chiến lược phát triển ngành công nghiệp huyện quỳnh lưu đến năm 2020 - Pdf 25

i

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
HỒ NGHĨA ĐƯỜNGCHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN NGÀNH
CÔNG NGHIỆP HUYỆN QUỲNH LƯU
ĐẾN NĂM
2020

LUẬN VĂN THẠC SĨ Khánh Hòa – 2013

PGS. TS NGUYỄN THỊ KIM ANH
Khánh Hòa - 2013

i

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài “chiến lược phát triển ngành công nghiệp huyện
Quỳnh Lưu đến năm 2020” là công trình nghiên cứu của bản thân tôi và chưa được
công bố trên bất kỳ phương tiện thông tin nào. Mọi sự giúp đỡ để hoàn thành đề tài
nghiên cứu này đã được cảm ơn đầy đủ, các thông tin trích dẫn trong nghiên cứu này
đều đã được ghi rõ nguồn gốc.

Tác giả đề tài Hồ Nghĩa Đường
ii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU vi
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHIẾN LƯỢC VÀ CHIẾN

2.3.2 Thực trạng phát triển cụm công nghiệp, làng nghề TTCN huyện Quỳnh Lưu 41
2.4 Tình hình phát triển ngành công nghiệp ở các đơn vị cơ sở và bài học rút ra cho
huyện Quỳnh Lưu 45
2.4.1 Huyện Diễn Châu 45
2.4.2 Huyện Nghĩa Đàn 48
2.4.3 Tỉnh Đồng Nai 50
2.4.4 Bài học rút ra cho huyện Quỳnh Lưu 52
2.5 Những thuận lợi và khó khăn trong phát triển ngành công nghiệp 53
2.5.1 Thuận lợi 53
2.5.2 Khó khăn 54
2.6 Phân tích SWOT ngành công nghiệp huyện Quỳnh Lưu 55
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 59
CHƯƠNG 3: XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP
HUYỆN QUỲNH LƯU ĐẾN NĂM 2020 60
3.1 Mục tiêu, định hướng phát triển ngành công nghiệp huyện Quỳnh Lưu đến năm
2020 60
3.1.1 Mục tiêu phát triển ngành CN huyện Quỳnh Lưu đến năm 2020 60
3.1.2 Định hướng phát triển ngành CN huyện Quỳnh Lưu đến năm 2020 60
3.2 Căn cứ để đề xuất chiến lược 63
3.2.1 Căn cứ vào chiến lược phát triển CN Việt Nam giai đoạn 2011-2020 63
3.2.2 Căn cứ quy hoạch phát triển CN tỉnh Nghệ An giai đoạn 2011- 2020 64
3.2.3 Căn cứ kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội huyện Quỳnh Lưu đến năm 2020 65
3.2.4 Căn cứ vào điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thác thức của huyện 65
3.3 Chiến lược phát triển ngành CN huyện Quỳnh Lưu đến năm 2020 66
3.3.1 Các phương án chiến lược đề xuất 66
3.3.2 Lựa chọn chiến lược phát triển ngành công nghiệp huyện Quỳnh Lưu 68
3.4 Các giải pháp thực thi chiến lược 68
3.4.1 Giải pháp về vốn 68
iv
3.4.2 Giải pháp về khoa học và công nghệ 69

CN-TTCN : Công nghiệp-Tiểu thủ công nghiệp.
DN : Doanh nghiệp
GDP : Tổng sản phẩm quốc nội
GTSX : Giá trị sản xuất
GTTT : Giá trị tăng thêm
KCN : Khu công nghiệp
SWOT : Tập hợp các từ viết tắt những chữ cái đầu tiên của các từ Tiếng
Anh: Strengths, Weaknesses, Opportunities, Threats.
TNHH : Trách nhiệm hữu hạn
UBND : Ủy ban nhân dân
USD : Đô la Mỹ

