PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TÂN PHÚ
Đơn vị: TRƯỜNG TIỂU HỌC THANH SƠN
Mã số:
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM :
TÍCH CỰC HOÁ HOẠT ĐỘNG
HỌC TẬP CỦA HỌC SINH Ở MÔN
ĐẠO LỚP 1.
Người thực hiện: LÊ THỊ XUÂN HƯƠNG
Lĩnh vực nghiên cứu:
- Quản lý giáo dục
- Phương pháp dạy học bộ môn: Đạo đức
- Lĩnh vực khác:
Có đính kèm:
Mô hình Phần mềm Phim ảnh Hiện vật khác
Năm học: 2010 - 2011
BM 01-Bia SKKN
SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC
I. THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN
1. Họ và tên: LÊ THỊ XUÂN HƯƠNG
2. Ngày tháng năm sinh: 27/10/1976
3. Nam, nữ: Nữ
4. Địa chỉ: Trường TH Thanh Sơn
5. Điện thoại: (CQ)/ 0613663316 (NR); ĐTDĐ:
6. Fax: E-mail:
7. Chức vụ: Giáo viên.
8. Đơn vị công tác: Trường TH Thanh Sơn
II. TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO
- Học vị (hoặc trình độ chuyên môn, nghiệp vụ) cao nhất: Đại học.
- Năm nhận bằng: 2007
- Chuyên ngành đào tạo: Cử nhân Tiểu học
tiểu học nói chung và ở khối Một nói riêng là hết sức cần thiết.
Năm học 2009 – 2010 là năm học đầu tôi được phân công dạy lớp một, số
HS yêu thích và tích cực trong học tập môn Đạo đức là rất thấp, kết quả học tập
chưa cao. Học sinh còn thụ động trong các giờ học. Khả năng phân tích tình huống
của HS còn hạn chế. Đứng trước các tình huống giả định trong bài học và một số
tình huống trong cuộc sống, HS chưa thể hiện được thái độ đúng, chưa tìm được
cách ứng xử phù hợp nhất. Đa số các em thiếu kĩ năng thực hành các chuẩn mực
đạo đức.
Qua một học kì giảng dạy ở khối lớp Một tôi rút ra được một số kinh nghiệm
dạy để HS học tốt môn học Đạo đức, tôi đã áp dụng từ HKII năm học 2009 – 2010
và đạt kết quả khả quan hơn (trình bày ở phần sau). Trong năm học này tôi vẫn áp
dụng các kinh nghiệm đã có vào việc dạy môn Đạo đức.
II. TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
1. Cơ sở lý luận
Dạy học môn Đạo đức cần xuất phát từ quyền trẻ em, từ lợi ích của trẻ em,
đến giáo dục trách nhiệm, bổn phận của học sinh. Cách tiếp cận đó sẽ giúp cho
việc dạy môn Đạo trở nên nhẹ nhàng và hiệu quả hơn. HS lĩnh hội kiến thức một
3
BM03-TMSKKN
cách tự nguyện, thực hiện chuẩn hành vi một cách tự giác, tránh được sự gò ép, áp
đặt trước đây.
Dạy học môn Đạo đức chỉ đạt được hiệu quả khi khơi dậy được ở HS niềm
hứng thú và tích cực, chủ động tham gia vào quá trình nhận thức. Dạy học môn
Đạo đức phải là quá trình GV tổ chức, hướng dẫn HS hoạt động, phát huy vốn kinh
nghiệm và thói quen đạo đức của Học sinh trên cơ sở đó các em tự khám phá
chiếm lĩnh tri thức mới, kĩ năng mới.
Đối với HS lớp Một, nhận thức còn cảm tính, trực tiếp, cụ thể và hiếu động,
vì vậy nội dung giáo dục cần chuyển tải đến HS một cách nhẹ nhàng, gần gũi sinh
động và hấp dẫn thông qua các hoạt động. (Phương pháp dạy học các môn học ở
lớp 1, Tập 2 – Nhà xuất bản giáo dục – 2007)
Gọn gàng, sạch sẽ.
Giữ gìn sách vở đồ dùng học tập.
Quan hệ của HS với gia đình
+ Yêu quý những người thân trong gia đình,
+ Lễ phép vâng lời người trên, nhường nhịn em nhỏ.
4
*Các bài : Gia đình em
Lễ phép với anh chị, nhường nhị em nhỏ.
Quan hệ của HS với nhà trường
+ Thực hiện tốt nội quy nhà trường. Yêu quý thầy cô giáo, bạn bè, trường
lớp.
+ Lễ phép vâng lời thầy cô giáo.
+ Đoàn kết, gắn bó với bạn bè.
*Các bài : Đi học đề và đúng giờ.
Trật tự trong trường học.
Lễ phép vâng lời thầy giáo, cô giáo.
Em và các bạn.
