thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thường xuyên cho sinh viên các ngành sư phạm ở trường đại học hà tĩnh - Pdf 25

UBND TỈNH HÀ TĨNH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀ TĨNH

CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI
TS. NGUYỄN VĂN TỊNH THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT
LƯỢNG HOẠT ĐỘNG RÈN LUYỆN NGHIỆP VỤ SƯ
PHẠM THƯỜNG XUYÊN CHO SINH VIÊN CÁC NGÀNH
SƯ PHẠM Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀ TĨNH
GVPT:
HĐ:
HS:
KHGD:
KNSP:
KKTP
LLDH:
LLDHBM:

NVSP:
NVSPTX:

Đại học Hà Tĩnh
Đơn vị học trình
Biện pháp
Cao đẳng sư phạm
Chủ nhiệm lớp
Đại học sư phạm
Giáo dục và đào tạo
Giáo dục
Giáo dục học
Giáo dục mầm non
Gia đình
Giao tiếp sư phạm
Giảng viên, giáo viên
Giảng viên đại học
Giáo viên phổ thông
Hoạt động
Học sinh
Khoa học giáo dục

Trung học phổ thông
Trung cấp chuyên nghiệp
Thực tập sư phạm
Giá trị trung bình MỤC LỤC
MỞ ĐẦU Trang
1. Tính cấp thiết của đề tài 3
2. Mục đích nghiên cứu 4
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu 4
4. Giả thuyết khoa học 5
5. Nhiệm vụ nghiên cứu 5
6. Phạm vi nghiên cứu 5
7. Phương pháp nghiên cứu 5
8. Cấu trúc của đề tài 6
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC TỔ CHỨC HĐRLNVSP CHO SV 7
1.1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 7
1.1.1. Những nghiên cứu ngoài nước 7
1.1.2. Những nghiên cứu trong nước 7
1.2. Các khái niệm cơ bản 9
1.2.1. Nghiệp vụ 9
1.2.2. Nghiệp vụ sư phạm 9
1.2.3. Rèn luyện NVSP 9
1.2.4.

Tổ chức hoạt động RLNVSP

Chương 3. CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG
RÈN LUYỆN NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM THƯỜNG XUYÊN CHO SINH
VIÊN CÁC NGÀNH SƯ PHẠM Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀ TĨNH
71
3.1. Các giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động rèn luyên nghiệp vụ sư phạm
thường xuyên cho sinh viên các ngành sư phạm ở Trường Đại học Hà Tĩnh
71
3.1.1. Căn cứ đề xuất giải pháp 71
3.1.2. Các giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động rèn RLNVSPTX cho sinh
viên các ngành sư phạm ở Trường Đại học Hà Tĩnh
72
3.1.2.1. Nâng cao nhận thức cho giảng viên, sinh viên, cán bộ quản lý về vai
trò của hoạt động RLNVSPTX cho SV trong nhà trường
72
3.1.2.2. Xác định mục tiêu rèn luyện NVSPTX 73
3.1.2.3. Xây dựng nội dung chương trình RLNVSPTX cho sinh viên theo
hướng phát triển năng lực
74
3.1.2.4. Hoàn thiện quy trình tổ chức RLNVSPTX cho cho SV 77
3.1.2.5. Mở rộng các hình thức tổ chức RLNVSPTX cho SV 82
3.1.2.6. Đổi mới cách đánh giá hoạt động rèn luyện NVSPTX 83
3.1.2.7. Đảm bảo các ĐK tổ chức hoạt động RLNVSPTX cho SV 83
3.2. Thăm dò sự cần thiết và tính khả thi của các giải pháp 85
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 91
1. Kết luận 91
2. Kiến nghị 92

- -

3

và đầy đủ về vấn đề NVSP và cần có các giải pháp mang tính cách mạng để giải quyết
- -

