Đảm bảo nhu cầu năng lượng dầu khí cho sự tăng trưởng kinh tế việt nam trong tiến trình hội nhập quốc tế - Pdf 25

1
MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Năng lượng nói chung và năng lượng dầu khí nói riêng là nhân tố rất quan trọng
đóng góp cho sự phát triển bền vững đối với mọi quốc gia, đặc biệt là các quốc gia
đang phát triển như Việt Nam. Hầu hết các hoạt động sản xuất, kinh doanh, vận chuyển
và sinh hoạt của con người đều cần đến dầu khí. Ngày nay để đảm bảo cung cầu của bất
kỳ một loại hàng hóa nào đó kể cả năng lượng, hầu hết các quốc gia đều thông qua hoạt
động của thị trường. Vì tính quan trọng và thiết yếu của dầu khí, nên vấn đề cung cầu
của nó luôn được sự quan tâm và chịu tác động rất lớn của các chính phủ trên thế giới.
Sau hơn hai thập niên song hành cùng tăng trưởng kinh tế, lượng dầu khí được
sử dụng ở Việt Nam không ngừng tăng nhanh và xu hướng này được dự báo sẽ tiếp tục
trong nhiều năm tới. Do vậy, đảm bảo nhu cầu dầu khí là vấn đề vô cùng hệ trọng đối
với sự tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam trong tương lai. Vì thế ngay từ khi bắt đầu
chuyển đổi mô hình kinh tế từ kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường có sự quản
lý của nhà nước, Việt Nam đã xây dựng thị trường xăng dầu (các sản phẩm chủ yếu của
dầu khí) nhằm đảm bảo cung cầu trong nước ổn định và hiệu quả. Thị trường xăng dầu
trong nước hiện nay tuy phát triển về mặt số lượng các doanh nghiệp (đầu mối nhập
khẩu và đại lý phân phối) tham gia, nhưng tính cạnh tranh của thị trường không cao vì
tình trạng độc quyền nhóm của các doanh nghiệp đầu mối. Trong khi đó sự can thiệp
của chính phủ thường kém hiệu quả và có nhiều bất ổn. Dẫn chứng, việc kiểm soát giá
xăng dầu để hạn chế sức mạnh độc quyền, thường được thực hiện kém minh bạch và
không theo xu hướng giá thế giới, khiến cho giá bán trong nước bị bóp méo, dẫn đến
thiệt hại cho người tiêu dùng và cả nền kinh tế. Vấn đề trợ cấp và thuế xăng dầu cũng
thế, rất nhiều bất ổn. Khi thì trợ cấp quá nhiều, tạo gánh nặng chi ngân sách nhưng
khiến việc sử dụng xăng dầu trong nước lãng phí và kém hiệu quả, ngoài ra còn dẫn đến
tình trạng xuất lậu qua các nước láng giềng. Khi thì đánh thuế phí vào xăng dầu quá
cao, khiến người tiêu dùng bị thiệt hại và gây khó khăn cho các hoạt động kinh tế trong

động càng mạnh mẽ đến kinh tế trong nước đặc biệt là ngành dầu khí, lĩnh vực mà hàng
năm Việt Nam phải xuất khẩu hầu hết lượng dầu thô khai thác được và nhập khẩu
khoảng 2/3 lượng xăng dầu và khí sử dụng (trước năm 2009 là gần 100%). Theo số liệu
thống kê năm 2013 của Cơ quan quản lý thông tin năng lượng - Hoa Kỳ (EIA) thì trữ
lượng dầu khí Việt Nam ở mức khá, nếu tính quy đổi thì tổng trữ lượng dầu khí khoảng
8,78 tỉ thùng dầu (riêng dầu là 4,4 tỉ thùng). Tuy nhiên các mỏ có trữ lượng lớn khai
thác mạnh trước đây nay dần cạn kiệt, trong khi các mỏ mới phát hiện thì lại khó khai
thác vì vấn đề tranh chấp lãnh hải với Trung Quốc, hiện nay khả năng cung ứng xăng
3
dầu và khí từ nguồn sản xuất trong nước còn hạn hẹp chỉ đáp ứng khoảng 1/3 so với
nhu cầu. Trong khi nhu cầu dầu khí không ngừng tăng lên, thì việc sử dụng năng lượng
nói chung và dầu khí nói riêng ở Việt Nam còn rất lãng phí, thể hiện qua: cơ cấu sử
dụng năng lượng của nền kinh tế không hợp lý (phát triển quá nhiều các ngành sản xuất
hao tốn nhiên liệu như: xi măng, sắt thép); sử dụng phổ biến các công nghệ, máy móc
thiết bị lạc hậu; phương tiện giao thông công cộng thì chậm phát triển, nhưng phương
tiên cá nhân lại tăng nhanh quá mức v.v… Nếu thực trạng cung cầu dầu khí nêu trên
vẫn tiếp diễn, thì nguy cơ thiếu hụt năng lượng dầu khí để đáp ứng yêu cầu tăng trưởng
kinh tế của Việt Nam sẽ sớm thành hiện thực ! Vì những lý do nêu trên, tác giả chọn đề
tài “Đảm bảo nhu cầu năng lượng dầu khí cho sự tăng trưởng kinh tế Việt Nam, trong
tiến trình hội nhập quốc tế ” làm luận án tiến sĩ.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN
Từ cách đặt vấn đề, mục đích và các câu hỏi nghiên cứu của luận án bao gồm:
Thứ nhất, xây dựng và lựa chọn mô hình để nghiên cứu mối quan hệ giữa năng lượng
dầu khí sử dụng và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam.
Thứ hai, phân tích cung và cầu dầu khí ở Việt Nam và những tác động của Chính phủ
vào thị trường xăng dầu, cụ thể là các vấn đề: kiểm soát độc quyền; điều tiết giá bán,
thuế phí và trợ cấp xăng dầu.

