BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
NGUYỄN SỸ THÀNH
DỰ BÁO NHU CẦU GIÁO VIÊN CÁC TRƯỜNG
TRUNG CẤP NGHỀ TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH KHÁNH HÒA ĐẾN NĂM 2020
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Khánh Hòa - 2013 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
LỜI CAM ĐOAN
Tác giả cam đoan số liệu trong bài viết này là chính xác, trung thực. Đề tài “Dự
báo nhu cầu giáo viên các trường trung cấp nghề trên địa bàn Tỉnh Khánh Hòa
đến năm 2020” được trình bày là nghiên cứu của tác giả, chưa được ai công bố trong
bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận văn Nguyễn Sỹ Thành
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC SƠ ĐỒ viii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT ix
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ LAO ĐỘNG – VIỆC LÀM 8
1.1. CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ LAO ĐỘNG – VIỆC LÀM 8
1.1.1. Lao động 8
1.1.1.1. Một số khái niệm và phạm trù có liên quan 8
1.1.1.2. Phương pháp xác định nguồn lao động 8
1.1.2. Việc làm 10
1.1.2.1. Việc làm, phân loại việc làm 10
1.1.2.2. Tạo việc làm 11
1.2. THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG 12
1.2.1. Khái niệm 12
1.2.2. Các yếu tố cấu thành TTLĐ 12
1.2.2.1. Cung về lao động 13
1.2.2.2. Cầu về lao động 13
1.2.3. Chính sách TTLĐ 14
1.2.3.1. Chính sách TTLĐ chủ động 14
1.2.3.2. Chính sách TTLĐ thụ động 15
3.1.1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 32
3.1.2. Đặc điểm KT-XH 32
3.1.2.1. Về tăng trưởng kinh tế 32
3.1.2.2. Về chuyển dịch cơ cấu kinh tế 33
3.1.2.3. Về đầu tư phát triển 34
3.1.3. Đặc điểm NNL Tỉnh Khánh Hòa 34
3.1.3.1. Hiện trạng về số lượng 34
3.1.3.2. Hiện trạng chất lượng nhân lực 35
3.1.3.3. Hiện trạng đào tạo nhân lực 37
3.1.3.4. Các điều kiện đảm bảo phát triển đào tạo nhân lực 39
3.1.3.5. Kết quả đào tạo nhân lực 42 v
3.2. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KT-XH VÀ GIÁO DỤC CỦA TỈNH KHÁNH
HÒA ĐẾN NĂM 2020 43
3.2.1. Định hướng phát triển KT-XH đến năm 2020 43
3.2.2. Định hướng phát triển dạy nghề Tỉnh Khánh Hòa đến năm 2020 44
3.2.2.1. Đầu tư phát triển cơ sở dạy nghề 45
3.2.2.2. Nâng cao chất lượng đào tạo 45
3.2.2.3. Xây dựng đội ngũ GV dạy nghề 46
3.2.2.4. Đẩy mạnh công tác xã hội hóa đào tạo nghề 46
3.2.2.5. Liên kết đào tạo 46
3.3. THỰC TRẠNG VỀ ĐỘI NGŨ GV CÁC TRƯỜNG TRUNG CẤP NGHỀ TẠI
TỈNH KHÁNH HÒA 46
3.3.1. Khái quát các trường TCN tại Tỉnh Khánh Hòa 46
3.3.2. Thực trạng đội ngũ GV các trường TCN tại Tỉnh Khánh Hòa 48
3.3.2.1. Số lượng tuyển sinh 48
3.3.2.2. Số lượng GV 49
4.1.2.2. Mục tiêu phát triển NNL 65
4.1.3. Nhu cầu ĐTN đến năm 2020 67
4.1.4. Nhu cầu GV dạy nghề 68
4.2. HỆ THỐNG CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TẠI
CÁC TRƯỜNG TRUNG CẤP NGHỀ ĐẾN NĂM 2020 69
4.2.1. Nhóm giải pháp phát triển NNL 69
4.2.1.1. Các giải pháp tác động đến cung lao động 69
4.2.1.2. Các giải pháp về cầu lao động 70
4.2.1.3. Đổi mới công tác dự báo, kế hoạch hoá lao động-việc làm 71
4.2.1.4. Tạo lập sự phối hợp, tương trợ giữa 4 bên (nhà nước–nhà trường–nhà
doanh nghiệp–người học) trong quá trình phát triển NNL 71
4.2.2. Nhóm giải pháp phát triển đội ngũ GV tại các trường TCN 72
4.2.2.1. Đầu tư phát triển cơ sở dạy nghề 72
4.2.2.2. Giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo 72
4.2.2.3. Giải pháp xây dựng đội ngũ GV 72
4.2.2.4. Giải pháp đẩy mạnh công tác xã hội hóa đào tạo nghề 73
4.2.2.5. Giải pháp liên kết đào tạo 73
Tóm tắt Chương 4 74
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
PHỤ LỤC I vii
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1. Một số chỉ tiêu kinh tế Tỉnh Khánh Hòa thời kỳ 2009-2012 33