4
vấn đề này. Điều này đã nói lên phần nào những bức xúc về thực trạng chung trong
đào tạo NVSP hiện nay ở các trường CĐ, ĐH.
Trường Đại học Hà Tĩnh trong những năm qua đã gặt hái những thành công
nhất định trong đào tạo giáo viên, đáp ứng nhu cầu nhân lực cho tỉnh nhà. Tuy nhiên,
hoạt động rèn luyện NVSPTX cho sinh viên vẫn còn những bất cập từ mục tiêu, nội
dung chương trình đến các hình thức tổ chức. Sự bất cập càng thể hiện rõ khi chương
trình RLNVSPTX được chuyển sang đào tạo theo học chế tín chỉ. Việc tổ chức có hiệu
quả hoạt động rèn luyện NVSPTX cho sinh viên cho đến nay vẫn chưa được nghiên
cứu và giải quyết một cách toàn diện và đồng bộ.
Nếu công tác này được tìm hiểu, khảo sát một cách toàn diện để có cơ sở
khoa học nhằm điều chỉnh mục tiêu; kế hoạch, chương trình; cách thức tổ chức hoạt
động rèn luyện, tự rèn luyện NVSPTX và chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho
việc tổ chức hoạt động RLNVSPTX phục vụ đắc lực cho yêu cầu đào tạo nhân lực
đáp ứng yêu cầu xã hội thì hiệu quả công tác tổ chức hoạt động rèn luyện NVSPTX
cho sinh viên sư phạm Trường Đại học Hà Tĩnh sẽ được tăng cường rõ rệt.
Kết quả nghiên cứu của đề tài hy vọng không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả
đào tạo đội ngũ giáo viên tương lai cho Hà Tĩnh mà còn cho cả khu vực miền Trung và
cả nước trong bối cảnh đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo Việt Nam.
Với lý do trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu: Thực trạng và giải pháp
nâng cao chất lượng hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thường xuyên cho
sinh viên các ngành sư phạm ở Trường Đại học Hà Tĩnh.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Trên cơ sở khảo sát thực trạng hoạt động rèn luyện NVSPTX cho sinh viên sư
phạm Trường Đại học Hà Tĩnh từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng
hoạt động rèn luyện NVSPTX cho SV các ngành sư phạm ở Trường Đại học Hà Tĩnh.
3. KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

7. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
7.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
Phân tích và tổng hợp các tài liệu liên quan đến đề tài
7. 2. Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Quan sát các hoạt động rèn luyện NVSPTX ở sinh viên, giảng viên
- Điều tra bằng phiếu câu hỏi ở sinh viên, giảng viên, giáo viên mầm non, phổ
thông, cán bộ quản lý giáo dục.
- Nghiên cứu sản phẩm hoạt động của thầy và trò trong quá trình đào tạo.
-Tổng kết kinh nghiệm giáo dục trong và ngoài tỉnh.
- Phương pháp đàm thoại
- Lấy ý kiến chuyên gia.
- -

6
7.3. Phương pháp thống kê toán học
Xử lý các kết quả nghiên cứu định lượng và lượng hóa thu được bằng phương
pháp thống kê xã hội học qua phầm mềm SPSS for Windows.
8. ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI
- Hệ thống hóa được các vấn đề lý luận có liên quan đến việc tổ chức các hoạt
động rèn luyện NVSP cho SV làm cơ sở lý luận khoa học cho việc triển khai nghiên
cứu và thực thi công tác tổ chức các hoạt động rèn luyện NVSP trong thời gian tới.
- Khảo sát một cách khá toàn diện thực trạng việc tổ chức các hoạt động rèn
luyện NVSPTX cho SV các ngành sư phạm ở Trường Đại học Hà Tĩnh trong thời gian
qua; qua đó khẳng định những kết quả đạt được, những hạn chế, yếu kém cần khắc
phục, giải quyết.
- Đề xuất được một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức hoạt động
RLNVSPTX cho SV các ngành sư phạm ở Trường Đại học Hà Tĩnh trong thời gian
tới.
9. CẤU TRÚC CỦA ĐỀ TÀI
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, đề tài gồm có 3 chương:

xuyên xuất phát từ cơ sở lý luận của Tâm lý học hành vi (Oatson; Skinơ…). Trong báo
cáo “khoa học và nghệ thuật đào tạo các thầy giáo” của nhóm PhiDelta Kapkas đại học
Stanfort (Mỹ), các tác giả đã trình bày 5 nhóm kỹ thuật của người giáo viên đứng lớp
và phân tích thành các bộ phận, các hành động có thể dạy và đánh giá được cho người
giáo viên tương lai.
Ở Liên Xô và các nước thuộc phe Xã hội chủ nghĩa trước đây vấn đề rèn luyện
nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên rất được chú trọng ở các trường đại học, phải kể đến
các công trình của các nhà nghiên cứu khoa học N.V. Kuzmin, B.A. Slastionin, A.K.
Mapkova, I. P. Podlacy, N.E. Sedova…
Trong cuốn “Chuẩn bị cho SV làm công tác giáo dục ở trường phổ thông”, N.I.
Bônđưrep đã nhấn mạnh vai trò của KNSP đối với nghề thầy giáo và khẳng định rằng
những kỹ năng đó chỉ được hình thành và củng cố trong hoạt động thực tiễn. Theo
ông, những yêu cầu về chuyên môn của người thầy giáo tất nhiên không phải chỉ có
những kiến thức phong phú mà còn phải có những kỹ năng cần thiết để tổ chức và thực
hành công tác giáo dục. Vấn đề không phải chỉ ở chỗ tiếp thu kiến thức về Tâm lý học
và Giáo dục học mà còn là ở việc vận dụng nó vào thực tế, và đây là khó khăn lớn nhất
đối với SV. Vì vậy, giai đoạn học ở trường sư phạm có ý nghĩa to lớn đối với việc hình
thành KNSP cho SV.
Vai trò, nhiệm vụ của việc RLNVSP cũng được xác định tại “Hội thảo bàn về
cách tân việc đào tạo, bồi dưỡng giáo viên của các nước Châu Á - Thái bình dương”
do tổ chức APEID thuộc UNESCO tổ chức tại Seoul (Hàn quốc) năm 1988. Trong các
- -

8
báo cáo của hội thảo đã khẳng định: tri thức nghề nghiệp là cơ sở của nghệ thuật sư
phạm nhưng phải thông qua hệ thống các KNSP.
Tuy nhiên, đến năm 1990 của thế kỷ XX, những nghiên cứu về này chỉ mới
dừng lại ở mức độ lý luận chung, chưa có nhiều ứng dụng vào thực tiễn.
1.1.2. Những nghiên cứu trong nước
Từ năm 1982, tài liệu “Rèn luyện NVSPTX cho sinh viên các trường sư phạm”

Năm 2010, tổ chức Hội thảo khoa học toàn quốc bàn về hoạt động rèn luyện
nghiệp vụ sư trong đào tạo giáo viên tại Trường Đại học sư phạm Hà Nội.
Năm 2011, tác giả Nguyễn Thị Mỹ Trinh với đề tài cấp Bộ “Xây dựng nội
dung, quy trình hình thành kỹ năng sư phạm theo chuẩn nghề nghiệp cho sinh viên
ngành giáo dục mầm non qua hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thường xuyên và
thực tập sư phạm”, Mã số: B2009 -27-77.
Hai Hội thảo khoa học được tổ chức với quy mô lớn trong năm 2014: Hội thảo
“Đào tạo nghiệp vụ sư phạm ở Trường Đại học sư phạm Hà Nội” vào tháng 1 và Hội
thảo khoa học quốc gia: “Đổi mới hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho sinh
viên theo hướng phát triển năng lực” ngày 10/11 tại Trường CĐSP Hà Tây, thu hút
sự tham gia tích cực của các nhà nghiên cứu, các nhà khoa học, các nhà sư phạm
trong cả nước.
Gần đây, hàng loạt giáo trình về tổ chức hoạt động RLNVSPTX được xuất bản
ở các trường đại học sư phạm tốp đầu (Trường Đại học sư phạm Hà Nội, Trường Đại
học sư phạm TP. Hồ Chí Minh). Nhiều Hội thảo khoa học được tổ chức với quy mô
lớn, thu hút sự quan tâm lớn của các nhà nghiên cứu sư phạm, các giảng viên đại học,
giáo viên phổ thông trong toàn quốc.
Nghiên cứu sản phẩm khoa học của các nhà nghiên cứu, các nhà khoa học, các
tác giả trong nước, chúng tôi khẳng định rằng: đánh giá và đề xuất các giải pháp nâng
cao chất lượng RLNVSP ở Hà Tĩnh chưa có công trình nào nghiên cứu.
1.2. CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài tập trung làm rõ một số khái niệm cơ bản của đề tài, bao gồm: nghiệp vụ,
NVSP, rèn luyện NVSP và tổ chức hoạt động rèn luyện NVSP. Các khái niệm này
được xem xét trong mối quan hệ biện chứng với nhau.
Các khái niệm có liên quan khác cũng lần lượt được đề cập đến trong mục
những cơ sở lý luận chỉ đạo việc tổ chức các hoạt động rèn luyện NVSP cho SV.
1.2.1. Nghiệp vụ
Đề tài đã tiến hành xem xét khái niệm nghiệp vụ của một số các nhà từ điển
học và các nhà giáo dục để rút ra điểm chung trong ý kiến của các tác giả khi nói về
- -