4. NHỮNG ĐIỂM MỚI VÀ Ý NGHĨA CỦA LUẬN ÁN
Nhìn chung cho đến nay những nghiên cứu về đề tài năng lượng của Việt Nam
chưa nhiều, đặc biệt là của các tác giả trong nước. So với các nghiên cứu trước, luận án
sẽ có điểm khác biệt cơ bản là về cách tiếp cận, phương pháp luận và phương pháp
nghiên cứu. Nếu luận án này được bảo vệ thành công, những đóng góp mới:
Về mặt lý luận, lượng hóa mối quan hệ giữa năng lượng dầu khí sử dụng và tăng
trưởng kinh tế ở Việt Nam, theo khung lý thuyết cầu và tăng trưởng kinh tế. Các kết
quả ước lượng là cơ sở cho những nghiên cứu về năng lượng dầu khí ở Việt Nam. Cụ
thể:
Thứ nhất, ước lượng hệ số co giãn cầu dầu khí theo GDP bình quân đầu người ở
Việt Nam và giá dầu khí thế giới. Tương tự thực hiện ước lượng hệ số co giãn cầu đối
với các sản phẩm dầu khí được sử dụng rộng rãi ở Việt Nam như: xăng, dầu Diesel
(Diesel Oil - DO), dầu nhiên liệu đốt (Fuel Oil - FO).
5
Thứ hai, ước lượng hệ số co giãn cầu dầu khí theo GDP xanh dầu khí/người ở
Việt Nam và giá dầu khí thế giới. GDP xanh dầu khí là GDP có loại trừ các chi phí ô
nhiễm môi trường khi sử dụng và khai thác tài nguyên dầu khí.
Thứ ba, phân tích cung cầu và thị trường xăng dầu khí Việt Nam và những tác
động từ sự can thiệp của Chính phủ đối với thị trường này.
Về mặt thực tiễn, đóng góp của luận án là hỗ trợ cho các nhà hoạch định, có cơ
sở khoa học để xem xét và ban hành các chính sách liên quan đến vấn đề đảm bảo nhu
cầu năng lượng nói chung và dầu khí nói riêng ở Việt Nam.
5. KẾT CẤU CỦA LUẬN ÁN
Luận án bao gồm :
Mở đầu
Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu;
Mục đích nghiên cứu của luận án;

– Thị trường dầu khí (xăng dầu và LPG) ở Việt Nam.
– Những ảnh hưởng do sự can thiệp của Chính phủ đến thị trường xăng dầu ở
Việt Nam.
Chương 4: Giải pháp đảm bảo nhu cầu năng lượng dầu khí cho tăng trưởng kinh tế ở
Việt Nam đến năm 2030.
– Dự báo và định hướng chiến lược phát triển ngành dầu khí Việt Nam.
– Quan điểm đảm bảo nhu cầu dầu khí ở Việt Nam.
– Những mục tiêu cần thực hiện để đảm bảo nhu cầu năng lượng dầu khí cho
sự tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam trong tiến trình hội nhập.
– Đề xuất các nhóm giải pháp thực hiện.
Kết luận
7
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Đề tài nghiên cứu của luận án gồm 2 phần chính: (i) xây dựng và lựa chọn mô hình
dự báo nhu cầu sử dụng dầu khí ở Việt Nam trong tương lai; (ii) phân tích cung cầu dầu
khí ở Việt Nam trong những năm qua kết hợp với các kết quả dự báo, đưa ra các giải
pháp thực hiện để đảm bảo nhu cầu dầu khí cho tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam. Lý
thuyết để tác giả sử dụng làm cơ sở nghiên cứu tương ứng gồm: (i) lý thuyết về mối
quan hệ giữa năng lượng sử dụng và tăng trưởng kinh tế; (ii) lý thuyết phân tích cung
cầu đối với hàng hoá thiết yếu (năng lượng dầu khí). Khung lý thuyết về mối quan hệ
giữa năng lượng sử dụng và tăng trưởng kinh tế là cơ sở rất quan trọng, có liên quan
đến lý thuyết cầu năng lượng và lý thuyết tăng trưởng kinh tế. Từ khung lý thuyết về