Bảng 3.2. Quy mô dân số tỉnh Khánh Hoà giai đoạn 2005 – 2012 34
Bảng 3.3. Trình độ học vấn của LLLĐ giai đoạn 2005-2012 35
ix
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
1
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong những năm qua, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, sự nghiệp dạy
nghề đã được phục hồi, ổn định và có bước phát triển, đáp ứng tốt hơn nhu cầu nhân
lực kỹ thuật của TTLĐ. Tuy nhiên, dạy nghề vẫn còn nhiều khó khăn, tồn đọng nhiều
vấn đề và là mối quan tâm của toàn xã hội. Do thiếu quy hoạch hệ thống đào tạo nghề,
cho nên đào tạo nghề hiện nay hầu như là tự phát, cơ cấu ngành nghề và dạy nghề mất
cân đối, phân tán, chưa gắn kết với nhu cầu thực tế, không đáp ứng nhu cầu chuyển
dịch kinh tế. Số trường dạy nghề có nhiều nhưng nhìn chung quy mô nhỏ. Hơn nữa
đào tạo nghề chưa thích ứng với TTLĐ, NNL chưa đáp ứng nhu cầu phát triển của các
khu công nghiệp - khu chế xuất cả về số lượng và chất lượng, lạc hậu so với các nước
trong khu vực, chưa có chính sách thu hút trọng dụng người tài, tạo môi trường cạnh
tranh, công bằng lành mạnh.
Trước những yêu cầu về NNL chất lượng cao cho công cuộc đổi mới và hội
nhập, đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên trong các trường nghề có vai trò hết sức quan
trọng. Đội ngũ này sẽ là yếu tố quyết định chất lượng của các trường nghề. Thực trạng
đội ngũ giáo viên ở hầu hết các trường nghề của Tỉnh Khánh Hòa đang còn nhiều bất
cập, không chỉ thiếu về số lượng mà còn yếu cả về chuyên môn, nghiệp vụ, mất cân đối
giữa các môn học, bậc học và kiến thức sư phạm. Để khắc phục tình trạng trên, Tổng
cục dạy nghề đã đề ra mục tiêu: xây dựng nhà giáo và cán bộ quản lý theo hướng chuẩn
hoá, nâng cao chất lượng, đảm bảo đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú
trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống và trình độ chuyên môn.
Nhìn lại quá trình phát triển có thể thấy từ năm 1999 trở về trước, hệ thống dạy
nghề của Tỉnh Khánh Hòa hầu như không có sự thay đổi, thậm chí tại một số thời điểm
còn bị thu hẹp. Từ năm 2001 đến nay, được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo UBND
Giai đoạn cuối thế kỷ XX chứng kiến sự phát triển đáng kinh ngạc của một nhóm
các nước đang phát triển ở Đông Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan và sau đó là
các nước như Thái Lan, Malaysia. Quá trình phát triển của các nền kinh tế này được
biết tới như là quá trình tích lũy năng lực kỹ thuật. Để trở thành một nước công nghiệp
tiên tiến, các nước dang phát triển cần trải qua bốn giai đoạn, đó là tiền đề công nghiệp
hóa (pre-industrialization) (hay còn gọi là khởi động – start-up), thẩm thấu
(assimilation), tích lũy (accumulation) và đổi mới (innovation) (mô hình đã điều chỉnh
dựa vào Hobday 1995, Kim and Lee 2002, Xie and Wu 2003, Kim 2004). Cùng với
quá trình phát triển kinh tế tại các nước đang phát triển là quá trình nâng cấp nguồn
nhân lực, nhân tố cốt lõi để xây dựng năng lực kỹ thuật của các doanh nghiệp, ngành 3
và cả nền kinh tế (Barney 1991, Bell and Pavitt 1995). Kinh nghiệm thành công của
các nước đang phát triển cuối thế kỷ XX đã khẳng định vai trò sống còn của việc tạo
dựng năng lực kỹ thuật cho các nước đang phát triển để phát triển ổn định và lâu dài
(Hobday 1995, Mahmood and Singh 2003) như tại Nhật Bản sau thế chiến II, Hàn
Quốc, Đài Loan và Singapore vào những năm 1970, 1980. Trong khi đó, còn hơi sớm
để nói rằng các nước như Thái Lan hay Malaysia đã đạt được thành công trong việc
thoát khỏi vị thế các nước đang phát triển (Ohno 2005).