Trong rèn luyện đã có luyện tập và rèn luyện được tiến hành trên cơ sở luyện tập.
Rèn luyện NVSP gắn liền với việc tổ chức các hoạt động, các mối quan hệ tiếp
xúc giao lưu sư phạm (trong và ngoài cơ sở đào tạo sư phạm) sao cho qua việc tham
gia các hoạt động, các mối quan hệ đó mà chuẩn bị nhân cách nhà giáo theo yêu cầu
chuẩn nghề nghiệp giáo viên cho sinh viên sư phạm.
- -

11

1.2.4. Tổ chức hoạt động rèn luyện nghiệpvụ sư phạm
Vận dụng cả ba nghĩa trong khái niệm tổ chức của Hoàng Phê (1994) (tổ chức
là làm cho thành một chỉnh thể có một cấu tạo, một cấu trúc và những chức năng
chung nhất định; làm cho nó trở thành có trật tự, có nề nếp; làm những gì cần thiết để
tiến hành một hoạt động nào đó nhằm có được hiệu quả tốt nhất…) để xem xét việc tổ
chức các hoạt động rèn luyện NVSP, có thể nói:
Tổ chức hoạt động rèn luyện NVSP trong quá trình đào tạo SP là làm cho việc
rèn luyện NVSP của SV được tiến hành theo một trật tự hợp lý, tạo thành nề nếp học
tập, rèn luyện của SV dưới sự quản lý, điều hành của một tổ chức bao gồm nhiều bộ
phận tham gia; mỗi bộ phận, với một vị thế khác nhau, công việc khác nhau nhưng
cùng thực hiện chức năng chung nhằm tiến hành các hoạt động rèn luyện NVSP cho
SV đạt hiệu quả tốt nhất.
Ba đặc trưng cơ bản trong tổ chức hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm trong
quá trình đào tạo SP là:
- Các hoạt động rèn luyện NVSP cần được tiến hành dưới sự quản lý, điều hành
của một tổ chức bao gồm nhiều bộ phận liên quan mật thiết với nhau, mỗi bộ phận có
một vị trí, vai trò nhất định nhưng cùng hướng tới thực hiện chức năng và mục đích
chung, đó là bồi dưỡng nhân cách nhà giáo cho SVSP.
- Các hoạt động rèn luyện NVSP được tiến hành theo một trật tự hợp lý (theo
quy trình) và hoạt động này phải trở thành cái nếp trong đào tạo SP.
- Mọi sự tổ chức các hoạt động này phải tính tới hiệu quả, tức là đạt chất lượng

và biết cách tổ chức các hoạt động trong, ngoài nhà trường.
Trên cơ sở những kiến thức lí luận đã trang bị dưới sự tổ chức, hướng dẫn của
giảng viên, sinh viên tham gia vào các hoạt động bọc lộ năng lực thực tiễn của
mình để từng bước làm phong phú thêm hành trang nghề nghiệp của mình, biến quá
trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo.
Hơn nữa, việc RLNVSPTX là nguồn gốc làm nảy sinh tính tích cực
hoạt động nghiệp vụ, đồng thời phát triển nhu cầu, động cơ, hứng thú nghề nghiệp
đối với sinh viên. Từ đó, sinh viên có mong muốn, khát vọng có thêm hiểu biết, kỹ
năng, kỹ xảo cần thiết cho nghề nghiệp tương lai. Đó chính là nguồn gốc để
hình thành nên phẩm chất nhân cách của người giáo viên.
1.3.2. Quan điểm chỉ đạo chung
Tổ chức các hoạt động rèn luyện NVSPTX cho SV được tiến hành trên cơ sở
những quan điểm định hướng đổi mới trong đào tạo nghề sư phạm:
1.3.2.1. Quan điểm tổ chức hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên
xuất phát từ người học, việc học
Nội dung cơ bản của quan điểm đó là: việc tổ chức họat động RLNVSP cho SV
phải xuất phát từ đặc điểm nhân cách SV, đặc điểm của quá trình học tập và rèn luyện
- -

