BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
NGUYỄN THỊ MINH NGUYỆT
NGHIÊN CỨU ẢNH HƢỞNG CỦA MẬT ĐỘ VÀ CHẾ PHẨM
SINH HỌC LÊN QUÁ TRÌNH SINH TRƢỞNG VÀ TỶ LỆ
SỐNG CỦA NGHÊU GIỐNG (Meretrix lyrata Sowerby, 1851)
ƢƠNG TRONG AO ĐẦM NƢỚC LỢ VEN BIỂN THÁI BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Nha Trang – 2013
i LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn thạc sỹ này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các
nội dung và kết quả trong luận văn này dựa trên cơ sở nguồn số liệu tự bản thân tôi trực
tiếp triển khai, thu thập và phân tích. Các tài liệu tham khảo sử dụng trong luận văn này
với mục đích phân tích và so sánh đã được trích dẫn đầy đủ, minh bạch theo đúng quy
định. Kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực, chưa sử dụng để bảo vệ một
học vị nào.
Tác giả
Nguyễn Thị Minh Nguyệt
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC CÁC HÌNH vi
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii
MỞ ĐẦU 1
CHƢƠNG I – TỔNG QUAN TÀI LIỆU 6
1.1. Đặc điểm tự nhiên, điều kiện khí hậu vùng ven biển 6
1.2. Đặc điểm sinh học của nghêu 7
1.2.1. Hệ thống phân loại 7
1.2.2. Đặc điểm hình thái 7
1.2.3. Đặc điểm phân bố 8
1.2.4. Đặc điểm dinh dƣỡng 9
1.2.6. Đặc điểm sinh sản 10
1.3. Tình hình nghiên cứu trên thế giới 11
1.4. Tình hình nghiên cứu trong nƣớc 13
1.4.1. Nuôi nghêu bãi triều 13
1.4.2. Nuôi nghêu trong đầm, bể 16
CHƢƠNG 2 – PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Phƣơng pháp thu thập các thông số yếu tố môi trƣờng trong thời gian thí
nghiệm 19
Bảng 3.1: Điều kiện môi trƣờng trong thời gian thí nghiệm 22
Bảng 3.2: Biến động mật đô TVPD theo tháng tại các ao thí nghiệm 26
Bảng 3.3: Tốc độ tăng trƣởng về chiều dài của nghêu giống theo thời gian 28
Bảng 3.4: Tốc độ tăng trƣởng về khối lƣợng của nghiêu giống theo thời gian 29
Bảng 3.5: Hạch toán kinh tế của các nghiệm thức thí nghiệm 31
Nghiệm thức 3
NT4
Nghiệm thức 4
NT5
Nghiệm thức 5
Cm
Centimet
Mm
Milimet
M
Mét
G
Gam
S%o
Độ muối
FAO
Food and Agriculture Organization
W
SGR
Trọng lƣợng tƣơng đối ngày
W
Trọng lƣợng
L
SGR
Chiều dài tƣơng đối ngày
L
Chiều dài
TVPD
trung bình khoảng 7,8%/năm. Trong đó, sản lƣợng NTHMV nuôi tăng đều qua các năm,
từ 5,3 triệu tấn năm 1993 lên 10,4 triệu tấn năm 2002, tăng trung bình 10,7%/năm, chiếm
83,8% sản lƣợng nuôi năm 2002; trong khi sản lƣợng khai thác giảm 27,2% (năm 1993 là
1,9-2 triệu tấn) xuống còn 16,2% năm 2002 [32]. Ở Việt Nam, theo thống kê của Tổng
cục Hải Quan năm 2009 xuất khẩu nghêu của cả nƣớc đạt 17.624 tấn, trị giá đạt trên 37,2
triệu USD, giá xuất khẩu trung bình đạt 2,11 USD/kg [41].