Bank, trong đó các tác giả có trình bày tổng kết những dạng mô hình dự báo nhu cầu
năng lượng, được sử dụng trên thế giới từ đầu thập niên 70 thế kỷ trước đến năm 2009.
Để dự báo nhu cầu năng lượng, nhiều chuyên gia xây dựng và sử dụng mô hình kinh tế
lượng, những mô hình này rất đa dạng và phổ biến khắp toàn cầu. Các biến thông dụng
được sử dụng trong các mô hình là: tổng năng lượng sử dụng; năng lượng sử dụng theo
đầu người; GDP; GDP/ người; giá năng lượng; cường độ năng lượng, dân số, lực lượng
lao động, cơ cấu nền kinh tế … [82, pp. 43 – 45]. Mô hình dự báo có thể sử dụng để xác
định tổng cầu năng lượng của nền kinh tế hoặc nhu cầu năng lượng của từng lĩnh vực
riêng biệt như: giao thông, công nghiệp, tiêu thụ ở hộ gia đình v.v… hoặc tổng cầu của
một loại năng lượng sơ cấp (dầu, khí, than, thuỷ điện, năng lượng hạt nhân v.v…). Theo
Bhattacharyya và Timilsina, cơ sở để các chuyên gia xây dựng mô hình dự báo nhu cầu
năng lượng chủ yếu là lý thuyết cầu. Về dạng hàm và kỹ thuật tính toán, nhiều chuyên
gia sử dụng dạng hàm và kỹ thuật tuyến tính log, vì khả năng linh hoạt của dạng hàm
này, tiêu biểu có: Berndt & Wood (1975), Pindyck (1979), Uri (1979), Siddayao (1987),
Paga & Birol (1994), Christopoulos (2000), Dahl & Erdogan (2000), Buranakunaporn
& Oczkowsky (2007), Pokharel (2007) v.v… Các chuyên gia cho rằng, khi sử dụng mô
hình dự báo nhu cầu năng lượng với kỹ thuật log tuyến tính sẽ cho trực tiếp kết quả của
hệ số co giãn cầu tốt hơn so với kỹ thuật tuyến tính thông thường. Vì lý do quan trọng
này, trong luận án tác giả lựa chọn mô hình dự báo nhu cầu năng lượng dầu khí của
Việt Nam theo dạng :
ln ln ln
cc
t t t t
E a b Y c P e   
( I ) với E
c
t
: là lượng dầu khí sử
dụng tính theo đầu người trong năm t; Y
c

sử dụng mô hình kinh tế lượng
ln ln ln
cc
t t t t
E a b Y c P e   
( I ), đồng thời kết hợp với
mô hình động có biến trễ
1
ln( ) ln ln( ) ln( ) ln( )
c c c
t t t t t
E a b Y c P d E e

    
( II ) , để ước
lượng hệ số co giãn cầu trong dài hạn và ngắn hạn. Kết quả nghiên cứu hệ số co giãn
cầu về xăng theo thu nhập của các quốc gia này trong khoảng từ 0,136 đến 0,652; hệ số
co giãn cầu theo giá trong khoảng từ - 0,188 đến -0,081, trừ trường hợp Algeria và Arab
Saudi là 0,082 và 0,002. Lý giải hệ số co giãn cầu xăng theo giá của 2 quốc gia có giá
trị dương (không phù hợp lý thuyết cầu), Bhattacharyya và Blake cho rằng vì chính phủ
đã trợ giá xăng rất mạnh, nên nhu cầu nội địa vẫn gia tăng mặc dù giá thế giới đã tăng
cao. Thực tế hiện nay cho thấy, vẫn còn nhiều quốc gia OPEC có chính sách trợ giá rất
mạnh cho nhiên liệu sử dụng nội địa. Trước đây nhiều quốc gia ở châu Á ( trong đó có
Việt Nam ) cũng áp dụng chính sách này, theo nghiên cứu của McRae (1994), giai đoạn
10
1973 – 1987 hệ số co giãn cầu xăng theo giá của Đài Loan cũng có giá trị dương là
0,02. [69, p. 169]