13

của họ, hướng vào việc đáp ứng những đòi hỏi của thực tiễn giáo dục phổ thông đối
với chương trình NVSP trong giai đoạn hiện nay.
1.3.2.2. Quan điểm chuyển dịch từ kiểu đào tạo tập trung vào GV và kiến
thức sang kiểu đào tạo tập trung vào SV, vào nhu cầu và năng lực của họ
Theo quan điểm này, việc tổ chức các hoạt động rèn luyện NVSP có những
đặc trưng:
- Dưới sự hướng dẫn của GV, SVSP phát huy cao độ vai trò chủ động, tích cực
học tập, rèn luyện nghề nghiệp. Đây là đặc trưng cơ bản nhất.
- Việc tổ chức các hoạt động này được tiến hành theo một quy trình chặt chẽ

1.3.3.1. Khái niệm và các cấp độ của mục tiêu tổ chức hoạt động RLNVSPTX
Mục tiêu tổ chức hoạt động rèn luyện NVSPTX là những tiêu chí, chỉ tiêu,
những yêu cầu cụ thể đối với từng khâu, từng nhiệm vụ, từng nội dung của hoạt động
rèn luyện NVSPTX.
Mục tiêu hoạt động rèn luyện NVSPTX được xây dựng trên cơ sở cân nhắc
những điều kiện hiện có và những khả năng cụ thể của nhà trường, của giáo viên và
học sinh, sinh viên khi thực hiện quá trình rèn luyện.
Theo Payne (2003), nhiều hệ thống giáo dục phân loại các mục tiêu giáo dục và
kết quả đầu ra. Mục tiêu được phân loại như sau: a) có thể đạt được hay không thể đạt
được; b) rõ ràng hay ngầm ẩn; c) bản chất (bên trong) hay tiên nghiệm; d) cá nhân hay
thuộc về xã hội; e) chung hay cụ thể. Tuy nhiên, trong đề tài này chúng tôi tiếp cận các
cấp độ của mục tiêu dưới góc độ tổ chức hoạt động trong nhà trường sư phạm thì nó
bao gồm 3 lĩnh vực sau đây:
- Lĩnh vực nhận thức
Benjamin S. Bloom định nghĩa lĩnh vực nhận thức là bao gồm các mục tiêu cụ
thể “giải quyết việc nhớ lại hoặc nhận ra kiến thức và sự phát triển các năng lực và kỹ
năng trí tuệ” (Bloom, 1956). Học tập nhận thức, bao gồm các quá trình thuộc về trí não,
được xếp từ việc học thuộc lòng đến kỹ năng tư duy, giải quyết và đánh giá vấn đề.
- Lĩnh vực tình cảm
David R. Krathwohl, Benjamin S. Bloom và Bertram B. Masia định nghĩa lĩnh
vực tình cảm, thái độ là bao gồm các mục tiêu cụ thể “nhấn mạnh đến sắc thái của tình
cảm, một cảm xúc, hay là một mức độ của sự chấp nhận hay chối từ.” (Krathwohl,
Bloom và Masia, 1964).
- Lĩnh vực kỹ năng
Robert J.Armstrong, Terry D.Cornell, Robert E.Kranner và E.Wayne Roberson
định nghĩa lĩnh vực kỹ năng là bao gồm các hành vi mà “tập trung chủ yếu vào thần
kinh cơ bắp hay là các kỹ năng vật lý và gồm các mức độ khác nhau của sự khéo léo
của cơ bắp”. Đôi khi các kỹ năng học tập còn được gọi là “các kỹ năng thuộc tri giác-
thần kinh” bao gồm sự di chuyển của toàn bộ cơ thể kết hợp với cơ bắp.
- -

Ở Việt Nam, các bộ chuẩn nghề nghiệp GVPT đã lần lượt được ban hành.
Chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học (ban hành năm 2009) bao gồm 6 tiêu chuẩn;
trong đó có 5 tiêu chuẩn quy định năng lực sư phạm và 1 tiêu chuẩn quy định phẩm
chất sư phạm của người giáo viên. Mỗi tiêu chuẩn bao gồm các tiêu chí, là những dấu
hiệu làm căn cứ để nhận biết, đánh giá, xếp loại giáo viên. Mỗi tiêu chí được đánh giá
- -

16

theo 4 mức độ (4321) và những minh chứng (chứng cớ) được dẫn ra để xác nhận một
cách khách quan mức độ đạt được của một tiêu chí. Đây là căn cứ quan trọng để xác
định mục tiêu tổ chức các hoạt động rèn luyện NVSP cho SV. Trong đó, hình thành
cho SVSP hệ thống kỹ năng, kỹ xảo SP, được xây dựng từ các tiêu chuẩn và tiêu chí
về năng lực sư phạm cần được coi là mục tiêu hàng đầu của công tác này.
Từ mục tiêu hoạt động RLNVSP, tiến hành xây dựng và phát triển nội dung
chương trình NVSP cho phù hợp.
1.3.4. Nội dung chương trình rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thường xuyên
Chương trình đào tạo sư phạm bao gồm các khối kiến thức, trong đó kiến thức
NVSP là kiến thức nghề, tạo nên đặc trưng nghề. Khối kiến thức này tạo nên một
chương trình, gọi là chương trình NVSP. Nội dung chương trình NVSP bao gồm các
học phần, các chuyên đề và các hoạt động nhằm chuẩn bị có hệ thống kiến thức, kỹ
năng và thái độ cơ bản, cần thiết cho SVSP để họ thực hiện tốt công tác chuyên môn
của người GV khi nhận công tác ở trường phổ thông.
Nội dung chương trình rèn luyện NVSPTX cho SV bao gồm nội dung rèn luyện
của SV và nội dung hướng dẫn rèn luyện của GV.
Nội dung rèn luyện NVSPTX được quy định và thể hiện trong kế hoạch,
chương trình giáo dục - đào tạo SP, trong hệ thống sách, giáo trình, bài giảng, các tài
liệu tham khảo và nhất là hệ thống tài liệu thực hành NVSP.
Điểm thống nhất chung trong chương trình khung đào tạo giáo viên THPT của
Bộ GD&ĐT từ năm 1993 đến 2006 là phần NVSP bao gồm ba mảng kiến thức: TLH,

mỗi quy trình, việc xác định mục tiêu của hoạt động đóng vai trò quyết định.
1.3.6. Các hình thức tổ chức rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thường xuyên
1.3.6.1. Các hình thức tổ chức rèn luyện nghiệp vụ sư phạm song song
1.3.6.1.1. Luyện tập qua quá trình dạy học các học phần, chuyên đề lý thuyết
Các học phần, chuyên đề lý thuyết đóng một vai trò vô cùng quan trọng, cung
cấp cho người học những tri thức làm nền tảng, cơ sở cho hoạt động thực tiễn. Thiếu
tri thức là thiếu cơ sở để tư duy, để hình thành thế giới quan khoa học và nhờ đó để có
phương pháp luận đúng đắn trong hoạt động nhận thức và thực hành. Điều đó có nghĩa
là nếu thiếu tri thức thì hành động sẽ thiếu phương hướng. Trong quá trình học các học
phần, chuyên đề lý thuyết người học không những được trang bị hệ khống tri thức
khoa học cơ bản, chân chính và hiện đại mà ở đó người học còn được rèn luyện tư duy
khoa học, đây là một nội dung rất quan trọng trong nhiều kỹ năng mà một nhà khoa
học, nhà sư phạm cần phải có và phải trau dồi.
1.3.6.1.2. Luyện tập qua hình thức kiểm tra giữa kỳ và thi hết môn
Kiểm tra, đánh giá được hiểu là sự theo dõi, tác động của người kiểm tra đối với
người học nhằm thu hút những thông tin cần thiết để đánh giá.
- -

