PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU ĐẦU TƯ THEO NGÀNH
TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI GIAI ĐOẠN 2001 ĐẾN 2005
3.1. Những căn cứ và quan điểm chuyển dịch cơ cấu đầu tư theo
ngành trên địa bàn Hà Nội giai đoạn 2001-2005
3.1.1. Bối cảnh quốc tế và trong nước tác động đến phát triển kinh tế
Thủ đô
3.1.1.1 Bối cảnh quốc tế: Ngày nay bất kỳ một quốc gia nào khi lựa chọn và
quyết định mục tiêu, con đường phát triển của mình đều phải đặt trong bối
cảnh phát triển chung của kinh tế khu vực và thế giới. Mối quan hệ phụ thuộc
lẫn nhau giữa các nền kinh tế ngày càng tăng thì ảnh hưởng của môi trường
kinh tế quốc tế đối với sự phát triển của mỗi nước ngày càng lớn.
Việt Nam nằm ở vị trí chiến lược trong khu vực được đánh giá là năng
động nhất thế giới liên tục trong 4 năm qua, tất yếu phát triển kinh tế của Việt
Nam chịu ảnh hưởng rất lớn bởi sự phát triển kinh tế của cả khu vực.
Theo tôi tác động của sự phát triển kinh tế khu vực đến nền kinh tế Việt
Nam nói chung, kinh tế Hà nội nói riêng tập trung vào một số nội dung chủ yếu
sau đây:
Thứ nhất, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Việt Nam và Hà Nội nói
riêng chịu sự chi phối của những xu hướng có tính quy luật của quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở khu vực Đông- Đông Nam Á.
Các nhà kinh tế Việt Nam đã thống nhất nêu ra một số xu hướng có tính
quy luật của quá trình chuyển dịch ở khu vực Đông- Đông Nam Á. Những xu
hướng đó là:
+ Quá trình chuyển dịch cơ cấu trong khu vực mang tính tiếp nối giữa
các nhóm các nước khác nhau. Một mặt các nước đi sau tiếp nhận cơ cấu một
cách lần lượt cơ cấu của các nước đi trước, mặt khác tuỳ theo điều kiện riêng
có mà mỗi nước đi sau có thể thực hiện một sự nhảy vọt trong chuyển dịch cơ
cấu và nhờ đó mà rút ngắn được về mặt thời gian trong quá trình phát triển.
+ Trong quá trình chuyển dịch cơ cấu, hầu hết các nước đều phải trải
qua thời kỳ phát triển sản xuất hàng thay thế nhập khẩu trước khi bành
trướng xuất khẩu. Tuy nhiên độ dài ngắn của thời kỳ thay thế nhập khẩu tuỳ
cả thời kỳ trung và dài hạn.
3.1.1.2 Bối cảnh trong nước:
- Dự báo trong thời gian tới, tình hình chính trị - xã hội trong nước tiếp
tục ổn định , tạo điều kiện rất quan trọng cho phát triển kinh tế. Cơ sở vững
chắc cho dụ báo đó là trong hơn một thập kỹ đổi mới vừa qua , Đảng đã lãnh
đạo nhân dân ta giành được những thành tựu to lớn, tạo nên những biến
chuyển sâu sắc trong phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội. Điều đó đã khẳng
định lòng tin của nhân dân với Đảng. Sự ổn định tình hình chính trị xã hội là
nhân tố đặc biệt quan trọng trong quá trình thực hiện chiến lược phát triển
kinh tế .
- Có thêm thế và lực mới, Đảng ta chủ trương tiếp tục đẩy mạnh công
cuộc đổi mới , tiếp tục công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước.