vi

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

nguyên, môi trường, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, đưa nước ta trở thành một
nước công nghiệp. Muốn trở thành một nước công nghiệp, chúng ta cần phải có những
chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đúng đắn, dự báo được mức tăng trưởng của nước
ta mười, hai mươi năm sau. Và theo đúng yêu cầu của thời kỳ đổi mới là đẩy mạnh
công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, chúng ta cần có những chiến lược phát triển
lâu dài, chú trọng vào đẩy mạnh phát triển công nghiệp.
Việc đẩy mạnh phát triển ngành công nghiệp nói riêng và phát triển kinh tế - xã
hội nói chung có ý nghĩa rất quan trọng trong vấn đề tạo việc làm, nâng cao thu nhập,
thu hẹp và tiến tới xóa đói giảm nghèo, chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn theo
hướng giảm dần tỷ trọng nông nghiệp, tăng dần tỷ trọng công nghiệp – dịch vụ.
Để đạt được những kết quả đó, Việt Nam đã có đường lối, đề án phát triển công
nghiệp qua các giai đoạn 1991- 2000 và giai đoạn 2001- 2010. Hiện nay Việt Nam đã
và đang xây dựng chiến lược phát triển công nghiệp giai đoạn 2011- 2020.
Quỳnh Lưu là một huyện đồng bằng ven biển, nằm ở Đông Bắc tỉnh Nghệ An,
dân số đông và dân cư các xã vẫn còn nghèo. Để tiến hành công nghiệp hóa- hiện đại
hóa nông nghiệp nông thôn, một trong số những trọng tâm cần tập trung đầu tư để tăng
trưởng kinh tế là phát triển mạnh ngành công nghiệp, đặc biệt là phát triển cụm công
nghiệp. Đây cũng là thế mạnh mà huyện cần duy trì và phát triển, đúng theo tinh thần
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Nghệ An đã đề ra, và phù hợp với Chiến lược phát
kinh tế - xã hội 2011-2020 được Đại hội Đảng lần thứ XI thông qua.
Thời gian vừa qua đã có một số đề tài nghiên cứu về chiến lược phát triển
ngành công nghiệp ở các vùng khác nhau, nghiên cứu trên những khía cạnh khác nhau.
Song việc vận dụng các vấn đề lý luận về xây dựng chiến lược phát triển công nghiệp
trong nền kinh tế thị trường vào việc định hướng và phát triển ngành công nghiệp
huyện Quỳnh Lưu thì chưa có đề tài nào nghiên cứu một cách hệ thống. Mặt khác
trong bối cảnh hiện nay chúng ta đang tăng tốc để thu hẹp khoảng cách về phát triển
kinh tế so với các nước, chủ động hội nhập kinh tế khu vực và toàn cầu, thì việc
2
nghiên cứu các giải pháp để phát triển kinh tế - xã hội nói chung và ngành công nghiệp
huyện Quỳnh Lưu nói riêng cần được tiếp tục. Do đó, người nghiên cứu chọn đề tài:

3
phương pháp chuyên gia.
5. Ý nghĩa của đề tài.
Về mặt khoa học: đề tài đã góp phần hệ thống hóa và làm rõ hơn các vấn đề lý
luận về chiến lược phát triển công nghiệp, qua đó góp phần khẳng định vị trí, vai trò
chiến lược trong phát triển công nghiệp của huyện; góp phần xây dựng chiến lược phát
triển ngành công nghiệp huyện Quỳnh Lưu đến năm 2020 với tư tưởng chiến lược và
mục tiêu chiến lược rõ ràng.
Về mặt thực tiễn: đề tài phân tích trình độ phát triển của ngành công nghiệp
huyện Quỳnh Lưu, chỉ ra những lợi thế, hạn chế, cơ hội và thách thức trong tổng thể
nền công nghiệp cả nước. Qua đề tài, tác giả đề xuất một vài chiến lược phát triển
công nghiệp huyện Quỳnh Lưu đến năm 2020.
6. Kết cấu của đề tài.
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tài này
gồm 3 chương chính như sau:
Chương 1- Một số lý luận cơ bản về chiến lược và chiến lược phát triển ngành
công nghiệp.
Chương 1- Phân tích thực trạng phát triển ngành công nghiệp huyện Quỳnh Lưu
trong thời gian qua.
Chương 3- Xây dựng chiến lược phát triển ngành công nghiệp huyện Quỳnh
Lưu đến năm 2020.