Họ nghêu (Veneridae) có khoảng 500 loài, phân bố rộng ở các nƣớc ôn đới, nhiệt
đới. Tại Việt Nam đã xác định đƣợc khoảng 40 loài thuộc 7 nhóm giống, phân bố dọc bờ
biển từ Bắc đến Nam, vùng ven biển phía Bắc có nghêu Dầu (Meretrix meretrix), nghêu
Mật (Meretrix lusoria), vùng ven biển phía Nam có nghêu Bến Tre (Meretrix lyrata) phân
bố nhiều [41]. Là nhóm động vật nhuyễn thể có tiềm năng lớn ở vùng triều nƣớc ta, kỹ
thuật nuôi không phức tạp, chu kỳ nuôi ngắn, đầu tƣ ít nhƣng có giá trị xuất khẩu. Bên
cạnh đó, nuôi nghêu còn là biện pháp tích cực để bảo vệ và phát triển nguồn lợi, góp phần
làm sạch môi trƣờng đáy vùng triều và đầm phá ven biển [41].
Tại Thái Bình, nghề nuôi nghêu Dầu (M. meretrix) bắt đầu từ những năm 1990, tại 2
huyện ven biển Thái Thuỵ và Tiền Hải với hình thức nuôi tự phát, khi thấy hiệu quả cao 2
nhiều hộ đã bắt đầu quây vùng nuôi; đến năm 2000, diện tích nuôi nghêu bãi triều đã tăng
lên 800 ha, sản lƣợng đạt 7.000 tấn. Năm 2001-2002, do ảnh hƣởng của các yếu tố môi
trƣờng không thuận lợi, nghêu Dầu chết trên 80% diện tích nuôi. Cùng năm đó, các hộ
dân đã di nhập giống nghêu Bến Tre (M. lyrata) về nuôi; kết quả cho thấy, nghêu thích
ứng, sinh trƣởng và phát triển tốt trong điều kiện môi trƣờng của miền Bắc nói chung,
Thái Bình nói riêng. Đến năm 2008, nghêu nuôi tại Thái Bình đƣợc Trung tâm Quản lý
chất lƣợng Nông - Lâm - Thuỷ sản vùng I kiểm tra giám sát, cấp giấy chứng nhận xuất xứ
để xuất khẩu vào thị trƣờng các nƣớc EU và có tên thƣơng hiệu là nghêu Bến Tre (M.
lyrata). Đến năm 2010, sản lƣợng nghêu nuôi của Thái Bình đạt 30.130 tấn/1.089 ha,
chiếm trên 1/3 sản lƣợng nghêu nuôi trong cả nƣớc [24, 25]. Năm 2011, Thái Bình đã quy
hoạch tổng thể diện tích nuôi nghêu trong toàn tỉnh giai đoạn 2011-2015, tầm nhìn đến
vào nhƣ con giống, môi trƣờng, bệnh nghêu nâng cao tỷ lệ sống và hạn chế đƣợc các rủi
ro do bệnh dịch gây ra so với hình thức và đối tƣợng nuôi khác. Tuy nhiên, phƣơng pháp
ƣơng nghêu giống trong đầm hiện nay chủ yếu là dựa vào kinh nghiệm, trong khi đó: Cỡ
nghêu giống đƣa vào ƣơng trong đầm dao động lớn (từ 1.000 con/kg đến trên 300 vạn
con/kg), thông thƣờng từ 40-100 vạn con/kg; Bộ NN&PTNT chƣa ban hành quy trình kỹ
thuật, ngƣời dân chƣa có đầy đủ cơ sở khoa học về kỹ thuật ƣơng nghêu giống nên hiệu quả
mang lại còn thiếu ổn định và tồn tại nhƣ: (1) Chƣa xác định đƣợc mật độ ƣơng thích hợp
theo từng giai đoạn sinh trƣởng của nghêu để nâng cao tỷ lệ sống và hiệu quả kinh tế trên
một đơn vị diện tích; (2) Nguồn thức ăn cung cấp cho nghêu sinh trƣởng phụ thuộc chủ yếu
vào mực nƣớc thủy triều (thay nƣớc khoảng 8-12 lần/tháng), thời gian còn lại nghêu thiếu
thức ăn nên tốc độ sinh trƣởng chậm, cỡ nghêu thu không đồng đều, tỷ lệ sống chƣa cao…
Vì vậy, nghiên cứu ảnh hƣởng của mật độ và chế phẩm sinh học (CPSH) lên quá trình sinh
trƣởng và tỷ lệ sống của nghêu giống (M. lyrata) ƣơng trong đầm nƣớc lợ là cần thiết, làm
cơ sở bổ sung vào bản hƣớng dẫn kỹ thuật ƣơng nghêu giống trong đầm nƣớc lợ các giải
pháp phù hợp với điều kiện thực tiễn sản xuất đang yêu cầu. Đồng thời nhằm từng bƣớc
chủ động đáp ứng một phần nghêu giống cỡ lớn tại chỗ có chất lƣợng tốt, kịp thời vụ, kích
cỡ đồng đều cho nhu cầu nuôi nghêu thƣơng phẩm bãi triều của tỉnh, nâng cao tỷ lệ sống,
năng suất, sản lƣợng, giá thành thấp… tăng thu nhập, giải quyết việc làm, góp phần phát
triển kinh tế - xã hội các xã ven biển.