Trong kế hoạch 5 - 10 năm tới, Nhà nước chủ trương nâng cấp và hoàn
thiện về cơ bản hệ thống đường giao thông trên các tuyến nằm trong vùng
kinh tế trọng điểm trong đó có trục Bắc - Nam, các tuyến từ Hà nội và Thành
phố Hồ Chí Minh đi các khu công nghiệp và các vùng kinh tế trọng điểm, đầu
tư hoàn thành cầu Thanh trì, cầu Bính, cầu bãi cháy; nâng cấp tuyến đường sắt
thống nhất và tuyến đường sắt Hà nội - Lào cai, Hà nội - Lạng sơn; Cải tạo và
nâng cấp các cảng Cái lân, Hải phòng; mở rộng và nâng cấp sân bay quốc tế
Nội bài . Vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, nhất là tam giác tăng trưởng Hà
nội - Hải phòng - Quảng ninh được coi trọng đầu tư và nâng cao tính liên kết
trong chiến lược phát triển kinh tế chung của toàn vùng. Sự phát triển hệ
thống cơ sở hạ tầng của khu vực và các tuyến giao thông đầu mối từ Hà nội đi
đến các tỉnh, thành phố khác, các khu công nghiệp, khu chế xuất trong kế
hoạch 5-10 năm tới sẽ có tác động mạnh mẽ đến phát triển kinh tế Thủ đô,
nhất là trong chiến lược điều chỉnh cơ cấu kinh tế.
- Trong 5 năm tới là giai đoạn đầu Hà nội thực hiện xây dựng và phát
triển Thủ đô theo quy hoạch điều chỉnh đã được Chính phủ phê duyệt
( Quyết định 108/ 1998/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ).Theo phương án
quy hoạch điều chỉnh thì Hà nội sẽ phát triển mạnh sang bờ Bắc sông Hồng,
thúc đẩy, điều tiết sự chuyển dịch cơ cấu ngành và phát triển các ngành mũi
nhọn, trọng điểm còn chậm chễ.
Thứ ba sự chuyển dịch cơ cấu ngành chưa thực sự gắn liền với sự
chuyển dịch cơ cấu vùng bởi vì các thành phần kinh tế chưa tạo được mối quan
hệ chặt chẽ giữa các ngành CN-DV-NN
Như vậy cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu ngành dịch vụ nói riêng của
Hà Nội trong giai đoạn 1996-2000 không đáp ứng được nhu cầu đi vào phát
triển các lĩnh vực dịch vụ hiện đại mà một nền kinh tế phát triển đòi hỏi. Qua
đó cho thấy kinh tế phát triển ở trình độ thấp thì các dịch vụ xã hội và đời sống
cũng bị hạn chế. Do đó, sự phát triển mạnh của các ngành sản xuất nhất là
công nghiệp sẽ là động lực chi phối sự phát triển của các ngành dịch vụ và
nông nghiệp .
Khi kinh tế Hà Nội phát triển đến một mức độ nhất định, sức sản xuất ở
trình độ cao sẽ đòi hỏi sự phát triển mạnh mẽ của ngành dịch vụ (cả dịch vụ
sản xuất và dịch vụ xã hội-đời sống) lại là những động lực chính thúc đẩy và
chi phối sự phát triển của các ngành sản xuất. Chính vì vậy trong thời gian tới
Hà Nội cần phải xác dịnh cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo định hướng mới sao
cho phát huy hiệu quả hơn, tăng trưởng GDP nhanh hơn, sử dụng có hiệu quả
hơn các nguồn lực và tỷ trọng đóng góp của các ngành phản ánh đúng thực
trạng đời sống và nhu cầu của sự phát triển chung toàn xã hội. Đó là sự chuyển
dịch cơ cấu kinh tế từ CN-DV-NN giai đoạn hiện nay . Giai đoạn tới cơ cấu kinh
tế Hà Nội sẽ là DV-CN-NN . Muốn thưc hiện được sư chuyển dịch này theo đúng
định hướng đề ra và đạt được kết quả cao thì cần phải có chính sách đầu tư
hợp lý, khi đó sẽ tạo tiền đề cho sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo đúng mục
tiêu đề ra. Do vậy ta cần phải thực hiện chuyển dịch cơ cấu đầu tư theo ngành.