Mô hình chuẩn của Hecksher-Ohlin về thương mại quốc tế dự báo rằng đối với
một nền kinh tế đang phát triển thì ở đó lao động không có kỹ năng dư thừa nhưng lại
thiếu thốn và lao động có kỹ năng. Thực hiện tự do hóa thương mại sẽ làm tăng cầu
lao động không có kỹ năng trong khi cầu về vốn và lao động có kỹ năng lại giảm do cơ
cấu của cầu lao động lại thay đổi. Trong khi đó nghiên cứu của Robin; của Wood lại
cho rằng tự động hóa thương mại có thể gắn với sự chuyển giao các công nghệ tiên
tiến hơn hoặc nhập những thiết bị máy móc không chỉ tạo ra NSLĐ cao hơn mà đòi
hỏi nhiều kỹ năng để vận hành chúng ở các nền kinh tế áp dụng công nghệ tiến tiến.
Theo Robin (1995), tăng mở cửa ở các nước đang phát triển ảnh hưởng đến cơ cấu kỹ
giả phân tích thực trạng NNL cho phát triển công nghiệp Tỉnh Khánh Hòa, đề xuất
nhóm giải pháp đồng bộ về hoàn thiện cơ chế, chính sách; nâng cao hiệu quả sử dụng
lao động; tạo nguồn và cải thiện chất lượng cung lao động; và gắn kết cung - cầu lao
động công nghiệp.
- Sở LĐTB&XH Tỉnh Khánh Hòa (2010), đã lập “Báo cáo quy hoạch dạy
nghề Tỉnh Khánh Hòa giai đoạn tới năm 2010, cho thấy thực trạng đào tạo nghề và
phát triển NNL trên địa bàn Khánh Hòa, bộc lộ một số tồn tại như: (i) Hệ thống các cơ
sở đào tạo chưa đáp ứng được về kỹ năng nghề, cơ cấu nghề; (ii) Các cơ sở đào tạo
nghề được thành lập từ những năm của của thập kỷ 80 và trước đó theo nhu cầu của
Bộ, ngành và cơ quan địa phương nên không còn phù hợp trong thời kỳ mới; (iii) Quy
mô của các cơ sở đào tạo còn nhỏ, chất lượng đào tạo không cao, trang thiết bị cho đào
tạo nghề vừa thiếu, lạc hậu so với công nghệ hiện tại rất nhiều, chương trình đào tạo và
phương pháp đào tạo còn chậm đổi mới, chưa thích ứng với sản xuất; (iv) Các điều
kiện đảm bảo còn nhiều hạn chế, đội ngũ giáo viên còn thiếu về số lượng, một bộ phận
chưa đạt chuẩn quy định; (v) Các cơ sở đào tạo nghề chưa phân bổ hợp lý dẫn đến mất
cân đối về cơ cấu và số lượng nghề. Trên cơ sở đánh giá thực trạng, dự báo nhu cầu
(đào tạo và hệ thống cơ sở dạy nghề), tập trung đã đưa ra lộ trình và giải pháp thực
hiện quy hoạch dạy nghề trên địa bàn tỉnh trong thời gian tới như: (i) Hoàn thiện thể
chế, chính sách (của nhà nước và địa phương) liên quan đến dạy nghề; (ii) Đẩy mạnh 5
xã hội hóa dạy nghề; (v) Đầu tư phát triển cơ sở vật chất; (iv) Phát triển chương trình
đào tạo; (vii) Hoàn thiện đội ngũ cán bộ giáo viên dạy nghề (số lượng và chất lượng).