Chế phẩm sinh học (CPSH) đã đƣợc các nhà nghiên cứu sử dụng trên các đối
tƣợng thuỷ sản nhƣ cá, tôm, động vật thân mềm; các kết quả nghiên cứu đều cho thấy việc
bổ sung CPSH đã góp phần hạn chế tỷ lệ chết của ấu trùng và con giống các loài 2 mảnh 4
vỏ, ngoài ra CPSH còn góp phần kích thích sinh trƣởng và tăng hiệu quả tiêu hoá thức ăn.
Mục đích của nghiên cứu này là để đánh giá ảnh hƣởng của mật độ và chế phẩm sinh học
đến tốc độ sinhh trƣởng và tỷ lệ sống của nghêu giống (M. lyrata) ƣơng trong đầm nƣớc
lợ, so sánh kết quả trên cùng mật độ (5.000 con/m
2
5
nghiên cứu tiếp theo, giảng dạy trong các trƣờng đại học, cao đẳng, trung học kỹ thuật và
phổ thông.
b. Ý nghĩa thực tiễn
Thành công của luận văn làm cơ sở chuyển đổi một phần diện tích ao đầm nuôi tôm
hiệu quả thấp sang ƣơng nghêu giống, góp phần giải quyết việc làm, phát triển kinh tế
thuỷ sản của tỉnh theo hƣớng hiệu quả và bền vững.
chắn sóng, đây là điều kiện thuận lợi để phát triển nuôi nghêu [26, 28, 41].
Đặc điểm khí hậu: Thái Bình nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, mùa nóng và mƣa
từ tháng 5 đến tháng 10; mùa lạnh và khô từ tháng 11 năm trƣớc đến tháng 4 năm sau.
Nhiệt độ trung bình trong năm từ 23–24
o
C, nhiệt độ thấp nhất là 4
o
C, cao nhất 38–39
o
C.
Số giờ nắng trong năm từ 1.600–1.800 giờ. Lƣợng mƣa trung bình năm từ 1.500–
1.900mm, cao nhất 2.528mm, thấp nhất 1.173mm. Độ ẩm trung bình nhiều năm từ 85–
90% [41, 27].
Chế độ thuỷ triều: Ven biển Thái Bình thuộc vùng có chế độ nhật triều thuần nhất,
một tháng có 2 chu kỳ triều, một chu kỳ có 14 con triều. Biên độ triều lớn nhất vào các
tháng 6, 7 và tháng 12, 1 đạt tới 3,6–3,7 m. Hàng năm có tới 176 ngày có đỉnh triều cao
3,0 m trở lên, biên độ triều trung bình 2,5 m, mực nƣớc triều dâng cao nhất 3,9 m (so số 0
hải đồ) [27, 41].
Đặc điểm nền đáy: Chất đáy vùng triều ven biển Thái Bình chủ yếu là bùn, bùn cát.