Như vậy điều quan trọng nhát thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh
tế theo đúng định hướng đó là phải có định hướng và giải pháp phù hợp trong
cơ cấu đầu tư, hay nói khác đi là phải có sự chuyển dịch trong cơ cấu đầu tư
mà vấn đề mấu chốt là sự chuyển dịch cơ cấu đầu tư theo ngành
3.1.3. Quan điểm chủ đạo trong quá trình phát triển kinh tế - Xã hội
bên ngoài. Khẩn trương chuẩn bị các điều kiện cần thiết nhất để thực hiện các
cam kết quốc tế và hội nhập kinh tế theo lộ trình một cách chủ động, hiệu quả,
an toàn.
- Phát triển lực lượng sản xuất đi đôi với tăng cường củng cố và hoàn
thiện QHSX. Sắp xếp lại và nâng cao hiệu quả của khu vực kinh tế nhà nước.
- Khuyến khích các loại hình tổ chức sản xuất kinh doanh mới theo
hướng đa ngành, đa sở hữu, có hiệu quả kinh tế - xã hội cao. Tạo môi trường
kinh doanh bình đẳng và thuận lợi cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành
phần kinh tế phát triển lành mạnh, nâng cao khả năng cạnh tranh và hiệu quả
hoạt động của các DN. Tăng tính liên kết giữa các doanh nghiệp, giữa sản xuất
- dịch vụ, sản xuất - lưu thông - tiêu thụ.
- Tăng cường đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội
để vừa giải quyết những yêu cầu bức xúc trong xây dựng và quản lý đô thị vừa
từng bước xây dựng Thủ đô đồng bộ, hiện đại theo quy hoạch đã được Thủ
Tướng Chính phủ phê duyệt. Phát triển nhanh các khu đô thị mới đi dôi với
quản lý, bảo tồn, tôn tạo các khu phố cổ, khu phố cũ; cải tạo nâng cấp, chỉnh
trang khu vực nội thành cùng với việc giảm mật độ dân cư trong khu vực nội
thành cũ.
- Đa dạng hoá hệ thống giáo dục, đáp ứng nhu cầu học tập của mọi
người dân. Phát triển toàn diện về giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ.
Tập trung nâng cao chất lượng nguồn nhân lực với cơ cấu hợp lý; ứng dụng
nhanh các công nghệ tiên tiến, hiện đại; chuẩn bị những điều kiện cần thiết để
bước đầu xây dựng nền kinh tế trí thức.
- Tập trung giải quyết có hiệu quả những vấn đề xã hội bức xúc: Tạo
nhiều việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp ở cả thành thị và nông thôn; phát triển
nhanh quỹ nhà ở; ngăn chặn sự gia tăng các tệ nạn xã hội. Pháp triển mạnh
văn hoá, thông tin, y tế và thể dục thể thao. Nâng cao mức sống vật chất và
tinh thần của nhân dân.
- Đẩy mạnh công cuộc cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả
quản lí nhà nước. Thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở. Đấu tranh mạnh mẽ
+Nông nghiệp: 3%
3.1.4. Quan điểm chuyển dịch cơ cấu đầu tư giai đoạn 2001-2005 trên
địa bàn Hà Nội
3.1.4.1. Quan điểm phát triển toàn diện đồng bộ nhưng có trọng điểm: Phát
triển kinh tế có nội dung toàn diện, bao hàm cả sự tăng trưởng kinh tế và sự
tiến bộ xã hội. Giữa tăng trưởng kinh tế và sự tiến bộ xã hội có quan hệ chặt
chẽ, tác động vào nhau, thúc đẩy nhau phát triển, trong đó tăng trưởng kinh tế
là cơ sở để thực hiện tiến bộ về xã hội. Do đó, trong bố trí cơ cấu vốn đầu tư
phải đảm bảo những mối quan hệ tỷ lệ cân đối, đảm bảo phát triển toàn diện
các mặt chính trị, kinh tế, văn hoá-xã hội lẫn trình độ văn minh của con người.