mô hình hiệu chỉnh sai số (Error Correction Model – ECM). Một số tài liệu đáng chú ý
nghiên cứu theo hướng này:
 Phung Thanh Binh (2011), “Energy Consumption and Economic Growth in
Vietnam: Threshold Cointegration and Causality Analysis”, International Journal of
Energy Economics and Policy, Vol.1, No. 1, 1 – 17.
 Muhittin Kaplan, Ilhan Ozturk, Huseyin Kalyoncu (2011), “Energy Consumption
and Economic Growth in Turkey: Cointegration and Causality Analysis”, Romanian
Journal of Economic Forecasting, February 2011, 31 – 41.
 Anjum Aqueel and Mohammmad Sabihuddin Butt (2001), “The relationship
between energy consumption and economic growth in Pakistan”, Asia – Pacific
Development Journal, Vol.8, No.2, 101 – 110.
Trào lưu nghiên cứu kỹ thuật và mô hình nêu trên khá phổ biến trên thế giới, nhưng
theo một số chuyên gia, tiêu biểu là Harvey (1997) cho rằng việc quá tin cậy vào kỹ
thuật hồi quy đồng tích hợp là “không cần thiết hoặc lạc lối hoặc cả hai”. Harvey phát
biểu, có sự hạn chế mang tính hệ thống đối với phương pháp này và đề nghị thay thế
bằng mô hình chuỗi thời gian có cấu trúc (Structural Time Series) [64, p.9], [ 82, p.31].
Mô hình này sau đó được Hunt (2003) và Rabbaie (2006) áp dụng để dự báo nhu cầu
năng lượng của nhiều quốc gia, cụ thể là hai công trình nghiên cứu sau đây:
 Lester C. Hunt, Guy Judge and Yasushi Ninomiya (2003), Modelling Underlying
Energy Demand Trends, Department Economics University of Surrey, January
2003.
 Arquam Al. Rabbaie and Lester C. Hunt (2006), OECD EnergyDemand: Modelling
Underlying Energy Demand Trends using the Structural Time Series Model,
Department Economics University of Surrey, October 2006.
Theo nhiều chuyên gia mặc dù các kỹ thuật tính toán ngày càng nâng cao hơn,
nhưng dường như các kết quả dự báo vẫn phụ thuộc nhiều vào cách thức lựa chọn mô
hình và phương pháp thu thập phân tích số liệu. Đặc biệt trong trường hợp kích cỡ mẫu
dữ liệu nhỏ, thì việc sử dụng các phương pháp tính toán phức tạp có thể cho các kết
quả không phù hợp. Vì thế dù vẫn còn khiếm khuyết (chủ yếu liên quan đến yếu tố

lượng. Hiện nay rất nhiều kinh tế gia có quan điểm cho rằng năng lượng là một nhân tố
đầu vào đối với tăng trưởng, quan trọng không kém so với các nhân tố vốn, lao động.
Thực tế cũng cho thấy giữa tăng trưởng kinh tế (Y) và các nhân tố vốn (K), lao động (L)
và năng lượng (E) đều có mối tương quan chặt chẽ với nhau. Nghĩa là từ dạng hàm sản
xuất của lý thuyết tăng trưởng
( ) ( ( ), ( ), ( ))Y t F K t L t E t
chúng ta có thể chuyển sang hàm
cầu năng lượng có dạng
( ) ( ( ), ( ), ( ))E t f K t L t Y t
. Như vậy để xác định dạng hàm cầu
13
làm cơ sở cho mô hình dự báo, người ta có thể đi trực tiếp từ lý thuyết cầu hoặc từ lý
thuyết tăng trưởng, thông qua các hàm sản xuất như: Cobb – Douglas, KLEM (K: vốn,
L: lao động; E: năng lượng; M: nguyên vật liệu), CES (Constant Elasticity of
Substitution). Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu đã xây dựng mô hình dự báo nhu
cầu năng lượng từ các hàm sản xuất:
 Muhittin Kaplan, Ilhan Ozturk, Huseyin Kalyoncu (2011), Energy Consumption and
Economic Growth in Turkey: Cointegration and Causality Analysis, Romanian
Journal of Economic Forecasting – 2/2011, pp 31 – 41.
 Qian Liao et al. (2010), A new production function with technological innovation
factor and its application to the analysis of energy-saving effect in LSD, World
Journal of Modelling and Simulation, Vol.6 (2010) No.4, pp. 257 – 266, England,
UK
 Badi H. Baltagi (2008), Econometrics, Published Springer, Fourth Edition, Leipzig.
 Phạm Thị Thu Hà (chủ biên) và các tác giả khác (2006), Giáo trình kinh tế năng
lượng, Nxb. Thống kê, Hà Nội.
 Dietmar Lindenberger, Reiner Kummel (2002), “Energy-Dependent Production