của nó trong môi trường thay đổi, để đáp ứng nhu cầu thị trường và thỏa mãn mong
đợi của các bên hữu quan” [11].
 Theo Kenneth Andrews “chiến lược là những gì mà một tổ chức phải làm dựa
trên những điểm mạnh và yếu của mình trong bối cảnh có những cơ hội và cả những
mối đe dọa” [11].
Dù tiếp cận theo cách nào thì bản chất của chiến lược vẫn là phác thảo hình ảnh
5
tương lai của tổ chức trong lĩnh vực hoạt động và khả năng khai thác. Theo cách hiểu
này, thuật ngữ chiến lược được dùng theo ba ý nghĩa phổ biến nhất:
- Xác lập mục tiêu dài hạn của tổ chức
- Đưa ra các chương trình hành động tổng quát
- Lựa chọn các phương án hành động, triển khai phân bổ nguồn lực để thực hiện
mục tiêu đó.
Ngày nay, thuật ngữ chiến lược được sử dụng khá phổ biến ở Việt Nam trong
nhiều lĩnh vực, cả phạm vi vĩ mô cũng như vi mô, cũng có thể nói việc hoạch định
chiến lược và thực thi chiến lược thực sự đã trở thành nhiệm vụ hàng đầu và là một nội
dung, chức năng quan trọng của quản trị tổ chức.
Chiến lược công nghiệp là một kế hoạch tổng thể dài hạn (10 năm, 20 năm)
nhằm đạt được mục tiêu phát triển công nghiệp có khả năng cạnh tranh trên qui mô
toàn cầu, là định hướng và cách thức phát triển công nghiệp mang tính toàn cục; làm
cơ sở cho những hoạch định chính sách, định hướng xây dựng quy hoạch, kế hoạch
phát triển trung và ngắn hạn về kinh tế - xã hội của quốc gia [7].
Chiến lược phát triển công nghiệp giữ vị trí trọng yếu trong chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội vì công nghiệp giữ vai trò chủ đạo trong cơ cấu kinh tế. Một
chiến lược phát triển công nghiệp có hiệu quả phải đạt được sự duy trì và phát triển vị
thế cạnh tranh của ngành công nghiệp. Áp lực toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế
dần xóa bỏ những bảo hộ và các hàng rào trở ngại về thương mại và đầu tư, buộc các
ngành công nghiệp phải lựa chọn con đường duy nhất để tồn tại và phát triển bền vững
là tạo nên vị thế cạnh tranh.
Xét về nội dung, chiến lược phát triển hệ thống công nghiệp của đất nước