Vấn đề hết sức quan trọng khi thực hiện quan điềm toàn diện là phải xác
định được các trọng điểm, mũi nhọn cần tập trung, từ đó bố trí cơ cấu đầu tư
phù hợp, sự lựa chọn những trọng điểm đó phải được tính toán trên cơ sở tiềm
lực về các nhân tố tăng trưởng, về lợi thế so sánh.
3.1.4.2. Quan điểm tiên tiến và hiện thực trong chuyển dịch cơ cấu đầu tư
Trong điều kiện cách mạng khoa học công nghệ phát triển, trong cơ cấu
giá trị hàng hoá, hàm lượng chất xám có xu hướng ngày càng tăng lên. Do vậy,
về sản phẩm có khả năng cạnh tranh trên thị trường, việc sản xuất ra sản
phẩm phải thể hiện được sự tiếp cận đến những tiến bộ kỹ thuật và công nghệ
tiên tiến. Để tạo được ngành sản xuất như vậy, quá trình chuyển dịch cơ cấu
đầu tư phải tính đến những thành tựu của khoa học và công nghệ, áp dụng nó
vào trong sản xuất và phát triển kinh tế. Trong điều kiện eo hẹp về vốn đầu tư,
chưa thể tiến hành đồng loạt thì cần lựa chọn các lĩnh vực, các ngành các lĩnh
vực để tập trung ưu tiên nâng dần từng bước trình độ cơ khí hoá, điện khí hoá,
tự động hoá, hoá học hoá, sinh học hoá học tiến lên ở một mức độ nhất định
của công nghệ thông tin, công nghệ vật liệu mới, năng lượng mới...
Tuy nhiên, việc lựa chọn loại công nghệ nào, trình độ ra sao phải tuỳ vào
điều kiện cụ thể về khả năng của nền kinh tế, của từng ngành và từng lĩnh vực
cụ thể. Tiêu chuẩn để lựa chọn công nghệ cuối cùng vẫn là hiệu quả, trước mắt
cũng như lâu dài. Cơ cấu đầu tư phải cho phép hình thành cơ cấu kinh tế năng
ra sức tranh thủ nguồn lực từ bên ngoài.
Lý thuyết phát triển kinh tế đã khẳng định: phát triển kinh tế là một quá
trình vận động theo thời gian và do các nhân tố nội tại của nền kinh tế tạo ra.
Điều đó có nghĩa là những thành quả kinh tế đạt được, trước hết phải là kết
quả của việc huy động các yếu tố, nguồn lực từ nội bộ nền kinh tế. Có như vậy
quá trình phát triển kinh tế mới đạt được sự ổn định, bền vững và lâu dài.
Đối với Việt Nam nói chung, Thủ đô Hà nội nói riêng do xuất phát điểm
thấp, nhu cầu vốn đầu tư cho phát triển là rất lớn. Trong khi hết sức coi trọng
và tranh thủ nguồn vốn bên ngoài, vẫn phải khẳng định nguồn vốn trong nước
có tính lâu dài quyết định, vì các lý do sau đây:
- Thực tế đã chứng minh việc thu hút nguồn vốn bên ngoài là không dễ
dàng.
- Nhiều nghiên cứu đã đi đến thống nhất, để tiêu hao được một đồng vốn
bên ngoài, cần phải có từ một đến hai đồng vốn trong nước.
- Dễ gây ra tình trạng sử dụng lãng phí đồng vốn, nguy cơ nợ quốc tế
không có khả năng thanh toán rất lớn.
- Khả năng lệ thuộc vào nước ngoài tăng lên.