hợp lý. Thời gian qua để hạn chế khả năng độc quyền của các doanh nghiệp xăng dầu,
Chính phủ Việt Nam thường áp đặt giá bán lẻ cho thị trường. Việc áp đặt giá này có
nhiều giai đoạn không theo các biến động giá dầu khí trên thế giới, dẫn đến chẳng
những không hạn chế được tình trạng độc quyền mà còn khiến cho nền kinh tế chịu
nhiều thiệt hại, vấn đề này sẽ được phân tích cụ thể trong chương 3 của luận án.
Để phân tích thực trạng cung cầu dầu khí và tác động của Chính phủ vào thị trường
như: kiểm soát giá, thuế và trợ cấp đối với xăng dầu ở Việt Nam, các công cụ cơ bản
của kinh tế học như: hệ số co giãn cầu; hệ số co giãn cung; thặng dư của người tiêu
dùng (Consumer Supplus); thặng dư của người sản xuất (Producer Supplus); tổn thất vô
ích (Deadweight Loss) sẽ được sử dụng.
Những nghiên cứu đã được trình bày ở phần đầu chương là những tài liệu có đề cập
cụ thể khung lý thuyết cơ sở và mô hình dự báo nhu cầu năng lượng, trong quá trình
chuẩn bị và viết luận án, tác giả còn tìm được các tài liệu nghiên cứu thực nghiệm
những vấn đề về sử dụng và cung cấp năng lượng ở Việt Nam. So với những tài liệu đã
nêu ở phần trước, điểm khác biệt cơ bản của những tài liệu sau đây là không trình bày
cụ thể phần khung lý thuyết cơ sở áp dụng để nghiên cứu các vấn đề đặt ra. Mặc dù vậy,
những kết quả nghiên cứu và giải pháp đề xuất rất có giá trị để tham khảo và kế thừa.
Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Tiến Thỏa (2014), “Tiếp tục đổi mới cơ chế kinh
doanh xăng dầu theo hướng thị trường” cho rằng trong những năm qua Chính phủ Việt
Nam đã chuyển đổi hoạt động cung ứng xăng dầu từ mô hình kế hoạch hóa tập trung,
từng bước sang cơ chế thị trường. Việc đổi mới cơ chế kinh doanh xăng dầu theo hướng
thị trường đã có những đóng góp tích cực để đảm bảo nhu cầu sử dụng trong nước. Tuy
15
nhiên cơ chế hiện nay vẫn còn nhiều bất cập có thể xem đó là những “lực cản”, cụ thể:
(i) môi trường pháp lý để các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu Việt Nam tự do kinh
doanh, tự do cạnh tranh (trong khuôn khổ pháp luật) vẫn còn nhiều hạn chế; (ii) Giá bán
xăng dầu trong nước theo cơ chế thị trường, nhưng mức độ cạnh tranh về giá bán lẻ là