Hàng năm lƣu lƣợng nƣớc từ thƣợng nguồn đổ về, kéo theo lƣợng bùn, trầm tích hữu cơ,
hàm lƣợng muối khoáng và nhiều yếu tố khác với khối lƣợng lớn, bị các Cồn ven biển
ngăn lại không cho trầm tích đổ ra biển. Do đó, khu vực này đƣợc bồi đắp tạo nên vùng
triều rộng, lớn khoảng 25.000 ha, có hàm lƣợng muối khoáng cao, trầm tích lớn, thời gian
phơi bãi thuận lợi cho nuôi nhuyễn thể, đặc biệt là nuôi nghêu [27, 41]. 7
1.2. Đặc điểm sinh học của nghêu
1.2.1. Hệ thống phân loại
Ngành thân mềm
của vỏ màu trắng, trơn nhẵn; vết cơ khép vỏ trƣớc nhỏ, hình bán nguyệt, vết cơ khép vỏ
sau to hình trứng tròn. Bên ngoài vỏ có màu trắng ngà, trắng xám hoặc nâu, trên mặt vỏ
có nhiều đƣờng gân lồi gần nhƣ song song với nhau uốn cong theo miệng vỏ và thƣa dần
về phía mặt bụng là những vòng sinh trƣởng đồng tâm. Nghêu lớn có chiều dài 40-50 mm,
chiều cao 40-45 mm và chiều rộng 30-35 mm [41].
1.2.3. Đặc điểm phân bố
Theo nghiên cứu của Nguyễn Chính (1996), nghêu (M. lyrata) phân bố chủ yếu ở
vùng biển ấm Tây Thái Bình Dƣơng từ biển Đài Loan đến Việt Nam. Ở Việt Nam chúng
phân bố chủ yếu ở khu vực Tây Nam Bộ nhƣ: Tiền Giang, Bến Tre, Sóc Trăng, Bạc Liêu,
Cà Mau, Trà Vinh [5].
Nghêu phân bố ở các bãi biển có nền đáy cát hay cát bùn, trong đó cát chiếm tỷ lệ từ
60-90% với kích cỡ hạt từ 0,006-0,25 mm [5]. Nghêu phân bố chủ yếu ở vùng trung triều
và hạ triều, nơi có độ dốc tƣơng đối bằng phẳng [18]. Theo Nguyễn Tác An và Nguyễn
Văn Lục (1994), nghêu phân bố ở những vùng thời gian phơi bãi từ 2–8 giờ/ngày. Độ sâu
cực đại tìm thấy nghêu lúc nƣớc ròng là 2,5 m, nơi có nền đáy cát mịn đến cát trung pha
lẫn hàm lƣợng bùn lỏng và xác hữu cơ (10-18%), vào mùa mƣa bùn lỏng bao phủ nền đáy
bãi nghêu (1,5-2,5 cm). Độ mặn đặc trƣng cho bãi nghêu dao động từ 7–25‰; pH nƣớc
6,5–8,5 và nhiệt độ là 26–32
o
C [1]. Nghêu con tập trung ở độ cao khoảng 0,8–1,5 m so
với số 0 hải đồ [41].
Theo nghiên cứu của Dƣơng Văn Hiệp (2005), nghêu phân bố rộng trên các bãi triều,
độ sâu khoảng từ 1,5-4 m, chất đáy là cát pha bùn, trong đó cát chiếm khoảng 50-80%.
Nếu đáy toàn bùn nghêu dễ bị chết ngạt dƣới bùn, đáy cát thuần nghêu không sống đƣợc
vì khô và nóng. Nghêu là loài sống đáy và dùng chân rất phát triển để đào cát vùi mình,
muốn hô hấp và dinh dƣỡng nghêu đƣa vòi lên mặt bãi và hình thành một lỗ nhỏ hình bầu
dục màu vàng nhạt, nhìn lỗ ta có thể biết chỗ ở của nghêu để khai thác. Vòi nghêu ngắn
nên nghêu không thể chui đƣợc sâu, chỉ cách mặt đất chừng vài phân. Khi trời nóng hoặc
lạnh nghêu chui xuống sâu nhƣng không quá 10 cm [11].
những loài tảo có kích thƣớc lớn, dạng sợi nhƣ Chaetoceros, Skeletonema,
Bacteriastrum, nghêu khó bắt đƣợc, cỡ hạt thức ăn đƣợc tìm thấy trong ruột nghêu tối 10
đa là 150µm. Thành phần, số lƣợng thức ăn trong dạ dày nghêu có sự biến động theo mùa,
mùa mƣa tháng 9-10 mùn bã hữu cơ tăng, tảo giảm và ngƣợc lại [18]. Theo Quayle &
Newkirk (1989), cỡ hạt thức ăn mà nhóm Bivalvia có thể bắt đƣợc là 10-100µm [60].