thức và cơ hội; dự báo sự biến động của môi trường kinh tế-xã hội; những tài liệu điều
tra cơ bản khác. Chính những căn cứ này sẽ là cơ sở để định ra các quan điểm, mục
tiêu và giải pháp chiến lược về phát triển công nghiệp [2].
1.1.2 Quan niệm về chiến lược phát triển ngành công nghiệp và năng lực
cạnh tranh ngành công nghiệp
 Chiến lược phát triển là hệ thống các phân tích, đánh giá và lựa chọn về quan
điểm, mục tiêu tổng quát định hướng phát triển các lĩnh vực chủ yếu của đời sống xã hội
và các giải pháp cơ bản trong đó bao gồm các chính sách về cơ cấu, cơ chế vận hành hệ
thống kinh tế- xã hội nhằm thực hiện mục tiêu đặt ra trong khoảng thời gian dài.
Chiến lược công nghiệp là một kế hoạch tổng thể dài hạn nhằm đạt được mục
tiêu phát triển công nghiệp có khả năng cạnh tranh trên quy mô toàn cầu, là định
hướng và cách thức phát triển công nghiệp mang tính toàn cục, làm cơ sở cho việc
7
hoạch định chính sách, định hướng xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển trung và
ngắn hạn nền kinh tế – xã hội của quốc gia.
Chiến lược phát triển công nghiệp giữ vị trí trọng yếu trong chiến lược phát
triển kinh tế – xã hội, vì công nghiệp giữ vai trò chủ đạo trong cơ cấu kinh tế. Nó xác
định tầm nhìn của một quá trình phát triển dài hạn, với sự nhất quán về con đường và
các giải pháp cơ bản để thực hiện. Một chiến lược phát triển công nghiệp có hiệu quả
phải đạt được sự duy trì và phát triển vị thế cạnh tranh của ngành công nghiệp.
 Hiện nay, thuật ngữ cạnh tranh đang được sử dụng một cách khá phổ biến.
Cạnh tranh có thể được hiểu một cách khá đơn giản là sự đấu tranh giữa các nhà sản
xuất, các doanh nghiệp, các tổ chức, nhằm dành điều kiện sản xuất và tiêu thụ có lợi
hơn, đó là cuộc đấu tranh nhằm thu được lợi nhuận.
Cần có cạnh tranh, vì: cạnh tranh buộc các chủ thể kinh tế phải thường xuyên
vươn lên về mọi phương diện trong kinh doanh, đồng thời nó cũng làm phá sản các
doanh nghiệp có phương thức làm ăn kém hiệu quả; và cạnh tranh có tính huỷ diệt, với
một nghĩa nào đó nó như quy luật tiến hoá của tự nhiên là loại thải những thành viên
yếu kém khỏi thị trường, duy trì và phát triển những thành viên tốt. Qua đó, hỗ trợ đắc
lực cho quá trình phát triển toàn xã hội.

1.1.3 Quan điểm, định hướng trong chiến lược phát triển ngành công nghiệp
Quyết Định 73/2006/QĐ-TTg - Phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển các
ngành công nghiệp Việt Nam theo các vùng lãnh thổ đến năm 2010, tầm nhìn đến năm
2020 đã nêu rõ quan điểm, định hướng phát triển công nghiệp Việt Nam như sau:
a) Quan điểm phát triển toàn ngành công nghiệp
Phát triển công nghiệp trên cơ sở phát huy tổng hợp nguồn lực của mọi khu vực
kinh tế, trong đó khu vực công nghiệp nhà nước giữ vai trò định hướng.
Phát triển công nghiệp theo hướng hình thành cân đối động, đảm bảo sự ưu tiên
phát triển các ngành, vùng phù hợp với nguồn lực và lợi thế trong từng thời kỳ và phù
hợp với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Phát triển công nghiệp phải bảo đảm tham gia một cách chủ động và hiệu quả
vào liên kết công nghiệp và hiệp tác sản xuất giữa các doanh nghiệp, giữa các ngành
và với các tập đoàn đa quốc gia trên thế giới.
Phát triển công nghiệp gắn chặt với phát triển dịch vụ; phát triển công nghiệp
nông thôn, tạo động lực trực tiếp cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông
nghiệp nông thôn, thúc đẩy nhanh quá trình đô thị hoá.
Phát triển công nghiệp gắn kết với các yêu cầu của phát triển bền vững, tiến bộ,
công bằng xã hội và bảo vệ môi trường.
9
Phát triển CN kết hợp với yêu cầu củng cố quốc phòng và an ninh quốc gia.
b) Quan điểm phát triển công nghiệp theo vùng, lãnh thổ
Phát huy lợi thế của từng vùng để phát triển theo cơ cấu kinh tế mở, gắn với
nhu cầu của thị trường trong và ngoài nước.
Các vùng kinh tế trọng điểm phát huy vai trò đầu tàu, phát triển nhanh theo
hướng chuyển dần sang các ngành công nghiệp có công nghệ và kỹ thuật cao, có giá
trị gia tăng cao, thúc đẩy phát triển các vùng khác.
Gắn các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động, công nghiệp chế biến
nông, lâm, hải sản với các vùng nguyên liệu và vùng nông thôn, miền núi.
c) Định hướng phát triển các khu công nghiệp, cụm công nghiệp
Tăng cường thu hút các nhà đầu tư để lấp đầy các KCN, CCN hiện có. Xem xét,

