MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BIỂU
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
TÓM TẮT LUẬN VĂN
MỞ ĐẦU
1
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU LAO ĐỘNG
THEO NGÀNH
3
1.1. Tổng quan về cơ cấu lao động theo ngành 3
1.2. Chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành 8
1.3. Sự cần thiết phải chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành ở các địa
phương vùng đồng bằng Sông Hồng
26
1.4. Kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu lao động của Trung Quốc và Hàn Quốc 29
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU LAO ĐỘNG THEO
NGÀNH TẠI TỈNH BẮC NINH TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2006
36
2.1. Các yếu tố kinh tế và xã hội có liên quan đến quá trình chuyển dịch cơ
cấu lao động theo ngành của tỉnh Bắc Ninh
36
2.2. Phân tích thực trạng chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành từ 1997-2006 43
CHƯƠNG III: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU LAO
ĐỘNG THEO NGÀNH TẠI TỈNH BẮC NINH ĐẾN NĂM 2020
6
8
3.1. Những căn cứ chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành đến năm 2020 6
8
3.2. Định hướng chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành đến năm 2020 75
3.3. Giải pháp chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành đến năm 2020 75
0
Biểu 2.1 Tốc độ tăng tổng sản phẩm và đóng góp của các ngành vào tăng
trưởng trong tỉnh 10 năm từ 1997 – 2006
4
0
Biểu 2.2 Quy mô và cơ cấu lao động các ngành trong nền kinh tế 44
Biểu 2.3 Tỷ lệ chuyển dịch cơ cấu lao động qua các năm 47
Biểu 2.4 Cơ cấu ngành và cơ cấu lao động theo ngành 1997 - 2006 49
Biểu 2.5 Hệ số co giãn của lao động theo GDP 1998 – 2006 51
Biểu 2.6 Cơ cấu lao động ngành nông nghiệp từ 1997 – 2006 53
Biểu 2.7 Cơ cấu lao động ngành công nghiệp 1997 – 2006 55
Biểu 2.8 Cơ cấu lao động ngành dịch vụ 1997 – 2006 57
Biểu 3.1 Dự báo dân số và lao động đến năm 2020 74
Biểu 3.2 Mục tiêu chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành đến năm 2020 77
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1 Biến động quy mô lao động của nền kinh tế từ 1997 – 2006 43
Hình 2.2 Động thái lao động các ngành từ 1997 – 2006 45
Hình 2.3 Tỷ lệ chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành 1997 – 2006 47
Hình 2.4 Động thái chuyển dịch cơ cấu ngành và cơ cấu lao động
theo ngành
50
Hình 2.5 Biến động của hệ số co giãn lao động theo GDP qua các năm 51
Hình 2.6 Chuyển dịch cơ cấu lao động trong nội bộ ngành nông nghiệp
1997 – 2006
54
Hình 2.7 Chuyển dịch cơ cấu lao động trong nội bộ ngành công nghiệp
1997 – 2006
56
Hình 2.8 Chuyển dịch cơ cấu lao động trong nội bộ ngành dịch vụ
1997 - 2006
đi sâu nghiên cứu vấn đề chuyển dịch cơ cấu theo ngành và từng nhóm ngành
trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh từ năm 1997 đến năm 2020.
4. Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu: Phương pháp thống kê,
phương pháp dự báo, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp.
5. Những đóng góp của luận văn
Góp phần làm rõ các khái niệm về cơ cấu lao động theo ngành, chuyển
dịch cơ cấu lao động ngành; mối quan hệ giữa chuyển dịch cơ cấu lao động
theo ngành và chuyển dịch cơ cấu ngành. Đồng thời chỉ ra xu hướng chuyển
dịch cơ cấu lao động theo ngành trong giai đoạn hiện nay.
Nghiên cứu, đánh giá thực trạng quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động
theo ngành trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh từ năm 1997 đến năm 2006.
Chỉ ra nguyên nhân và đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm góp phần
thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành trên địa bàn tỉnh
Bắc Ninh đến năm 2020.
6. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn được chia làm ba chương như sau:
Chương I: Một số vấn đề lý luận về chuyển dịch cơ cấu lao động
theo ngành
Chương II: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành
tại tỉnh Bắc Ninh từ năm 1997 đến năm 2006
Chương III: Định hướng và giải pháp chuyển dịch cơ cấu lao động
theo ngành tại tỉnh Bắc Ninh đến năm 2020
2
CHƯƠNG 1:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU LAO ĐỘNG THEO NGÀNH
1.1. TỔNG QUAN VỀ CƠ CẤU LAO ĐỘNG THEO NGÀNH KINH TẾ
1.1.1. Cơ cấu ngành kinh tế
tư (nghiên cứu cơ cấu ngành theo lượng vốn đầu tư), góc độ lao động (nghiên
cứu cơ cấu ngành theo lao động).
Nền kinh tế được chia thành 3 nhóm ngành lớn, mỗi nhóm ngành này là
sự kết hợp của các ngành nhỏ hơn có những đặc điểm tương đối giống nhau
và các ngành này đã tạo nên cơ cấu nội bộ ngành.
Nhóm ngành nông nghiệp bao gồm các ngành: ngành sản xuất nông
nghiệp, ngành lâm nghiệp và ngành thuỷ sản
Nhóm ngành công nghiệp xây dựng bao gồm các ngành: ngành công
nghiệp khai thác, ngành công nghiệp chế biến, các ngành sản xuất – phân phối
điện nước và khí đốt, ngành xây dựng
Nhóm ngành dịch vụ bao gồm các ngành: các ngành dịch vụ kinh doanh
có tính chất thị trường, dịch vụ sự nghiệp, dịch vụ hành chính công
Tương đối giống cơ cấu ngành về mặt bản chất, cơ cấu nội bộ ngành
chính là hình thức cấu trúc bên trong của ngành, là các mối quan hệ của các
ngành nhỏ về cả số lượng và chất lượng.
Nghiên cứu cơ cấu ngành tức là nghiên cứu tổng thể cơ cấu ngành trong
mối quan hệ mật thiết với cơ cấu nội bộ từng nhóm ngành. Việc nghiên cứu
cơ cấu ngành có ý nghĩa rất quan trọng. Xét trên cả hai khía cạnh tăng trưởng
kinh tế và phát triển kinh tế thì cơ cấu ngành được xem là một trong những
yếu tố quan trọng nhất vì nó phản ánh sự phát triển của khoa học công nghệ,
4
lực lượng sản xuất, phân công lao động xã hội và hợp tác hóa sản xuất. Trạng
thái của cơ cấu ngành phản ánh trình độ phát triển nền kinh tế của mỗi quốc
gia, đó là tiêu chí để xác định xem nền kinh tế của quốc gia đó là nền kinh tế
nông nghiệp, công nghiệp hay hậu công nghiệp.
1.1.1.2. Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế và những vấn đề có tính
quy luật về xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là quá trình thay đổi của cơ cấu ngành
kinh tế từ trạng thái này sang trạng thái khác ngày càng hoàn thiện hơn, phù
hợp với môi trường và điều kiện phát triển. Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
1.1.2. Cơ cấu lao động theo ngành
Là một hình thức của cơ cấu lao động do đó nghiên cứu cơ cấu lao động
là tiền đề quan trọng để nghiên cứu cơ cấu lao động theo ngành.
Cơ cấu lao động là phạm trù kinh tế xã hội, phản ánh hình thức cấu tạo
bên trong của tổng thể lao động, sự tương quan giữa các bộ phận và mối quan
hệ giữa các bộ phận đó. Đặc trưng của cơ cấu lao động là mối quan hệ tỷ lệ về
mặt số lượng và chất lượng lao động theo những tiêu chí nhất định.
Là một phạm trù kinh tế – xã hội, cơ cấu lao động có những thuộc tính cơ
bản, đó là tính khách quan, tính lịch sử và tính xã hội:
i) Tính khách quan: Cơ cấu lao động bắt nguồn từ dân số và cơ cấu kinh
tế, quá trình vận động của dân số và cơ cấu kinh tế có tính khách quan do đó
nó quy định tính khách quan của cơ cấu lao động.
ii) Tính lịch sử: Quá trình phát triển của loài người là quá trình phát triển
của các phương thức sản xuất, mỗi phương thức sản xuất có một cơ cấu kinh
tế đặc trưng, nên cơ cấu kinh tế có tính lịch sử. Được bắt nguồn từ cơ cấu
kinh tế nên cơ cấu lao động cũng có tính lịch sử.
6
iii) Cơ cấu lao động mang tính xã hội sâu sắc: Cơ cấu lao động phản ánh
sự phân công lao động xã hội. Quá trình phân công lao động xã hội thể hiện
trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, thể hiện quá trình phát triển của
con người. Mỗi hình thức phân công lao động sẽ tạo nên một cơ cấu lao động
mới. Xét trên phương diện sản xuất, cơ cấu lao động không những phản ánh
các giai tầng của xã hội trong nền sản xuất mà còn phản ánh các hoạt động
kinh tế của các giai tầng xã hội trong mỗi giai đoạn phát triển.
Nghiên cứu cơ cấu lao động nghĩa là nghiên cứu sự phân chia lao động
thành các nhóm, các bộ phận khác nhau dựa theo những tiêu chí cụ thể tuỳ
thuộc vào mục đích nghiên cứu.
Thông thường, cơ cấu lao động được chia làm hai loại : cơ cấu cung về
lao động (theo khả năng) và cơ cấu lao động đang làm việc trong nền kinh tế
(theo cầu). Cơ cấu cung lao động là một trong các yếu tố phản ánh số lượng
Chuyển dịch cơ cấu lao động là sự thay đổi tăng, giảm của từng bộ phận
trong tổng thể lao động theo một khoảng thời gian nào đó. Còn chuyển dịch
cơ cấu lao động theo ngành là sự thay đổi trong quan hệ tỷ lệ, cũng như xu
hướng vận động về lao động của các ngành diễn ra trong một không gian, thời
gian và theo xu hướng nhất định.
Thực chất, quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành là quá trình
phân bố lại lực lượng lao động có việc làm trong nền kinh tế theo những xu
hướng tiến bộ nhằm mục đích sử dụng lao động có hiệu quả hơn. Quá trình
phân bố lại lực lượng lao động vừa diễn ra trên quy mô toàn bộ nền kinh tế
vừa diễn ra theo phạm vi của từng nhóm ngành. Lao động của một ngành thay
đổi chỉ khi có sự thay đổi về số lượng lao động trong nội bộ ngành đó. Chẳng
hạn, nếu lao động của nhóm ngành nông nghiệp giảm đi, thì rõ ràng việc giảm
8
này là do sự thay đổi lao động của 3 ngành nhỏ nông nghiệp, lâm nghiệp và
ngư nghiệp. Có thể trong mỗi ngành nhỏ số lao động có thể tăng lên hay giảm
xuống nhưng xét trên cả 3 ngành thì số lao động giảm đi. Như vậy, ở đây đã
có sự thay đổi về lao động của từng ngành nhỏ so với tổng số lao động của
ngành nông nghiệp, đây chính là sự thay đổi về cơ cấu lao động trong nội bộ
ngành nông nghiệp.
Có thể khẳng định rằng có mối liên hệ mật thiết giữa việc chuyển dịch cơ
cấu lao động nội bộ ngành và sự thay đổi lao động của ngành, suy rộng ra đó là
mối liên hệ giữa việc chuyển dịch cơ cấu lao động nội bộ ngành và cơ cấu lao
động theo ngành. Như vậy, quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành
gắn liền với sự thay đổi cấu trúc lao động trong nội bộ mỗi ngành. Hơn nữa,
quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành còn làm thay đổi chất lượng
lao động trong từng ngành. Mỗi ngành đều có những đặc tính riêng, do đó đặc
điểm sử dụng lao động của các ngành khác nhau đặc biệt là trình độ của lao
động. Do vậy, quá trình chuyển dịch dẫn đến sự di chuyển về lao động và sự di
chuyển này kéo theo sự thay đổi về chất lượng lao động của từng ngành.
1.2.2. Mối quan hệ giữa chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành và
kinh tế là quá trình biến đổi liên tục của cơ cấu ngành kinh tế từ cũ sang mới
và ngày càng hoàn thiện hơn. Nền kinh tế trải qua nhiều giai đoạn phát triển
từ lạc hậu đến hiện đại, từ trình độ thấp đến trình độ cao. Mỗi giai đoạn phát
triển, cơ cấu ngành có những đặc trưng riêng và gắn liền với nó là một cơ cấu
lao động phù hợp.
Theo W. Rostow, quá trình phát triển kinh tế của một quốc gia được chia
thành 5 giai đoạn và ứng với mỗi giai đoạn là một dạng cơ cấu ngành kinh tế
10
đặc trưng, thể hiện bản chất phát triển của giai đoạn ấy. Mặc dù có rất nhiều
hạn chế về cơ sở của việc phân đoạn trong phát triển kinh tế nhưng việc vận
dụng mô hình của ông trong phân tích quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động
theo ngành là rất cần thiết. Mô hình của W.Rostow chứng tỏ rằng: gắn liền
với việc chuyển dịch cơ cấu ngành qua các giai đoạn là quá trình chuyển dịch
cơ cấu lao động theo ngành. Tùy thuộc vào tính chất và trình độ của cơ cấu
ngành trong từng giai đoạn mà cơ cấu lao động theo ngành cũng có sự chuyển
dịch phù hợp. Ở mức độ nghiên cứu sâu hơn, quá trình chuyển dịch cơ cấu lao
động theo ngành vừa là quá trình di chuyển lao động từ nông nghiệp sang
công nghiệp và dịch vụ vừa là quá trình thay đổi cơ cấu lao động theo trình
độ, lực lượng lao động có trình độ tăng lên theo từng giai đoạn. Như vậy, cơ
cấu lao động theo ngành luôn chuyển dịch theo tính chất và trình độ của cơ
cấu ngành kinh tế với xu hướng ngày càng hiện đại và hoàn thiện hơn.
1.2.2.3. Chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành tạo điều kiện thúc
đẩy chuyển dịch cơ cấu ngành
Lao động với vai trò là một nguồn lực của sản xuất, là yếu tố không thể
thiếu trong các hoạt động kinh tế. Sự tăng trưởng và phát triển của các ngành
kinh tế sẽ không thể có nếu không có yếu tố lao động, vì lao động là một
trong các yếu tố đầu vào có vai trò rất quan trọng trong sản xuất.
Quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành là quá trình di chuyển
lao động từ ngành này sang ngành khác. Chính sự di chuyển này đã tác động
mạnh mẽ đến quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành. Quá trình chuyển dịch cơ
hướng tăng lên. Ngành dịch vụ là ngành khó có khả năng thay thế lao động
nhất do đặc điểm kinh tế kỹ thuật của việc tạo ra sản phẩm dịch vụ, rào cản
cho sự thay thế công nghệ và kỹ thuật rất cao. Trong khi đó, trong một nền
12
kinh tế trình độ cao thì tốc độ tăng của cầu tiêu dùng lớn hơn tốc độ tăng thu
nhập. Vì vậy, tỷ trọng lao động trong ngành dịch vụ sẽ có xu hướng tăng và
tăng càng nhanh khi nền kinh tế càng phát triển.
- Mô hình di cư của Todaro: Bắt đầu từ giả định rằng di cư chủ yếu là
hiện tượng kinh tế. Todaro cho rằng quá trình di cư bắt nguồn từ chênh lệch
trong thu nhập dự kiến có được hơn là thu nhập thực tế giữa nông thôn và
thành thị. Người di cư xem xét những cơ hội khác nhau trong thị trường lao
động giữa khu vực nông thôn và khu vực thành thị và lựa chọn để làm tăng
lợi ích mà họ có thể có được từ việc di cư. Những lợi ích này được xác định
bởi: sự chênh lệch trong mức thu nhập thực tế giữa công việc ở nông thôn và
thành thị; khả năng có thể kiếm được việc làm ở thành thị của người di cư.
Học thuyết của Todaro mô tả vấn đề di cư từ nông thôn ra thành thị như
một cơ chế điều chỉnh mà qua đó quyết định đến việc phân bổ trên các thị
trường lao động nông thôn và thành thị, đặc biệt là sự di chuyển lao động từ
khu vực nông nghiệp sang khu vực phi nông nghiệp từ đó tác động đến quy
mô lao động của các ngành trong nền kinh tế quốc dân.
Mặc dù học thuyết của Todaro có những phân tích thiếu tính thực tế khi
áp dụng với các nước Thế giới thứ 3. Tuy nhiên, học thuyết đã đưa ra cơ sở lý
luận khi nghiên cứu một số vấn đề cơ bản liên quan đến lao động trong đó có
vấn đề chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành.
1.2.3.2. Xu hướng chuyển dịch
Dựa trên những nghiên cứu của các nhà kinh tế học về chuyển dịch cơ
cấu lao động và phân tích mối quan hệ giữa cơ cấu ngành và cơ cấu lao động
theo ngành, tính tất yếu và xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngành chúng ta có
thể rút ra kết luận sau:
Thứ nhất, quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành là tất yếu do đó quá trình
lao động nông nghiệp ở các nước phát triển chỉ còn chiếm tỷ trọng dưới 5%
lực lượng lao động, lao động trong công nghiệp dưới 30% và lao động dịch
vụ tăng trên 70%.
Như vậy, tính tất yếu và xu hướng quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động
theo ngành không chỉ được khẳng định trên phương diện lý thuyết mà còn
được chứng minh bằng thực tiễn quá trình phát triển của một số cường quốc
kinh tế.
1.2.4. Các tiêu chí đánh giá chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành
1.2.4.1. Động thái thay đổi tỷ trọng lao động các ngành trong nền kinh tế
Quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động được thể hiện thông qua việc biến
đổi về tỷ trọng lao động của ngành này so với ngành khác và so với quy mô
lao động của nền kinh tế theo thời gian. Khi đó, xu hướng và tốc độ biến đổi
tỷ trọng lao động của các ngành là căn cứ quan trọng nhất để đánh giá quá
trình chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành là hợp lý hay không hợp lý.
Nếu tỷ trọng lao động trong ngành nông nghiệp giảm ngày càng nhanh còn tỷ
trọng lao động trong ngành công nghiệp và dịch vụ tăng ngày càng mạnh, đặc
biệt là ngành dịch vụ thì có thể nói quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động
theo ngành diễn ra hợp lý và tiến bộ. Tuy nhiên, việc đánh giá này chỉ mang
tính tương đối, vì nó phụ thuộc vào các giai đoạn phát triển của nền kinh tế. Ở
mỗi giai đoạn khác nhau mặc dù xu hướng chuyển dịch là giống nhau nhưng
tốc độ chuyển dịch của các ngành khác nhau, nó phụ thuộc vào đặc điểm và
trình độ phát triển của nền kinh tế.
1.2.4.2. Tỷ lệ chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành
Sử dụng phương pháp Vector để lượng hóa và phân tích quá trình chuyển
dịch cơ cấu lao động theo ngành, bằng cách tính hệ số Cos φ:
15
∑
=
∑
=
0
và các vector cơ cấu là trực
giao với nhau. Như vậy: 0 ≤ φ ≤ 90
0
Để đánh giá một cách trực giác sự chuyển dịch có thể so sánh góc φ với
giới hạn tối đa của sự sai lệch giữa hai vector. Do đó, để phản ánh tỷ lệ
chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành ta dùng tỷ số φ/90
0
.
Chỉ số này chỉ phản ánh sự biến đổi nói chung của cơ cấu lao động theo
ngành, tức là nó không chỉ ra được sự biến đổi cụ thể của từng ngành. Chỉ số
này càng lớn chứng tỏ quá trình chuyển dịch diễn ra càng mạnh và ngược lại.
Chúng ta có thể dùng chỉ số này kết hợp với việc phân tích xu hướng trên cơ
sở số liệu cụ thể để đánh giá tính hợp lý và tốc độ của quá trình chuyển dịch
cơ cấu lao động theo ngành.
1.2.4.3. Tương quan giữa chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành và
chuyển dịch cơ cấu ngành
Chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành gắn liền với quá trình chuyển
dịch cơ cấu ngành kinh tế. Do vậy, khi nghiên cứu chuyển dịch cơ cấu lao
động theo ngành phải đặt trong mối quan hệ mật thiết với quá trình chuyển
dịch cơ cấu ngành. Để có đánh giá tổng thể và toàn diện về chuyển dịch cơ
cấu ngành cần phải thấy được sự tương quan và mối quan hệ giữa hai quá
16
Cos φ
=
trình chuyển dịch. Liệu so với quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế thì
chuyển dịch cơ cấu lao động đã phù hợp chưa, xu hướng biến đổi tỷ trọng lao
động và tỷ trọng giá trị của các ngành có tương thích hay không, tốc độ
chuyển dịch là nhanh hay chậm, việc chuyển dịch đã đạt được hiệu quả tối ưu
về kinh tế xã hội, đã đảm bảo sử dụng hợp lý và phát huy tối đa tiềm năng của
mạnh và sự thay đổi này theo hướng giảm tỷ trọng lao động ngành nông
nghiệp và tăng tỷ trọng lao động ngành công nghiệp và dịch vụ. Có sự thích
ứng giữa mức GDP bình quân đầu người và cơ cấu lao động theo ngành, sự
thích ứng này được thể hiện qua biểu sau:
Biểu 1.1. Mối quan hệ giữa GDP/người và cơ cấu lao động theo ngành
GDP/người (USD)
CCLĐ (%)
320 960 1600 2560 3200
Nông nghiệp 66 49 39 30 25
Công nghiệp – Xây dựng 9 21 26 30 33
Dịch vụ 25 30 35 40 42
Nguồn: Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương 2002
Nghiên cứu này có vai trò quan trọng trong việc đánh giá tỉnh hợp lý của
cơ cấu lao động theo ngành tại một thời điểm xác định dựa trên tương quan
giữa mức GDP/người và hiện trạng cơ cấu lao động theo ngành
1.2.5. Các nhân tố tác động đến quá trình chuyển dịch CCLĐ theo ngành
1.2.5.1. Các nhân tố liên quan đến nhu cầu chuyển dịch CCLĐ theo
ngành
- Sự phát triển của khoa học công nghệ
Nếu thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX với đặc trưng là cuộc cách mạng khoa
học kỹ thuật thì từ sau Chiến tranh Thế giới thứ II đến hiện nay được đặc
18
trưng bởi cuộc cách mạng khoa học công nghệ.
Khoa học công nghệ không chỉ tạo ra các công cụ lao động mới mà cả
phương pháp sản xuất mới, do đó mở ra khả năng mới về kết quả sản xuất và
tăng năng suất lao động. Dưới tác động của khoa học công nghệ, các nguồn
lực sản xuất được mở rộng: mở rộng khả năng phát hiện, khai thác và đưa vào
sử dụng các nguồn tài nguyên; làm biến đổi chất lượng lao động; cơ cấu lao
động xã hội chuyển từ lao động giản đơn là chủ yếu sang lao động bằng máy
móc, nhờ đó tăng năng suất lao động và giảm một cách tương đối số lượng
Hầu hết các quốc gia đều phải nghiên cứu và đưa ra các định hướng xây
dựng và phát triển cơ cấu ngành hợp lý. Việc định hướng không những có tác
dụng trong việc xác định con đường sẽ đi mà còn tạo ra các căn cứ để quản lý,
huy động và sử dụng các nguồn lực có hiệu quả. Gắn liền với một cơ cấu
ngành là một cơ cấu lao động, cho nên việc định hướng xây dựng cơ cấu
ngành sẽ đặt ra yêu cầu về chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành ở thời
điểm hiện tại để phù hợp với cơ cấu ngành đã được định hướng trong tương
lai. Rõ ràng, với mỗi định hướng khác nhau sẽ làm cho cơ cấu lao động theo
ngành chuyển dịch theo những hướng khác nhau. Như vậy, việc định hướng
cơ cấu ngành đúng đắn, có tính khả thi cao thì cơ cấu lao động theo ngành
cũng có điều kiện chuyển dịch đúng hướng và phù hợp với cơ cấu ngành.
- Quá trình đô thị hoá và công nghiệp hoá
Đô thị hoá là một quá trình tập trung dân cư đô thị, đồng thời là quá
trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất nông nghiệp giảm,
sản xuất phi nông nghiệp tăng. Bộ mặt đô thị ngày càng hiện đại, không
20
gian đô thị mở rộng.
Theo lý thuyết của Todaro, quá trình đô thị hoá gắn liền với quá trình di
dân từ nông thôn ra thành thị, quá trình di chuyển lao động từ khu vực nông
nghiệp sang khu vực phi nông nghiệp. Việc di chuyển này trực tiếp làm giảm
tỷ trọng lao động ngành nông nghiệp, tăng tỷ trọng lao động ngành công
nghiệp và dịch vụ dẫn đến thay đổi cơ cấu lao động theo ngành.
Quá trình đô thị hoá một mặt làm giảm diện tích đất nông nghiệp, nhu
cầu lao động nông nghiệp giảm dần. Mặt khác, do sự phát triển về cơ sở hạ
tầng, tâm lý của người lao động và việc dư thừa lao động nông nghiệp dẫn
đến xu hướng phát triển các ngành công nghiệp và dịch vụ, từ đó làm tỷ trọng
lao động của các ngành này không ngừng tăng lên. Có thể thấy rằng, đô thị
hoá vừa tác động trực tiếp đến số lượng và tỷ trọng lao động của các ngành
vừa gián tiếp tác động đến cơ cấu lao động theo ngành thông qua sự thay đổi
cơ cấu ngành kinh tế.