18

Đánh giá có nghĩa là xem xét mức độ phù hợp của một tập hợp các thông tin
thu được với một tập hợp các tiêu chí thích hợp của mục tiêu đã xác định nhằm đưa ra
quyết định theo một mục đích nào đó.
Thông qua kiểm tra kết quả học tập của sinh viên trên lớp, thi giữa kỳ và thi hết
môn có thể phát hiện kịp thời trình độ và năng lực nhận thức của họ từ đó kịp thời phát
hiện, xem xét những chỗ đúng sai trong vốn hiểu biết của họ trên cơ sở đối chiếu với
yêu cầu đã đề ra. Bên cạnh đó kiểm tra còn có tác dụng củng cố tri thức, kỹ năng kỹ
xảo và phát triển trí tuệ của người học thông qua kiểm tra, đánh giá trên cơ sở đó làm
phát triển những năng lực, phẩm chất trí tuệ và những phẩm chất ý chí, đạo đức. Mặt
khác kiểm tra, đánh giá tri thức, kỹ năng, kỹ xảo giúp cho người học có nhu cầu, động cơ

rèn luyện đồng thời nhiều yếu tố khác nhau ở người giáo viên. Trong đó, cần đặc
biệt coi trọng việc rèn luyện các phẩm chất nhân cách như: Tự trau dồi nghề
nghiệp, tính kiên nhẫn, tính khách quan cảm xúc, sự đồng cảm… Đây cũng là
những gợi ý cho công tác đào tạo giáo viên trong trường sư phạm. Công việc giáo
dục và đào tạo con người là một hoạt động rất đặc thù, vừa mang tính khoa học,
vừa mang tính sáng tạo và nghệ thuật. Đặc trưng nghề nghiệp tạo nên những khó
khăn nhất định đối với giáo viên và khiến cho nghề dạy học có những yêu cầu đặc
biệt đối với người làm nghề. Giáo viên không chỉ là người am hiểu về khoa học
giảng dạy mà còn là người nghệ sĩ. Vì vậy, công cụ quan trọng của nghề dạy học là
toàn bộ nhân cách của người giáo viên.
Một trong những khía cạnh thể hiện rõ nhất tính không rập khuôn của nghề dạy
học là cách thức giáo viên ứng phó với những tình huống sư phạm. Chính ở khía cạnh
này, những phẩm chất tâm lí cần thiết đối với nghề dạy học được bộc lộ rõ nét nhất, là
lúc người giáo viên thể hiện rõ nhất năng lực nghề nghiệp của bản thân. Đồng thời,
còn là lúc để người giáo viên tự rèn luyện tư duy sư phạm linh hoạt, mềm dẻo, khả
năng tự chủ, khả năng hiểu học sinh, khả năng ứng xử sư phạm Thực tiễn giáo dục
cho thấy, giáo viên thường xuyên phải đối mặt với các tình huống sư phạm đa dạng,
đòi hỏi có những cách giải quyết hợp lí, hợp tình, khéo léo, qua đó thực hiện được
chức năng giáo dục học sinh. Một tình huống như nhau nhưng với các đối tượng khác
nhau, ở những thời điểm khác nhau sẽ có những cách giải quyết không hoàn toàn
giống nhau.
1.3.6.2. Các hình thức rèn luyện sau khi học xong các học phần lý thuyết
1.3.6.2.1. Luyện tập qua học phần rèn luyện NVSP thường xuyên
Đây là hình thức tổ chức cho SV rèn luyện tay nghề trong các trường sư phạm
do các giảng viên Bộ môn Tâm lý và Giáo dục và Bộ môn Phương pháp phụ trách.
Rèn luyện NVSPTX rất quan trọng vì giáo viên có thể “bóc tách” từng loại kỹ năng để
tổ chức cho sinh viên luyện tập một cách cẩn thận, từng bước luyện các kỹ năng cơ
bản, sau đó luyện các kỹ năng chuyên sâu. Hoạt động này có thể được tiến hành trong
- -


rộng các kiến thức, kỹ năng đã học ở trường đại học. Thực tập sư phạm được coi là
giai đoạn kiểm tra sự chuẩn bị về mặt lý luận cũng như thực hành của sinh viên đối
với công tác độc lập của họ và hình thành những khả năng rộng lớn trong việc sáng
tạo giải quyết những nhiệm vụ giáo dục, giáo dưỡng của người giáo viên tương lai.
- -