Quan hệ của HS cộng đồng và xã hội
+ Yêu quê hương, đất nước. Biết tên nước Việt Nam, Quốc kì, Quốc huy,
ngày Quốc khánh. Biết hát Quốc ca. Nghiêm trang khi chào cờ.
+ Đi bộ đúng quy định.
+ Mạnh dạn tự tin khi giao tiếp. Biết chào hỏi, tạm biệt, cảm ơn, xin lỗi.
*Các bài : Nghiêm trang khi chào cờ.
Đi bộ đúng quy định.
Cảm ơn và xin lỗi.
Chào hỏi và tạm biệt.
Quan hệ của HS môi trường tự nhiên.
+ Gần gũi, yêu thiên nhiên. Biết bảo vệ cây và hoa.
*Các bài : Bảo vệ cây và hoa nơi công cộng.
Việc dạy môn Đạo Đức như thế nào để đạt được hiệu quả cao nhất, phát huy
lớp học. Tình huống phải để mở để học sinh tự giải quyết. Tôi định hướng để học
sinh hiểu rõ vai của mình và ứng xử phù hợp, không bị lạc đề. Khi xử dụng
phương pháp này tôi đã lưy ý một số vấn đề như : Gây hứng thú và sự chú ý của
học sinh; Tạo điều kiện để học sinh phát huy óc sáng tạo; Tôi khích lệ để học sinh
có thái độ và hành vi đúng đắn theo chuẩn mực hành vi đạo đức.
Sau khi HS đóng vai xong, việc cần thiết phải làm là cho học sinh thảo
luận nhóm, nhận xét cách ứng xử. Điều không thể thiếu là tôi cần chốt lại cách ứng
xử cần thiết trong cuộc sống cho học sinh nắm bắt.
Phương pháp này tôi sử dụng trong các bài :
Bài 4 : Gia đình em - Hoạt động 3 (Tiết 1).
Bài 5 : Lễ phép với anh chị, nhường nhịn em nhỏ - Hoạt động 2 (Tiết 2)
Bài : Thực hành kĩ năng giữa kì I - Hoạt động 2
Bài 7 : Đi học đều và đúng giờ - Hoạt động 2 (Tiết 1) ; Hoạt động 1
(Tiết 2).
Bài 9 : Lễ phép vâng lời thầy giáo, cô giáo – Hoạt động 1 (Tiết 1)
Bài 10 : Em và các bạn – Hoạt động 1 (Tiết 2).
Bài 12 : Cảm ơn và xin lỗi – Hoạt động 2 (Tiết 1).
Bài 13 : Chào hỏi và tạm biệt – Hoạt động 2 (Tiết 2).
Bài 14 : Bảo vệ cây và hoa nơi công cộng – Hoạt động 2 (Tiết 2).
Phương pháp Trò chơi :
Tôi đưa ra trò chơi cho HS tham gia. Tạo điều kiện cho HS phát huy tính
tích cực chủ động, sáng tạo, qua đó HS phát hiện và chiếm lĩnh những chuẩn mực
hành vi đạo đức. Nội dung Trò chơi minh hoạ một cách sinh động các mẫu hành vi
đạo đức. Tôi hướng tới việc hình thành cho HS năng lực quan sát, nhận xét, đánh
giá hành vi của người khác. Tôi hướng dẫn để HS tập luyện những kĩ năng giúp
các em thể hiện hành vi một cách đúng đắn. Khi đưa ra trò chơi tôi cần xác định
được : Qua trò chơi việc tập luyện hành vi đạo đức được tiến hành một cách nhẹ
nhàng, sinh động, không khô khan nhàm chán, lôi cuốn HS vào cuộc một cách
hứng thú, có tinh thần trách nhiệm, giải toả được căng thẳng mệt mỏi cho HS. Các
trò chơi tôi đã áp dụng trong các bài học như :
của HS vào quá trình học tập. Tạo điều kiện cho HS chia sẻ kinh nghiệm, bày tỏ ý
kiến để giải quyết vấn đề mà tôi đưa ra. Khi sử dụng phương pháp này tôi chú ý
đến nội dung, hình thức tổ chức nhóm, thời gian cho HS thảo luận. Nội dung thảo
luận là những câu hỏi, những tình huống, hay tranh vẽ…Ngoài ra hình thức thảo
luận nhóm tôi còn sử dụng sau mỗi tiểu phẩm, mỗi lần HS đóng vai, sau khi HS
đưa ra cách ứng xử ở mỗi tình huống.
Phương pháp này tôi áp dụng trong các bài :
Bài 2 : Hoạt động 2 – (Tiết 2).
Bài 3 : Hoạt động 1, Hoạt động 3 – (Tiết 1)
Bài 4 : Hoạt động 1 – (Tiết 1).