Quy hoạch mạng lưới dạy nghề của Khánh Hòa là một trong những tiền đề cơ bản và
quan trọng tác động tích cực tới chương trình phát triển NNL nói chung và Quy hoạch
phát triển NNL ngành công nghiệp nói riêng trên địa bàn tỉnh trong giai đoạn tới với
bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng.
Nhìn chung, các lý thuyết cũng như các nghiên cứu lý luận cũng chưa đi đến
hợp, phân tích, điều tra, thống kê, phương pháp chuyên gia,… trong đó phương pháp
định lượng được sử dụng chủ yếu trong nghiên cứu.
6. Ý NGHĨA NGHIÊN CỨU
6.1. Đóng góp về mặt khoa học
Đề tài nghiên cứu hệ thống lý luận về lao động – việc làm, từ đó đề xuất mô hình
dự báo nhu cầu giáo viên thông qua các nhân tố: (i) Chuyển dịch cơ cấu kinh tế; (ii)
Nhu cầu lao động qua đào tạo nghề; (iii) Nhu cầu ĐTN; (iv) Nhu cầu giáo viên ĐTN.
Qua đó, tác giả tiến hành dự báo nhu cầu GV tại các trường TCN trên địa bàn Tỉnh
Khánh Hòa.
6.2. Đóng góp về mặt thực tiễn
Kết quả nghiên cứu qua tính toán và dự báo thu được là cơ sở quan trọng trong
việc xây dựng bức tranh toàn cảnh chung về nhu cầu giáo viên tại các cơ sở dạy nghề
hệ trung cấp cần thiết đảm bảo cho việc thực hiện thành công những định hướng và kế
hoạch phát triển NNL, giải quyết việc làm tại Tỉnh Khánh Hòa giai đoạn đến năm
2020, qua đó làm cơ sở hoạch định cho việc xây dựng mục tiêu (định lượng) và đề
xuất các giải pháp phát triển nhân lực có tính khoa học và thực tiễn cao.
7. CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, tài liệu tham khảo và phụ lục, kết quả nghiên cứu của luận
văn được trình bày trong bốn chương:
- Chương 1: Cơ sở lý thuyết về lao động – việc làm; hệ thống hóa lý thuyết về
thị trường lao động, và phát triển NNL; trình bày các yếu tố tác động đến phát triển
NNL (Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế; Sử dụng lao động; Giáo dục đào
tạo; Dịch vụ việc làm; Yếu tố khoa học – công nghệ; Xu hướng toàn cầu hóa và hội
nhập; Yếu tố kinh tế thị trường); và xác định các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu giáo
viên tại các trường TCN.
- Chương 2: Phương pháp nghiên cứu; tác giả trình bày quan điểm dự báo theo
Nghị quyết của Tỉnh Khánh Hòa và Quy hoạch phát triển NNL Tỉnh Khánh Hòa giai
đoạn 2011 – 2020; mô tả quy trình nghiên cứu; phương pháp dự báo áp dụng là ngoại 8
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ LAO ĐỘNG – VIỆC LÀM
1.1. CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ LAO ĐỘNG – VIỆC LÀM
1.1.1. Lao động
1.1.1.1. Một số khái niệm và phạm trù có liên quan
- Người lao động là lực lượng về con người và được nghiên cứu dưới nhiều
khía cạnh. Trước hết với tư cách là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, bao gồm
toàn bộ dân số có thể phát triển bình thường cả về thể lực lẫn trí lực (không bị khiếm
khuyết, dị tật bẩm sinh).
- Nguồn lao động là nguồn lực cách mạng nhất, quan trọng nhất quyết định tới
sự phát triển KT-XH được hiểu theo nghĩa hẹp hơn, bao gồm nhóm dân cư trong độ
tuổi lao động có khả năng lao động. Nguồn lao động được xem xét trên hai góc độ số
lượng và chất lượng. Số lượng nguồn lao động được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu:
quy mô và tốc độ phát triển nguồn lao động. Chất lượng nguồn lao động được xem xét
trên các mặt: sức khoẻ, trình độ văn hoá, trình độ chuyên môn, năng lực phẩm chất.
