùng biển này
chỉ có tàu thuyền của địa phương được phép đánh bắt gắn với việc tổ chức quản lý
nguồn lợi thủy sản do chính cộng đồng ở đó tổ chức thực hiện.
Phương thức quản lý nguồn lợi thủy sản dựa vào cộng đồng hiện nay được
nhiều nước trên thế giới, nhất là ở các nước đang phát triển sử dụng như là một công
cụ hữu hiệu thay thế cho những công cụ mang nặng tính hành chính áp đặt đã có từ
nhiều năm trước. Về mặt quy mô, phương thức quản lý dựa vào cộng đồng thường
được áp dụng trong phạm vi nhỏ với mục tiêu chủ yếu là bảo vệ nguồn lợi thủy sản đi
đôi với việc khai thác, sử dụng một cách hợp lý nguồn lợi thủy sản cho trước mắt và
lâu dài, đảm bảo duy trì nhịp độ tái tạo của nguồn lợi thủy sản, sức sản xuất sinh học
và tiềm năng kinh tế lâu dài của tài nguyên biển cho cộng đồng dân cư sống phụ thuộc
vào tài nguyên đó.
Vào năm 1935, ở Florida (Mỹ), Khu bảo tồn biển đầu tiên trên thế giới được
thành lập gồm 18.850 ha diện tích mặt biển và 35 ha vùng đất ven bờ. Đây là một
trong những khu vực bảo vệ nghiêm ngặt nhằm phục hồi nguồn lợi thủy sản và sử
dụng phương pháp quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng để thực hiện quản lý nguồn lợi
sự phát triển bền vững ngành Thủy sản đang bị suy giảm nghiêm trọng. nguồn lợi thủy
sản ở vùng biển ven bờ đã bị khai thác quá mức cùng với việc mất đi nhiều loài thủy
sinh vật quý hiếm, có giá trị kinh tế, giá trị khoa học cao do chính những hành động
bất hợp lý của con người: khai thác quá mức; khai thác bằng phương pháp mang tính
hủy diệt; bằng lưới có kích thước mắt lưới nhỏ hơn mức cho phép; xả nước thải, chất
thải làm ô nhiễm môi trường sống của các loài thủy sản mà các giải pháp quản lý còn
tỏ ra kém hiệu quả.
Trong khai thác thủy sản, sự gia tăng cường lực khai thác quá mức ở vùng ven
bờ với sự tăng nhanh số lượng tàu thuyền là một trong những nguyên nhân chủ yếu
làm cạn kiệt nguồn lợi thủy sản. Năm 1997, Chính phủ đã ban hành Quyết định
393/TTg ngày 09/6/1997 phê duyệt Chương trình đánh bắt hải sản xa bờ, áp dụng
nhiều chính sách ưu đãi nhằm phát triển đội tàu khai thác khơi, giảm áp lực khai thác
thủy sản ven bờ. Tuy nhiên, sau nhiều năm triển khai thực hiện, hiệu quả không đạt
được như mong muốn, số lượng tàu thuyền nhỏ hoạt động ven bờ vẫn tiếp tục gia tăng,
Tính đến hết năm 2008, cả nước có khoảng 131.963 tàu thuyền nghề cá, trong đó hầu
hết có công suất nhỏ: 68.682 tàu lắp máy dưới 20CV (chiếm 52%), 44.312 tàu từ
21CV đến 89CV và chỉ có khoảng 17.969 tàu từ 90CV trở lên (chiếm 13,7%). Sự gia
tăng số lượng tàu thuyền khai thác đưa lại kết quả làm tăng sản lượng khai thác hàng
năm (từ hơn 670.000 tấn năm 1990 lên hơn 2.000.000 tấn năm 2009 nhưng năng suất