Bài 5 : Hoạt động 1 – (Tiết 1) ; Hoạt động 2 – (Tiết 2)
Bài 6 : Hoạt động 1 – (Tiết 1) ; Hoạt động 3 (Tiết 2)
Bài 7 : Hoạt động 1 ; Hoạt động 2 (Tiết 1) ; Hoạt động 1 – (Tiết 2)
Bài 12 : Hoạt động 2 – (Tiết 1)
Bài 13 : Hoạt động 1 – (Tiết 2)
Bài 14 : Hoạt động 1- (Tiết 2)
Phương pháp đàm thoại :
Phương pháp này tôi đã sử dụng rộng rãi trong các giờ lên lớp nhằm giúp
HS nắm được kiến thức, kĩ năng một cách có hệ thống. Khi sử dụng phương này,
tôi phải sử dụng ngôn ngữ đơn giản, trong sáng, dễ hiểu. Khi diễn đạt cần rõ ràng.
Khi đặt câu hỏi cần ngắn gọn dễ hiểu, câu hỏi phải vừa sức. Phải chú ý lấy tri thức
và khái niệm mà HS đã biết làm xuất điểm. Khi HS trả lời tôi để cho HS chủ động,
tự nhiên phát biểu theo cách hiểu của các em, tôi chú ý uốn nắn câu trả lời để đạt
được mục tiêu của bài học.
7
Ngoài ra, tôi còn sử dụng một số phương pháp khác như : Phương pháp nêu
gương ; Phương pháp phỏng vấn, Phương pháp thực hành luyện tập, Phương
pháp phân tích tiểu phẩm, Phương pháp dạy học dùng ngôn ngữ …
Mỗi phương pháp dạy học đều có những ưu, khuyết điểm, không có phương
pháp nào là vạn năng. Vì vậy trong mỗi giờ học tôi căn cứ vào mục tiêu, nội dung
- Chất lượng bài soạn của bản thân tôi có hiệu quả hơn so với trước kia.
Tôi đang thực hiện trong năm học này, đồng thời sẽ đúc kết thêm kinh
nghiệm để thực hiện ở những năm học tới, nhằm nâng cao chất lượng giáo dục ở
môn học này.
Kết quả thống kê :
Kết quả học tập
Thời điểm
Tỉ lệ HS
Hoàn thành tốt
A
+
Tỉ lệ
Hoàn thành
A
Tỉ lệ HS
Chưa hoàn thành.
B
HKI 2009 – 2010 20% 73,3% 6.7%
8
HKII 2009 – 2010 56,7% 43,3% /
Những tháng đầu của năm
học: 2010 – 2011
60% 40%
IV. ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG
- Giáo viên cần chuẩn bị tốt về kiến thức, phương pháp lên lớp. Chuẩn bị tốt
các đồ dùng dạy học, sử dụng khoa học, hợp lí, có hiệu quả.
- Khi soạn bài cần quan tâm đến từng đối tượng học sinh. Hệ thống câu hỏi,
tình huống, câu chuyện… phù hợp với nội dung bài học, trình độ HS.
- Sau mỗi tiết học học cần đưa ra cho HS hoạt động nối tiếp, chỉ ra cho HS
các hoạt động cần phải thực hiện, vận dụng bài học trong thực tiễn, và chuẩn bị
Sáng kiến kinh nghiệm đã được triển khai áp dụng: Tại đơn vị Trong Ngành
1. Tính mới (Đánh dấu X vào 1 trong 2 ô dưới đây)
- Có giải pháp hoàn toàn mới
- Có giải pháp cải tiến, đổi mới từ giải pháp đã có
2. Hiệu quả (Đánh dấu X vào 1 trong 4 ô dưới đây)
- Hoàn toàn mới và đã triển khai áp dụng trong toàn ngành có hiệu quả cao
- Có tính cải tiến hoặc đổi mới từ những giải pháp đã có và đã triển khai áp dụng
trong toàn ngành có hiệu quả cao
- Hoàn toàn mới và đã triển khai áp dụng tại đơn vị có hiệu quả cao
- Có tính cải tiến hoặc đổi mới từ những giải pháp đã có và đã triển khai áp dụng tại
đơn vị có hiệu quả
3. Khả năng áp dụng (Đánh dấu X vào 1 trong 3 ô mỗi dòng dưới đây)
- Cung cấp được các luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chính sách:
Tốt Khá Đạt
- Đưa ra các giải pháp khuyến nghị có khả năng ứng dụng thực tiễn, dễ thực hiện và
dễ đi vào cuộc sống: Tốt Khá Đạt
- Đã được áp dụng trong thực tế đạt hiệu quả hoặc có khả năng áp dụng đạt hiệu quả
trong phạm vi rộng: Tốt Khá Đạt
XÁC NHẬN CỦA TỔ CHUYÊN MÔN THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
10
BM04-NXĐGSKKN
11