1.2.5. Đặc điểm sinh trưởng
Nghiên cứu của Nguyễn Việt Nam và Lê Thanh Lựu (2001) cho thấy, sức lớn của
nghêu liên quan chặt chẽ với môi trƣờng sống, nghêu sống ở vùng triều thấp sinh trƣởng
nhanh hơn vùng triều cao, ở vùng cửa sông có nhiều thức ăn, hàm lƣợng ôxy dồi dào nên
quá trình trao đổi chất mạnh, lƣợng bắt mồi tăng, nghêu sinh trƣởng nhanh. Nghêu dầu 1
tuổi trọng lƣợng cá thể 5-7 g, 4 tuổi 12 g, về sau tăng càng chậm. Hàng năm nghêu lớn
nhanh từ tháng 4 đến tháng 9, hai năm đầu lớn nhanh, nhìn chung nghêu không sống quá
4 tuổi [15].
Theo nghiên cứu của Trƣơng Quốc Phú (1999), tốc độ sinh trƣởng của nghêu theo
mùa, nhanh từ tháng 5 đến tháng 9 và chậm từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau [18].
Nhiệt độ tốt nhất cho nghêu sinh trƣởng và phát triển là 18-30
o
C, trong đó 25,5
o
C là
nhiệt độ tối ƣu cho sự hoạt động của các tơ mang. Nghêu có thể chết ở nhiệt độ < 1,5
o
C
hoặc > 41
o
C [15, 41].
Theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Xuân Thu (2003), giới hạn chịu nhiệt cao
Nghêu là loài phân tính đực cái, dựa vào hình dạng bên ngoài rất khó xác định giới
tính. Khi tuyến sinh dục thành thục, con cái có màu vàng, con đực có màu trắng sữa bao
phủ khắp nội tạng [31, 15]. Nghêu 1 năm tuổi có thể thành thục tuyến sinh dục, nghêu chỉ
thành thục 1 lần/năm [41]. Lƣợng trứng trong một con nghêu thành thục từ 4-6 triệu trứng
[20]. Mùa sinh sản của nghêu phụ thuộc vào từng vùng địa lý khác nhau, thƣờng từ tháng
5 đến tháng 9. Hoạt động sinh sản của cá thể đực và cái tƣơng tự nhau và diễn ra nhờ sự
co giãn của cơ khép vỏ, vỏ mở ra và khép lại nhanh, mạnh tạo thành lực ép đẩy tinh trùng
hoặc trứng thoát ra ngoài. Thông thƣờng con đực phóng tinh trùng sớm hơn con cái ở
cùng một thời gian kích thích (con đực phóng tinh từ 1-10 phút, con cái đẻ từ 10-20 phút
sau khi kích thích). Trong mỗi đợt đẻ, cá thể đực và cái đẻ từ 4-6 lần trong thời gian từ
20-30 phút, tinh trùng có màu trắng đục, trứng có màu vàng nhạt [11, 15].
Theo Nguyễn Tác An và Nguyễn Văn Lục (1994), nghêu sinh sản hai kỳ trong năm,
thời kỳ đầu vào tháng 3–5, thời kỳ thứ 2 vào lúc kết thúc mùa mƣa khoảng tháng 10–11
hàng năm [1]. Một số nghiên cứu khác, mùa sinh sản chính của nghêu từ tháng 5 đến
tháng 7 và mùa phụ từ tháng 11 đến tháng 1 năm sau (có năm không thấy xuất hiện mùa
phụ) với mật độ nghêu giống xuất hiện thấp hơn, tỷ lệ đực/cái trong tự nhiên là 1/1 [41].
Theo kết quả nghiên cứu của Trƣơng Quốc Phú (1999), tại vùng biển Tiền Giang
cho thấy: Nghêu cỡ 1,6 cm (500 mg) sau 12 tháng nuôi đạt trung bình 3,5 cm có thể thành
thục và tham gia sinh sản lần đầu tiên, sức sinh sản tuyệt đối trung bình của nghêu đạt từ
2.747.000-4.031.000 trứng/cá thể. Một số cá thể nghêu có hiện tƣợng lƣỡng tính, chiếm tỷ
lệ 6,82%. Nghêu ở Tiền Giang không sinh sản trong thời gian từ tháng 11-2 (lúc này
tuyến sinh dục ở giai đoạn 0, 1 và 2). Từ tháng 3 trở đi nghêu bắt đầu sinh sản, tập trung
từ tháng 3-6, rải rác từ tháng 7-10, tháng 6 là đỉnh điểm của mùa sinh sản, chỉ sinh sản
một lần trong năm [19].