thực hiện chuyển dịch mạnh mẽ trong thời gian tới.
e) Định hướng phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ
Phát triển công nghiệp hỗ trợ là khâu đột phá để phát triển nhanh và bền vững
các ngành công nghiệp chủ lực của Việt Nam trong quá trình công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước từ nay đến năm 2020 đồng thời phù hợp với quá trình hội nhập kinh
tế quốc tế, phân công hợp tác quốc tế và phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ của nước
ta hiện nay.
Trên cơ sở chọn lọc, dựa trên tiềm năng, lợi thế so sánh của Việt Nam mà ta phát
triển công nghiệp hỗ trợ gắn với công nghệ tiên tiến có tính cạnh tranh quốc tế cao, gắn
liền với mục tiêu nâng cao giá trị gia tăng trong nước đối với sản phẩm công nghiệp xuất
khẩu, và phấn đấu trở thành một bộ phận trong dây chuyền sản xuất quốc tế.
Để phát triển công nghiệp hỗ trợ, ta phải phát huy tối đa năng lực đầu tư của
các thành phần kinh tế, đặc biệt là các đối tác chiến lược - các công ty, tập đoàn đa
quốc gia. Đưa công nghiệp hỗ trợ theo hướng tập trung theo từng nhóm ngành công
nghiệp để phát huy tối đa hiệu quả cạnh tranh.
f) Phát triển công nghiệp phải gắn với phát triển kinh tế bền vững
Phát triển kinh tế bền vững là sự tăng trưởng kinh tế một cách hợp lý, hiệu quả
mà bền vững; tốc độ tăng trưởng kinh tế không quá cao mà chỉ cần cao ở mức vừa
phải, đồng thời duy trì một cơ cấu kinh tế ngành phù hợp và có sự chuyển dịch cơ cấu
kinh tế theo hướng đi lên. Theo đó, tăng trưởng không chỉ hiểu đơn thuần là tăng thu
nhập bình quân đầu người, mà phải gắn với phát triển bền vững, chú trọng tới cả ba
nhân tố : kinh tế, xã hội và môi trường. Để duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong dài
hạn, tăng thu nhập cần phải gắn với tăng chất lượng cuộc sống hay tăng phúc lợi và
xóa đói nghèo. Tăng trưởng không nhất thiết phải đạt tốc độ quá cao, mà chỉ cần cao ở
11
mức hợp lý nhưng bền vững.
Hiện nay, ở một số quốc gia đang phát triển, tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng
năm rất cao, nhưng đi kèm với đó là những hậu quả cho thế hệ sau như cạn kiệt nguồn
tài nguyên, ô nhiễm môi trường. Đó là tăng trưởng nóng chứ không phải là tăng trưởng
bền vững.