1.1.1.2. Phương pháp xác định nguồn lao động
Việc xác định quy mô, cơ cấu nguồn lao động được thực hiện thông qua các
cuộc tổng điều tra dân số hoặc điều tra thực trạng lao động và việc làm hàng năm.
Phương pháp xác định cũng được quy định cụ thể và áp dụng cho từng thời kỳ.
a. Dân số trong độ tuổi lao động
Để có thể sống và phát triển, con người phải tiêu dùng một lượng của cải nhất
định dưới nhiều dạng như: lương thực, thực phẩm, vải vóc, nhà cửa, phương tiện thông
không có thời hạn mà không được trả công ở những nơi mà cơ hội kiếm việc làm rất
hạn hẹp. Khối thất nghiệp cũng bao gồm những người không có việc làm, có khả năng
lao động mặc dù họ không tích cực kiếm việc làm vì họ tin rằng không có cơ hội làm
việc nào mở ra đối với họ.
c. Dân số không hoạt động kinh tế
Khối này bao gồm các nhóm sau:
- Người làm việc nhà: Gồm những người không phân biệt giới tính, không
thuộc dân số hoạt động kinh tế, tham gia vào các hoạt động trong phạm vi gia đình của
chính họ. Ví dụ: người làm việc nội trợ hoặc trông nom nhà cửa con cái (những người
được thuê giúp việc nhà có trả công thì lại được coi là có hoạt động kinh tế).
- Học sinh, sinh viên: Gồm tất cả mọi người không phân biệt giới tính đang
tham gia học tập thường xuyên, không kể trường công trường tư hay các khoá huấn
luyện ở bất kỳ cấp giáo dục nào. 10
- Người hưởng lợi tức, hưởng thu nhập mà không làm việc: Gồm tất cả
những người không phân biệt giới tính, không thuộc khối dân số hoạt động kinh tế,
nhưng thu nhập do đầu tư, do có tài sản cho thuê, do tiền bản quyền hay phát minh
sáng chế, tiền tác giả, tiền lương hưu do các năm làm việc trước đó.
- Các người khác: Gồm tất cả những người khác không phân biệt giới tính,
không thuộc khối dân số hoạt động kinh tế nhưng được trợ cấp hoặc được nhận các
khoản hỗ trợ có tính tư nhân khác và những người không thuộc bất kỳ một diện nào
trong các diện kể trên, chẳng hạn như trẻ em không hoặc chưa đi học.
d. Người thất nghiệp
Là người có tuổi nằm trong tuổi lao động, có khả năng lao động và có nhu cầu
lao động nhưng không có việc làm trong thời điểm xác định của cuộc điều tra.
1.1.2. Việc làm
1.1.2.1. Việc làm, phân loại việc làm
trở lên trong nhóm hoạt động kinh tế mà trong tuần lễ trước điều tra không có việc làm
nhưng có nhu cầu làm việc.
1.1.2.2. Tạo việc làm
Lao động là nguồn lực quan trọng để phát triển đất nước. Giải quyết việc làm
cho NLĐ vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển. Đảng và Nhà nước ta luôn luôn
quan tâm đến vấn đề việc làm cho NLĐ, hàng năm đang nỗ lực tạo những điều kiện
cần thiết, hỗ trợ tài chính, cho vay vốn hoặc miễn, giảm thuế và áp dụng các biện pháp
khuyến khích để NLĐ có khả năng tự giải quyết việc làm, để các tổ chức, đơn vị và
các cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế phát triển theo cả chiều rộng và chiều sâu
nhằm tạo việc làm cho ngày càng nhiều NLĐ có việc làm.
Như vậy, để có việc làm trước hết cần hai yếu tố là sức lao động và điều kiện
cần thiết để sử dụng sức lao động, trong đó bao gồm cả yếu tố xã hội. Như vậy, việc
làm là phạm trù dùng để chỉ trạng thái phù hợp với sức lao động và những điều kiện sử
dụng sức lao động đó. Trạng thái phù hợp thể hiện thông qua tỷ lệ chi phí ban đầu với
chi phí lao động. Quan hệ tỷ lệ này phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản
xuất. Khi trình độ đó thay đổi thì tỷ lệ đó thay đổi theo. Chính vì vậy, quá trình tạo
việc làm là quá trình tạo ra của cải vật chất.