tăng dân số bình quân mỗi năm là 1,1% (trung bình của các quốc gia trong khối APEC
là 0,5%); (ii) tỉ lệ tăng GDP thực tế bình quân mỗi năm là 6,5% (APEC là 3,5%); (iii) tỉ
lệ tăng GDP thực tế theo đầu người bình quân mỗi năm là 5,0% (APEC là 2,9%); (iv) tỉ
lệ tăng nhu cầu sử dụng năng lượng bình quân mỗi năm 3,4%.
Theo công trình nghiên cứu “ Energy Sector Situation in Vietnam ” của Shinji
Omoteyama (2009), thuộc Viện nghiên cứu kinh tế năng lượng của Nhật Bản (The
Institute of Energy Economics Japan - IEEJ), nếu tính quy đổi tương đương và bù trừ
giữa lượng xuất khẩu dầu thô và lượng xăng dầu nhập khẩu để sử dụng trong giai đoạn
1990 – 2006, thì Việt Nam là quốc gia xuất khẩu ròng dầu mỏ, xu hướng này được dự
báo sẽ tiếp diễn cho đến năm 2015, sau đó sẽ phải nhập khẩu ròng dầu mỏ. Nguyên
nhân, nhu cầu sử dụng xăng dầu của Việt Nam tăng nhanh, đồng thời cần nhập khẩu
thêm nguyên liệu dầu thô để các nhà máy lọc dầu hoạt động.
Theo công trình nghiên cứu của United Nations ESCAP (2007), “ Impacts of
current energy policies and energy development in Vietnam from sustainability point of
view ” trong giai đoạn 1990 - 2005 cường độ năng lượng sử dụng của Việt Nam rất
cao, nguyên nhân là Việt Nam trong giai đoạn công nghiệp hoá và ngành năng lượng
Việt Nam đang chuyển từ cơ chế trợ cấp rất cao sang cơ chế thị trường. Số liệu năm
2004, cho thấy để tạo ra giá trị 1000 USD Việt Nam cần 400 kg dầu, trong khi đó ở các
nước Thái Lan 248, Indonesia 319, Hàn Quốc 209, Nhật Bản 61 và trung bình của thế
giới 176,5. Các con số nêu trên cho thấy tính kém hiệu quả trong sử dụng năng lượng
của Việt Nam hiện nay.
Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương (2007), trong tài liệu nghiên cứu “Đảm
bảo an ninh năng lượng”, cũng cho thấy cường độ năng lượng ở Việt Nam cao gấp 1,7
so với các quốc gia trong khu vực. Một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến
tình trạng này là công nghệ và các trang thiết bị máy móc của Việt Nam trong sản xuất
và đời sống phần lớn là lạc hậu và tiêu thụ nhiều năng lượng, thói quen tiết kiệm năng
lượng chưa trở thành nếp sống thường ngày.
Theo nghiên cứu của Hiệp hội Năng lượng Việt Nam (2007), “ Năng lượng Việt
Nam - Bước ra biển lớn ”, nhũng mục tiêu quan trọng ngành dầu khí Việt Nam đến

chuẩn tắc về những vấn đề lý thuyết cung cầu dầu khí (hàng hoá thiết yếu và không tái
tạo), lý thuyết tăng trưởng (với năng lượng là một trong những nhân tố đầu vào quan
trọng của sản xuất). Thông qua việc nghiên cứu các mô hình kinh tế lượng, phân tích
các số liệu sẽ lý giải và kiến nghị các giải pháp để đảm bảo nhu cầu sử dụng dầu khí
cho tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam, trong bối cảnh hội nhập kinh tế thế giới.
18
SƠ ĐỒ KHUNG NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
19
Nội dung 1: lựa chọn mô hình dự báo nhu cầu năng lượng
Phương pháp dự báo được lựa chọn là phương pháp kinh tế lượng, dựa trên các
mô hình hồi quy đa biến, cụ thể như sau:
Thứ nhất, theo lý thuyết cầu với mô hình tĩnh
ln ln ln
cc
t t t t
E a b Y c P e   
( I )
và mô hình động
1
ln( ) ln ln( ) ln( ) ln( )
c c c
t t t t t
E a b Y c P d E e

    
( II )
E
c
t
là lượng dầu khí sử dụng bình quân theo đầu người ở Việt Nam năm t. Các biến độc
lập Y
c
t
là GDP bình quân theo đầu người năm t; P

E a b Y c P e   
( I ) được tiếp tục
sử dụng với sự thay đổi là Y
c
gt
là GDP xanh dầu khí bình quân theo đầu người năm t.
Nội dung 2: kiểm định mô hình và ước lượng các hệ số co giãn cầu và cung dầu khí
Phương pháp thống kế và qui nạp không hoàn toàn được sử dụng để thu thập các
số liệu về: lượng sử dụng dầu khí theo đầu người, GDP theo đầu người và giá xăng dầu
thế giới. Số liệu giá xăng dầu thế giới được thống kê từ thị trường Singapore, đây là thị
trường giao dịch mua bán dầu thô và các sản phẩm dầu khí, có ảnh hưởng rất mạnh đối
với khu vực châu Á và Thái Bình Dương, hơn nữa phần lớn xăng dầu nhập khẩu vào
Việt Nam đều thông qua thị trường này.
Về kỹ thuật tính toán ước lượng các hệ số theo phương pháp bình phương bé
nhất thông thường (OLS). Lý do có sự lựa chọn này, như đã trình bày ở phần tổng quan
vì số liệu thống kê năng lượng của Việt Nam khó thu thập được nhiều, theo kinh
nghiệm của các chuyên gia thì phương pháp OLS là phù hợp với quy mô mẫu nhỏ.
20
Trong luận án, dù phân tích hồi quy cỡ mẫu nhỏ nhưng vẫn đảm bảo nguyên tắc
do Tabachnick và Fidell đề nghị (1996) về quy mô mẫu: nếu số liệu thu thập là dạng
thay đổi theo thời gian, thì quy mô mẫu đòi hỏi ít nhất là n = k (số biến độc lập) + 20.
Đối với mô hình ( I ) có 2 biến độc lập, số liệu được thu thập từ 1991 – 2012 ( n = 22);
mô hình ( II ) có 3 biến độc lập, số liệu từ 1990 – 2012 ( n = 23 ) và mô hình ( III ) có 3
biến độc lập, số liệu thu thập từ 1990 – 2012 ( n = 23).
Sau khi ước lượng các hệ số co giãn trong mô hình, phương pháp lịch sử được sử
dụng để so sánh kết quả thu được với các kết quả nghiên cứu tương tự trước đây, đặc
biệt là của các nước đang phát triển ở châu Á. Trong phần đánh giá, phương pháp suy

Nhằm dự báo tình hình cung cầu dầu khí của Việt Nam đến năm 2030, đặc biệt
là vấn đề đảm bảo nhu cầu sử dụng, từ nguồn sản xuất trong nước, tác giả sử dụng
phương pháp toán học để xây dựng các kịch bản có thể xảy ra, căn cứ vào hai yếu tố:
Thứ nhất, kết quả dự báo nhu cầu dầu khí ở Việt Nam.
Thứ hai, năng lực sản xuất, chế biến dầu khí của Việt Nam.
Khi đề cập đến nhóm các giải pháp đảm bảo nhu cầu năng lượng dầu khí cho
tăng trưởng kinh tế Việt Nam, tác giả sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp,
quy nạp không hoàn toàn, lịch sử, chuyên gia.
1.2.2 Nguồn số liệu
Bao gồm các số liệu của Chính phủ Việt Nam; Bộ Công Thương; Bộ Tài chính;
Tổng Cục Thống kê Việt Nam; Tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam (Petro Vietnam);
Tập đoàn xăng dầu Việt Nam (Petrolimex); Ngân hàng thế giới (World Bank); Cơ quan
năng lượng quốc tế (IEA); Cơ quan quản lý thông tin năng lượng - Hoa Kỳ (EIA); Ngân
hàng phát triển châu Á (Asia Development Bank) v.v…
Từ trước đến nay những số liệu thống kê liên quan đến các dạng năng lượng
cũng như dầu khí của Việt Nam rất hạn chế. Dẫn chứng, số liệu thống kê năng lượng
hàng năm theo niên giám của Tổng Cục Thống kê chỉ nêu các số liệu về sản lượng khai
thác dầu thô năm, sản lượng điện. Tuy nhiên, các số liệu thống kê về năng lượng của
Việt Nam lại có khá đầy đủ trên các trang web của Cơ quan năng lượng quốc tế , Cơ
quan thống kê năng lượng của Bộ năng lượng Mỹ. Do đó trong luận án, các số liệu về
lượng dầu khí (cũng như các loại sản phẩm xăng dầu cụ thể) được sử dụng, nhập khẩu
và sản xuất ở Việt Nam, sẽ được thu thập chủ yếu từ hai trang web này. Đối với IEA và
EIA các số liệu về dầu khí của Việt Nam thuộc phạm vi thống kê quốc tế, do vậy việc
thống kê có một độ trễ nhất định. Đến thời điểm tháng 4/2014 số liệu thống kê về dầu
22
khí của Việt Nam chỉ hoàn chỉnh đến năm 2010, các số liệu thống kê của năm 2011 và
2012 chưa được thực hiện đầy đủ.
Thứ hai, các số liệu của Việt Nam về GDP, dân số, vốn đầu tư, lực lượng lao
động được thu thập từ Tổng Cục Thống kê Việt Nam, ngoài ra có đối chiếu so sánh với
số liệu của Ngân hàng thế giới (World Bank) và Ngân hàng phát triển châu Á (Asia
Development Bank). Các số liệu về cường độ năng lượng ở Việt Nam được thu thập từ
Cơ quan năng lượng quốc tế (IEA). Các số liệu về khai thác, sản xuất và sử dụng dầu
khí ở Việt Nam được thu thập từ Cơ quan quản lý thông tin năng lượng - Hoa Kỳ
(EIA). Số liệu về thị phần của các doanh nghiệp xăng dầu đầu mối ở Việt Nam được
thu thập từ Bộ Công Thương và Bộ Tài chính.
Thứ ba, để xác định GDP xanh dầu khí của Việt Nam, được hiểu là GDP trừ (-)
thuế môi trường đối với xăng dầu và thuế khai thác dầu khí. Khái niệm về GDP xanh
dầu khí được trình bày cụ thể trong chương 2 trình bày về khung cơ sở lý thuyết).
Số liệu thuế môi trường xăng dầu hàng năm, được xác định từ số liệu lượng xăng
dầu sử dụng năm, nhân (x) với thuế suất thuế môi trường đối với xăng dầu. Số liệu
lượng xăng dầu sử dụng năm thu thập từ EIA. Thuế suất thuế môi trường được thu thập
từ số liệu của Bộ Tài chính, theo quy định hiện hành đối với xăng sử dụng phải nộp
thuế môi trường 1000 đ/lít, đối với dầu Diesel là 500 đ/lít.
Số liệu thuế khai thác dầu khí của Việt Nam hàng năm, được xác định từ lượng
khai thác dầu khí theo ngày ( số liệu thu thập từ EIA), nhân (x) số ngày khai thác trong
năm, nhân (x) thuế suất khai thác dầu khí. Thuế suất khai thác dầu thô (hoặc khí thiên
nhiên), được tính theo luỹ tiến để xác định là lượng dầu thô (hoặc khí thiên nhiên) phải
nộp. Cụ thể thuế suất hiện nay, khai thác bình quân ngày từ 0 đến 20.000 thùng thuế
phải nộp là 8%; từ 20.000 đến 50.000 thùng thuế phải nộp 10%, từ 50.000 đến 75.000
thùng thuế 12% ; từ 75.000 đến 100.000 thùng thuế 17%; 100.000 đến 150.000 thùng
thuế 22%; trên 150.000 thùng thuế 27%. Thuế khai thác dầu khí phải nộp sau khi tính
theo lượng (thùng dầu), sẽ được tác giả quy về giá trị (tỉ đồng) theo phương pháp sau
đây. Từ số liệu công bố của Tổng Cục Thống kê về giá trị khai thác của ngành dầu khí
theo năm, nhân (x) với tỉ lệ thuế khai thác bình quân phải nộp theo năm. Kết quả thu
được là giá trị thuế khai thác dầu khí phải nộp trong năm.