21

Như vậy, thực tập sư phạm đã thực sự trở thành hoạt động thực hành nhằm
vận dụng kiến thức, kỹ năng, hình thành năng lực thực tiễn cho sinh viên. Thực tập
sư phạm là khâu hết sức quan trọng trong việc đào tạo năng lực sư phạm cho người
giáo viên trong tương lai. “Tất cả sinh viên các trường đại học sư phạm trong quá
trình học tập đều phải tham gia thực tập sư phạm từ năm thứ I (từ đầu học kỳ II). Đó
là điều kiện cần thiết để hình thành khuynh hướng nghề nghiệp - sư phạm, hình thành
nhân cách của người giáo viên”. Theo quan niệm trên thì thực tập sư phạm được tiến
hành trong suốt quá trình đào tạo giáo viên ở trường sư phạm cũng như ở các cơ sở
thực tập sư phạm.
Thực tập sư phạm đã trở thành một khâu trong chương trình đào tạo người giáo
viên tương lai khi xem xét nó như một quá trình dạy học để thực hiện những nhiệm vụ
dạy học cơ bản như rèn luyện kỹ năng, kiểm tra và đánh giá kết quả tổng hợp của cả
khoá học của giáo sinh sư phạm. Với quan niệm này, thực tập sư phạm được thực hiện
theo những nguyên tắc và phương pháp dạy học.
Thực tập sư phạm được coi là một bước trong quy trình rèn luyện kỹ năng sư
phạm để sinh viên tiến hành rèn luyện kỹ năng sư phạm bằng việc thực hiện một cách
tương đối độc lập nhiệm vụ dạy học và giáo dục. Như vậy, việc rèn luyện kỹ năng sư
phạm được tiến hành trong suốt quá trình đào tạo giáo viên và thực tập sư phạm là giai
đoạn luyện tập nâng cao ở trên đối tượng thực.
Thực tập sư phạm lại được coi là hoạt động thực hành của sinh viên trong
mối quan hệ tương tác với các yếu tố khác của quá trình sư phạm. Khi sinh viên thực
hiện nhiệm vụ thực tập sư phạm có nghĩa là họ đang tham gia vào các mối quan hệ

Bên cạnh đó, việc luyện tập qua thái độ và cách cư xử trong môi trường sư
phạm, trong các hoạt động đoàn thể và các hoạt động văn hóa - xã hội cũng là một
hình thức có hiệu quả trong rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên.
1.3.7. Những điều kiện cần thiết để tổ chức các hoạt động rèn luyện nghiệp
vụ sư phạm thường xuyên cho sinh viên
- Những điều kiện về nhận thức đúng đắn đối với sự nghiệp giáo dục và đào tạo
sư phạm nói chung và đổi mới công tác tổ chức hoạt động rèn luyện NVSP nói riêng
của mọi người, nhất là của giáo viên, sinh viên sư phạm và các cán bộ lãnh đạo các
đơn vị đào tạo của bộ môn, khoa và trường.
- Những điều kiện về thái độ của bản thân sinh viên và giáo viên trong quá trình
tổ chức hoạt động rèn luyện NVSP. Sinh viên cần nhận thức đúng đắn việc rèn luyện
nghiệp vụ sư phạm thường xuyên là phải thường xuyên rèn luyện, giảng viên phải làm
cho sinh viên có ý thức rèn luyện toàn diện. Đây là điều kiện tốt cho sinh viên rèn
luyện tay nghề, kỹ năng, kỹ xảo. Đặc biệt vấn đề xây dựng động cơ học tập đúng đắn
- -

23

cho sinh viên trong bối cảnh “khủng hoảng” đầu ra, ra trường khó tìm kiếm việc làm
hiện nay là một trong những rào cản lớn trong học tập và rèn luyện NVSP.
- Những điều kiện về cơ sở vật chất (phòng học, phương tiện kỹ thuật dạy học,
tài liệu dạy học…) và các điều kiện khác như: nguồn nhân lực (đội ngũ cán bộ giảng
dạy và phục vụ giảng dạy nói chung và NVSP nói riêng), các chế độ đãi ngộ đối với
những người tham gia và kinh phí cho việc tổ chức các hoạt động rèn luyện NVSP…

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Bằng các phương pháp nghiên cứu lý luận, chương 1 của đề tài đã làm rõ các khái
niệm cơ bản (khái niệm công cụ) của đề tài như: nghiệp vụ, nghiệp vụ sư phạm, rèn
luyện nghiệp vụ sư phạm và tổ chức hoạt động rèn luyện NVSP. Ngoài ra các khái niệm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status