Có thể mô phỏng quy mô tạo việc làm theo phương trình sau:
Y = f (C,V,X ). Trong đó:
Y: Số lượng việc làm được tạo ra.
C: Vốn đầu tư.
V: Sức lao động.
X: Thị trường tiêu thụ sản phẩm 12
Vậy, muốn tạo việc làm cho lao động trong lĩnh vực công nghiệp thì phải bỏ vốn
đầu tư xây dựng nhà xưởng, mua máy móc thiết bị, công cụ, nguyên vật liệu, thuê
công nhân và thị trường cho sản phẩm đầu ra và sản phẩm đầu vào của quá trình sản
13
quyết định tính cạnh tranh của TTLĐ: Khi bên cung sức lao động lớn hơn nhu cầu về
loại hàng hóa này, thì bên mua ở vào địa vị có lợi hơn trên TTLĐ (thị trường của bên
mua). Ngược lại, nếu cầu về sức lao động trên thị trường lớn hơn cung (thị trường của
bên bán) người bán sẽ có lợi thế hơn, có nhiều cơ hội lựa chọn công việc, giá cả sức
lao động được nâng cao (Trần Xuân Cầu, Mai Quốc Chánh, 2008).
1.2.2.1. Cung về lao động
Là tổng nguồn sức lao động do NLĐ tự nguyện đem ra tham dự vào quá trình tái
sản xuất xã hội, tức tổng số nhân khẩu trong độ tuổi lao động, có năng lực lao động, và
cả tổng số nhân khẩu không nằm trong độ tuổi lao động, nhưng trong thực tế chính
thức tham gia vào quá trình tái sản xuất xã hội.
Thông thường, khi nói đến cung trên TTLĐ, người ta thường phân biệt rõ thành
hai phạm trù: cung thực tế và cung tiềm năng.
- Cung thực tế về lao động: Gồm tất cả những người đủ 15 tuổi trở lên đang
làm việc và những người thất nghiệp;
- Cung tiềm năng về lao động: Gồm những người đủ 15 tuổi trở lên đang làm
việc, những người thất nghiệp, những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao
động nhưng đang đi học, đang làm công việc nội trợ, hoặc không có nhu cầu làm việc.
Các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến cung lao động là: quy mô và tốc độ tăng dân số,
quy định về độ tuổi lao động, tình trạng tự nhiên của NLĐ, tỷ lệ tham gia của LLLĐ
vào TTLĐ và một số nhân tố khác.
1.2.2.2. Cầu về lao động
Là nhu cầu về sức lao động của một quốc gia, một địa phương, một ngành hay
một doanh nghiệp trong một khoảng thời gian nhất định, nhu cầu này thể hiện qua khả
năng thuê mướn lao động trên TTLĐ. Về mặt lý thuyết, cầu về lao động cũng được
phân chia thành hai loại: cầu thực tế và cầu tiềm năng.
- Cầu thực tế về lao động: Là nhu cầu thực tế về lao động cần sử dụng tại một
thời điểm nhất định, thể hiện qua số lượng chỗ làm việc trống và chỗ làm việc mới.
- Cầu tiềm năng về lao động: Là nhu cầu về lao động cho tổng số chỗ làm việc
vụ tư vấn cho người thất nghiệp, câu lạc bộ tìm việc; các chương trình đào tạo kỹ năng
tìm việc; hỗ trợ chuẩn bị hồ sơ xin việc, v.v Dịch vụ việc làm có thể do các cơ quan
nhà nước và các tổ chức tư nhân cùng đảm nhiệm, với mục đích bổ sung cho nhau.
Trong khi các tổ chức dịch vụ việc làm của Nhà nước thường chú ý nhiều hơn đến việc
hỗ trợ các nhóm yếu thế (người tàn tật, phụ nữ), và thường thực hiện dưới dạng miễn
phí, thì tại các tổ chức tư nhân, dịch vụ này chủ yếu phục vụ các nhóm lao động có tay
nghề cao, công nhân cổ trắng hoặc những người đang có việc nhưng muốn tìm việc