1.3. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Nghêu (M. lyrata Sowerby, 1851) là loài nhuyễn thể 2 mảnh vỏ có giá trị kinh tế đƣợc
nhiều nƣớc trên thế giới khai thác giống tự nhiên và nuôi thƣơng phẩm. Nghêu phân bố chủ
yếu ở vùng biển ấm Tây Thái Bình Dƣơng từ biển Đài Loan đến Việt Nam, tập trung nhiều
ở Nam Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia, Philippine, Úc, Ấn Độ, Việt Nam [48].
ngoại trừ yếu tố nhiệt độ ao nuôi là ảnh hƣởng lớn đến tăng trƣởng của nghêu [52].
Theo nghiên cứu của Chien và Hsu (2006), kỹ thuật nuôi nghêu trong ao đất tại Đài
Loan đƣợc thí nghiệm trên nghêu M. lusoria với các nghiệm thức bố trí thành phần và
loại thức ăn bổ sung khác nhau. Để xác định loại thức ăn và tỷ lệ cho ăn tối ƣu tới tốc độ
tăng trƣởng, thí nghiệm đƣợc tiến hành trên 6 loại thức ăn bổ sung khác nhau: Bột đậu
nành, bột thịt cá, thức ăn thƣơng mại cho nghêu, men bánh mỳ, tảo Nannochloropsis 13
oculata và tảo Tetraselmis chui với tỷ lệ cho ăn của mỗi loại là 20, 200 và 633 gam/l.
Nghêu đƣợc bố trí thí nghiệm với các kích cỡ ban đầu là 7-11 g, 12-17 g và 18-26 g. Kết
quả thí nghiệm cho thấy, tỷ lệ hấp thụ thức ăn trên nghêu giảm dần theo các loại thức ăn
bổ sung là bột đậu nành, thức ăn thƣơng mại cho nghêu, bột thịt cá, men bánh mỳ, tảo
Nannochloropsis và tảo Tetraselmis chui [46].
Để phát triển nghề nuôi nghêu ở quy mô trong ao bền vững và thành công, Chien và
Hsu khuyến cáo nên bổ sung thành phần hỗn hợp các loại thức ăn nhân tạo nhằm tăng tỷ
lệ sống và tốc độ tăng trƣởng cho nghêu nuôi, quản lý ổn định ao nuôi nghêu có thức ăn
tự nhiên, nhằm bổ sung các khoáng vi lƣợng và các cơ chất đảm bảo chất lƣợng thịt sản
phẩm, tăng tỷ lệ sống, tăng khả năng kháng bệnh và năng suất nuôi.
Modassir (1990) nghiên cứu sinh trƣởng và sức sản xuất của M. casta ở cửa sông
Mandovi (Ấn Độ) cho thấy tốc độ sinh trƣởng trung bình là 3 mm/tháng, sức sản xuất
trung bình là 31,38 g/m
2
/năm (theo vật chất khô) và chỉ số B/P là 3,4 [56].
Ho (1991) nghiên cứu sinh trƣởng của M. lusoria nuôi trong ao và bể, cỡ giống thả
1g (chiều dài 15,9 mm) với 6 mật độ khác nhau từ 60–360 con/m
2
. Sau 11 tháng nuôi,
nghêu đạt 16,7 g (40,2 mm) ở lô nuôi trong ao, nghêu nuôi trong bể ở mật độ 60 và 360
con/m
(chiếm 78,82-90,38%), tảo chiếm tỷ lệ thấp (9,62-21,18%), trong đó một số giống loài
của tảo Silic Coscinodiscus, Cyclotella, Nitzschia chiếm 93,18%, tảo Lam 4,55%).
Thành phần thức ăn biến đổi theo mùa, mùa mƣa lƣợng mùn bã hữu cơ tăng, tảo giảm,
mùa khô biến đổi ngƣợc lại [19].
Trƣơng Quốc Phú (1999), tƣơng quan giữa chiều dài và khối lƣợng của nghêu là
Wtt=0,0138L
3,7639
(R
2
=0,9975) và Wthịt=0,0034L
3,6582
(R
2
=0,9959). Tốc độ sinh trƣởng
khối lƣợng nhanh hơn chiều dài, sinh trƣởng phần vỏ và phần thân mềm đồng thời trong
suốt vòng đời. Nghêu sinh trƣởng chậm từ tháng 10-4 và nhanh từ 5-9. Tốc độ sinh
trƣởng tuyệt đối 1,72 mm/tháng (73%) và 789,47 mg/tháng (27,02%), sinh trƣởng chậm
nhất vào khoảng tháng 12-1, nhanh vào tháng 7. Các yếu tố độ muối, sóng gió và hàm
lƣợng vật chất lơ lửng là những yếu tố chính ảnh hƣởng đến sinh trƣởng của nghêu [18].
Nghêu cỡ lớn có khả năng chịu đựng nồng độ muối thấp tốt hơn cỡ nghêu nhỏ, độ
mặn 4‰ là giới hạn giới của nghêu, 16‰ là độ mặn an toàn cho hoạt động sống của nghêu.
Trong môi trƣờng trao đổi nƣớc kém, tại thời điểm NH
3
có hàm lƣợng là 0,0256-0,0425
mg/l (N-NH
4
tổng số 1,033-1,333 mg/l) nghêu chết 50% sau 14-19 giờ. Nghêu cỡ lớn có
khả năng sống trong môi trƣờng khô tốt hơn nghêu cỡ nhỏ, thời gian sống của nhóm nghêu
có (chiều dài) L = 4,9 cm sau 97-191 giờ (trung bình 146 giờ), nhóm L = 3,8 cm sau 46-95
giờ (trung bình 76 giờ), nhóm L = 2,4 cm sau 59-73 giờ (trung bình 64 giờ) [18].
tấn/ 3.645 ha. Tuy nhiên, cho đến nay hình thức nuôi nghêu bãi triều vẫn chủ yếu dựa vào
kinh nghiệm, chƣa có quy trình hay tài liệu kỹ thuật chính thức. Mật độ nuôi trung bình
trong cả nƣớc là 120–150 con/m
2
, năng suất 5–6 tấn/ha; cao nhất Thái Bình mật độ nuôi >
300 con/m
2
, năng suất > 30 tấn/ha. Trong khi đó, nguồn giống phục vụ cho nuôi nghêu
thƣơng phẩm phần lớn dựa vào khai thác tự nhiên từ các bãi triều thuộc các tỉnh Tiền 16
Giang, Bến Tre, Cà mau, Bạc Liêu Tuy nhiên, do chƣa quản lý tốt nên nguồn nghêu
giống tự nhiên ngày một giảm dần, lƣợng giống sản xuất nhân tạo chỉ đạt khoảng 1 tỷ con.
Trong khi nhu cầu giống cần 22,5 tỷ con để nuôi trong 16 tháng, tính ra trong 1 năm (12
tháng) cần gần 17 tỷ nghêu giống [3].
1.4.2. Nuôi nghêu trong đầm, bể
Kỹ thuật nuôi nghêu giống, nghêu thịt của ngƣ dân các tỉnh Bến Tre, Tiền Giang
bằng hình thức nuôi trong các kênh mƣơng gần bãi triều hoặc trong ruộng có đáy cát bùn
dày trên 10 cm. Ƣơng nghêu giống từ cỡ 2-6 vạn con/kg, mật độ 8-20 triệu con/1.000 m
2
,
thu giống đạt kích thƣớc 800 con/kg; thả cỡ giống 400-600 con/kg sau 9-12 tháng nuôi
đạt 40-60 con/kg [19].
Kết quả nuôi nghêu trong ao nuôi tôm sú nhằm cải thiện tình trạng ô nhiễm môi
trƣờng, đa dạng hoá đối tƣợng và phát triển nuôi bền vững tại Thừa Thiên Huế cho thấy,
tốc độ sinh trƣởng có sự khác nhau về các vùng nuôi trong tỉnh, các khu vực thấp triều,
đáy cát, bùn và độ mặn ổn định 10‰, mực nƣớc 1,2 m, cỡ giống thả 150–200 con/kg, mật
độ 30–50 con/m
2