    
(II) để
ước lượng hệ số co giãn cầu dầu khí ở Việt Nam trong dài hạn và ngắn hạn.
Tổng quan nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả cả trong và ngoài nước đều
khẳng định vai trò rất quan trọng của năng lượng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở
Việt Nam. Nhu cầu năng lượng không ngừng gia tăng trên tất cả các lĩnh vực: công
nghiệp, nông lâm nghiệp, giao thông vận tải, thương mại, dịch vụ công và tiêu thụ ở các
hộ gia đình. Trong khi nhu cầu năng lượng không ngừng gia tăng, thì khả năng cung
cấp năng lượng lại phát triển chậm và không tương xứng với nhu cầu. Các nghiên cứu
còn cho thấy thực trạng khai thác, sử dụng các loại năng lượng (than, dầu, khí, điện) ở
Việt Nam vừa lãng phí vừa kém hiệu quả. Hậu quả là mặc dù hiện nay Việt Nam là
quốc gia xuất khẩu năng lượng, nhưng tình trạng cung cầu năng lượng nói chung và dầu
khí nói riêng ngày càng mất cân đối nghiêm trọng sẽ dẫn đến tương lai không xa
(khoảng năm 2015) Việt Nam phải nhập khẩu năng lượng. Ngoài vấn đề an ninh năng
lượng, các kết quả nghiên cứu cũng đánh giá mức độ ô nhiểm môi trường do sử dụng
nhiều năng lượng hoá thạch ở Việt Nam đã đến mức báo động.
25
Phương pháp luận nghiên cứu theo kinh tế học thực chứng và kinh tế học chuẩn tắc
về các vấn đề của lý thuyết cung cầu đối với dầu khí (hàng hoá thiết yếu và không tái
tạo), lý thuyết tăng trưởng (với năng lượng là một trong những nhân tố đầu vào quan
trọng của sản xuất).
Phương pháp nghiên cứu định lượng được sử dụng trong luận án là phân tích hồi
quy đa biến để ước lượng các hệ số co giãn cầu dầu khí theo GDP bình quân theo đầu
người và giá thế giới. Từ các kết quả ước lượng sẽ dự báo nhu cầu sử dụng dầu khí ở
Việt Nam trong tương lai.
Phương pháp nghiên cứu định tính được sử dụng để phân tích những vấn đề: (i)
đánh giá thực trạng sử dụng năng lượng; (ii) thực trạng cung cầu dầu khí ở Việt Nam và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status