3.2. Một số định hướng cho chuyển dịch cơ cấu đầu tư theo ngành
3.2.1. Phương hướng chung
Để thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo những định hướng trên,
với tư cách là phương tiện hình thành cơ cấu kinh tế, theo tôi quá trình chuyển
dịch cơ cấu đầu tư trong thời gian tới cần đạt được mục tiêu tổng quát sau
đây:
Từng bước hình thành cơ cấu kinh tế Thủ đô theo hướng công nghiệp
hoá, hiện đại hoá. Đó là cơ cấu kinh tế hợp lý, trong đó các ngành gắn bó với
nhau trong một cơ cấu kinh tế thống nhất thúc đẩy nhau phát triển trên cơ sở
sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của Thủ đô nhằm đạt được mức tăng
trưởng nhanh ổn định và bền vững; tỷ trọng của ngành công nghiệp trong GDP
tăng lên, tỷ trọng của ngành nông nghiệp giảm xuống mặc dù lượng tuyệt đối
vẫn tăng lên nhanh chóng; mở rộng không ngừng tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế
phù hợp với yêu cầu tăng trưởng nhanh, chống nguy cơ tụt hậu về mặt kinh tế.
Con đường thứ nhất lại cho phép tận dụng đội ngũ khoa học trong nước
vừa tiết kiệm được chi phí vừa là động lực thúc đẩy tiềm lực chất xám trong
nước.
Do vậy cách lựa chọn con đường chuyển giao công nghệ là tuỳ và điều
kiện cụ thể, cân nhắc giữa nhu cầu và khả năng về đội ngũ của chúng ta.
Về trình độ công nghệ, cần nghiên cứu và lựa chọn những công nghệ phù
hợp, đối với một số lĩnh vực, có tính chất mũi nhọn như điện tử, thông tin cần
đi thẳng vào trình độ hiện đại, tạo ra lợi thế lâu dài cho các ngành công nghiệp
xuất khẩu.
Với phương hướng chuyển cơ cấu đầu tư tổng quát trên đây, trật tự ưu
tiên về khối lượng vốn đầu tư trong thời gian tới được định hướng theo các
nhóm ngành sau:
+ Tập trung đầu tư cho một số ngành mũi nhọn như điện tử, tin học
nhất là phần mềm tin học; cơ - kim khí, nhất là cơ khí chế tạo; dệt - may - da -
giầy; chế biến thực phẩm; vật liệu mới.
+ Đầu tư phát triển mạnh các ngành dịch vụ như: tài chính, ngân hàng
vận tải, thương mại, bảo hiểm, thông tin-viễn thông, du lịch-khách sạn, vì
những ngành này vừa tạo tiền đề để mở rộng thị trường, mở rộng giao lưu
kinh tế vừa là ngành có mức tăng trưởng cao.
+ Đầu tư xây dựng và đưa vào hoạt động các trung tâm thương mại
hiện đại, một số siêu thị lớn, hình thành một số khu phố buôn bán chuyên
doanh và tổng hợp; đầu tư hoàn chỉnh hệ thống chợ; xây dựng các trung tâm
thương mại của Hà Nội ở nước ngoài.
+ Đầu tư nâng cao cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển mạnh các loại hình
du lịch.
+ Đầu tư phát triển các ngành có hệ số ICOR thấp, thu hút nhiều lao
động, tạo nhiều công ăn việc làm và tăng trưởng khá nhanh. Đó là các ngành
công nghiệp nhẹ như: dệt, da, may mặc, chế biến nông sản, chế tạo hàng tiêu
dùng phục vụ nhu cầu xuất khẩu và tiêu dùng trong nước.
quân 12-13%/năm. Coi XK là mũi nhọn, là đòn bẩy quan trọng để thúc đẩy
phát triển sản xuất và thương mại của thủ đô Hà Nội. Trong xuất khẩu xác
định danh mục hàng xuất khẩu chủ lực theo thứ tự:Hàng công nghiệp chế biến
sâu chiếm tỷ trọng khoảng 48-49%; Hàng CN nặng khoáng sản : chiếm tỷ trọng
khoảng 25%. Hàng nông lâm sản: dự kiến chiếm tỷ trọng khoảng 22%; Các loại
hàng khác dự kiến chiếm tỷ trọng3,5%. Tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2005
trên địa bàn khoảng 3000-3300 triệuUSD, tăng bình quân16-18%.