Công nghiệp thúc đẩy nông nghiệp và dịch vụ phát triển theo hướng công
nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đối với nông nghiệp, công nghiệp vừa tạo ra thị trường, vừa
tạo ra những điều kiện cần thiết cho nông nghiệp phát triển bằng việc cung ứng máy
móc thiết bị, phân bón thuốc trừ sâu…. Đặc biệt công nghiệp chế biến làm tăng giá trị
và nâng cao sức cạnh tranh của các loại nông sản trên thị trường trong và ngoài nước.
Nhờ sự thúc đẩy cơ giới hóa, điện khí hóa trong nông nghiệp bằng các sản phẩm công
nghiệp đã làm cho nông nghiệp chuyển mình, năng suất lao động trong nông nghiệp
được nâng cao, chất lượng nông sản được đảm bảo. Phát triển công nghiệp góp phần
giải quyết việc làm cho 1 bộ phận lao động trong nông nghiệp. Vì vậy, công nghiệp có
vai trò to lớn để thực hiện công nghiệp hóa nông nghiệp và nông thôn
Đối với dịch vụ: công nghiệp tác động đến các ngành như giao thông vận tải,
thông tin liên lạc, thương mại, du lịch, đầu tư tài chính…Công nghiệp tạo điều kiện,
động lực cho các ngành dịch vụ phát triển. Khi công nghiệp phát triển các ngành dịch
vụ cũng phải phát triển theo để đáp ứng nhu cầu phát triển của công nghiệp. Từ nền
tảng những thành tựu, sản phẩm trong công nghiệp mà ngành dịch vụ mới có điều kiện
để phát triển. Công nghiệp là tác nhân quyết định đến sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa nền kinh tế - xã hội.
b) Công nghiệp góp phần đắc lực vào việc thay đổi phương pháp tổ chức,
phương pháp quản lý sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội
Trong quá trình phát triển của mình công nghiệp đã tác động mạnh mẽ vào việc
đổi mới tối ưu hóa phương pháp tổ chức sản xuất. Theo chiều dọc: tạo dựng các mối
liên hệ từ nơi khai thác hoặc nơi sản xuất nguyên liệu đến nơi chế biến và phân phối
sản phẩm. Và cả theo chiều ngang: tạo mối liên hệ trong 1 xí nghiệp chuyên môn hóa
mở mang sang nhiều xí nghiệp có liên hệ về sản phẩm và thị trường, mở rộng không
gian sản xuất và dịch vụ. Phương pháp sản xuất dây chuyền và sản xuất hàng loạt được
đẩy mạnh phát triển đã nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản xuất. Công nghiệp
cũng làm thay đổi người lao động. Rèn luyện cho họ tác phong công nghiệp từ nề nếp
sản xuất đến lề lối làm việc, từ cách suy nghĩ đến tác phong lao động. Thực sự công
nghiệp góp phần cải tạo xã hội và nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội.
13

khu chế xuất, khu công nghiệp tập trung, khu công nghệ cao … được thực hiện đã góp
phần giải phóng sức sản xuất, giải phóng sức lao động, tạo môi trường lành mạnh để
14
nhân dân đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, tạo và tự tạo việc làm. Qua đó, hằng
năm đã giải quyết việc làm cho hàng triệu lao động, tận dụng tối đa nguồn nhân lực
cho phát triển đất nước, từng bước nâng cao và cải thiện đời sống của nhân dân.
Sự phát triển công nghiệp là thước đo trình độ phát triển, biểu thị sự vững mạnh
của nền kinh tế. Phát triển công nghiệp là điều kiện quyết định để thực hiện thắng lợi
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển công nghiệp
a) Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên
Vị trí địa lý ảnh hưởng lớn tới việc lưa chọn và xây dựng các cơ sở công
nghiệp. Những nơi tập trung lượng khoáng sản lớn thì dĩ nhiên mật độ khu công
nghiệp, cụm công nghiệp ở đó sẽ lớn. Bởi khoáng sản là một trong những nguồn tài
nguyên thiên nhiên quý giá, có ý nghĩa hàng đầu. Số lượng, chủng loại, trữ lượng, chất
lượng khoáng sản trên lãnh thổ sẽ chi phối quy mô, cơ cấu và tổ chức các xí nghiệp
công nghiệp, các cụm công nghiệp và khu công nghiệp.
Khí hậu và nguồn nước là yếu tố tự nhiên có tác động không nhỏ tới hoạt động
của các ngành công nghiệp khai khoáng, công nghiệp sản xuất. Mức độ thuận lợi hay
khó khăn trong việc cung cấp hoặc thoát nước là điều kiện quan trọng để định vị, xây
dựng các xí nghiệp, các cụm và khu công nghiệp. Ngoài ra về nhân tố tự nhiên còn có
đất, rừng, biển là nơi xây dựng các cơ sở công nghiệp. Yếu tố này ảnh hưởng tới quy
mô, công tác thiết kế và chi phí xây dựng các cơ sở công nghiệp. Rừng và biển còn
cung cấp nguyên liệu cho một số ngành công nghiệp.
b) Điều kiện kinh tế - xã hội
Dân cư và nguồn lao động: Nơi nào có nguồn lao động dồi dào thì ở đó khả
năng để phân bố và phát triển những ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động.
Tiến bộ khoa học công nghệ: tạo ra những khả năng mới về sản xuất, đẩy nhanh
tốc độ phát triển một số ngành, làm tăng tỷ trọng của các ngành đó trong tổng thể toàn
ngành công nghiệp, làm cho việc khai thác sử dụng tài nguyên và phân bố các ngành

các doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm tương tự nhau hoặc có liên quan gần gũi với
nhau trong một khu vực nhỏ [7], [8], [9].
Như vậy theo quan điểm thế giới, cụm công nghiệp có hai đặc điểm chung là sự
tập trung về mặt địa lý và của doanh nghiệp có quan hệ mật thiết, liên đới với nhau
trong cạnh tranh.
Tại Việt Nam, trước khi có quy chế thành lập và quản lý cụm công nghiệp, khái
niệm cụm công nghiệp thường gắn liền với khái niệm khu công nghiệp. Cụm công
nghiệp có thể là các khu công nghiệp vừa và nhỏ được hình thành ngoài quy định của
16
Chính phủ theo Nghị định 36/CP ngày 24/4/1997, tức là các khu công nghiệp không
nằm trong quy hoạch được Chính phủ phê duyệt thành lập, mà do chính quyền địa
phương ra quyết định thành lập. Một quan điểm khác lại cho rằng cụm công nghiệp là
địa điểm đã phát triển công nghiệp trước đây, nay quy hoạch lại để phát triển theo mô
hình khu công nghiệp.
Ngày 19/08/2009, Thủ tướng đã ban hành Quyết định số 105/2009/QĐ – TTg
về việc ban hành Quy chế thành lập và quản lý Cụm công nghiệp thống nhất trên cả
nước. Theo Quy chế này, Cụm công nghiệp là khu vực tập trung các doanh nghiệp, cơ
sở sản xuất công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp, cơ sở dịch vụ phục vụ sản xuất sản xuất
công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp; có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh
sống; được đầu tư chủ yếu nhằm di dời, sắp xếp, thu hút các cơ sở sản xuất, các doanh
nghiệp nhỏ và vừa, các cá nhân, hộ gia đình ở địa phương vào đầu tư sản xuất, kinh
doanh; do UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định thành lập.
Cụm công nghiệp được thành lập khi đáp ứng các điều kiện sau đây:
- Có trong quy hoạch phát triển Cụm công nghiệp đã được phê duyệt.
- Có khả năng đạt tỷ lệ lấp đầy > 30% trong một năm sau khi thành lập.
Xuất phát từ thực tế tình hình phát triển công nghiệp hiện nay ở Việt Nam, có thể
cho rằng cụm công nghiệp là một dạng khu công nghiệp với quy mô nhỏ, có ranh giới
địa lý xác định, tập trung các doanh nghiệp sản xuất có liên quan hoặc tương tự nhau.
Theo quan điểm trên, mặc dù cụm công nghiệp được nhìn nhận là một khu công
nghiệp – khu tập trung các doanh nghiệp công nghiệp chuyên sản xuất hàng công

các doanh nghiệp có thể sản xuất những sản phẩm có mối liên hệ với nhau, tạo điều
kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh và tạo quan hệ hợp tác trong toàn
cụm công nghiệp.
Tại Việt Nam hiện nay, mặc dù mô hình cụm công nghiệp còn khá mới mẻ,
nhưng kể từ loại hình làng nghề hay cụm công nghiệp hiện đại, đều có thể thấy rõ đặc
điểm này.
d) Tạo cơ sở hạ tầng đồng bộ
Các cụm công nghiệp đều xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng tạo điều kiện thuận
lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh như đường sá, cầu cống, hệ thống điện nước…
tạo thuận lợi cho việc liên kết, kết nối, vận tải, thông tin liên lạc, các yếu tố đầu vào
của các doanh nghiệp. Rõ ràng yếu tố cơ sở hạ tầng hiện đại và đồng bộ là yếu tố gắn
liền với sự phát triển của cụm công nghiệp.
1.3.3 Phân loại cụm công nghiệp
Phân loại cụm công nghiệp theo hình thức tổ chức gồm cụm công nghiệp làng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status