+ Du lịch: Du lịch đã nhanh chóng trở thành ngành kinh tế quan trọng của
Thủ đô. Trong thời gian tới du lịchThủ đô cần phát triển theo hướng đa dạng
hoá và nâng cao các sản phẩm du lịch; tích cực chuyển dịch từ du lịch bị động
sang phát triển du lịch chủ động; phát triển các loại hình du lịch , văn hoá, du
lịch lịch sinh thái...;phối hợp với địa phương để xây dựng các chương trình du
lịch, các tuyến điểm du lịch thu hút khách du lịch trong nước và nước ngoài;
đầu tư xây dựng một số cụm du lịch tổng hợp có sức hấp dẫn cao để góp phần
tạo sự đột phá lớn.
- Tổng doanh thu du lịch tăng bình quân 10,7%
- Tổng lượt khách tăng14%/năm trong đó khách quốc tế tăng13,4%; khách
trong nước tăng 15%. Số ngày lưu trú của khách sẽ là 3-4 ngày/lượt(hiện nay
là 2,6 ngày/lượt).
- Dịch vụ khác: Nâng cao chất lượng dịch vụ vân tải hành khách, phát triển
vận tải hành khách công cộng; Bảo đảm an toàn thông suốt trong vận tải nội
đô và khu vực. Nâng cao chất lượng dịch vụ bưu chính viễn thông, sử dụng
công nghệ hiện đại tăng dung lượng các tổng đài hiện có; Cáp quang hoá mạng
bưu chính viễn thông ; khuyến khích phát triển công nghệ tin học và các dịch
vụ máy vi tính, dịch vụ phần mềm khác. Phát triển nhanh, mạnh các loại hình
dịch vụ của nền kinh tế thị trường hiện đại; Tài chính, Ngân hàng,Kiểm toán...
+ Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Tiếp tục ổn định và tăng trưởng ngành công nghiệp. Phát triển đa dạng
cả trồng trọt lẫn chăn nuôi, thủy sản theo hướng phát triển sản xuất ngày càng
nhiều các loại nông sản hàng hóa có chất lượng cao, hiệu qủa lớn đáp ứng cho
nội thành.
- Đảm bảo công bằng xã hội trong xây dựng và quản lý đô thị. Phát triển hạ
tầng kỹ thuật đô thị nhằm cải thiện môi trường đô thị trong những khu đô thị
cũ; đảm bảo vừa phát triển vừa cải tạo; nâng cao điều kiện sống cho người
dân đô thị; kết hợp chặt chẽ giữa đầu tư phát triển và nâng cao chất lượng
công tác khai thác. Chú trọng đầu tư phát triển hạ tầng cơ sở các huyện ngoại
thành nông nghiệp và nông thôn.
+ Văn hoá -xã hội
Phát triển mạnh sự nghiệp văn hoá thông tin nhằm góp phần xây dựng con
người Hà Nôi vừa tiến tới, văn minh hiện đại vừa mang bản sắc thanh lịch, trí
tuệ của thủ đô ngàn năm văn hiến...Mở rộng giao lưu văn hoá với nước ngoài
và thủ đô các nước. Hiện đại hoá và đa dạng các hoạt động thông tin nhằm
phục vụ phát triển kinh tế xã hội và nhiệm vụ chính tri của thủ đô. Khẩn
trương xây dựng các công trình văn hoá lớn , tiêu biểu để phục vụ kỷ niệm
1000 năm Thăng Long
+ Giáo dục đào tạo:
Mục tiêu: Hà Nội phấn đấu luôn giữ vị trị hàng đầu trong cả nước về việc
nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lục và bồi dưỡng nhân tài. Phát thiển hệ
thống giáo dục thủ đô đa dạng đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội và