Thực trạng văn hóa doanh nghiệp ở Việt Nam - Pdf 25

Thực trạng văn hóa doanh nghiệp ở Việt Nam
CHƯƠNG 1
GIỚI THIỆU
1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Thời bao cấp, chúng ta thường nghe thấy các cụm từ “Văn hóa vùng”, “Văn
hóa làng xã”, “Văn hóa gia đình”, “Văn hóa dân tộc”…. Ngày nay, cụm từ “Văn
hóa doanh nghiệp” lại xuất hiện và hiện đang được xã hội quan tâm, đặc biệt là các
doanh nghiệp.
Việt Nam đã gia nhập tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) có nghĩa là chúng
ta bước sâu vào sân chơi kinh tế thế giới, tạo cho chúng ta nhiều cơ hội để phát
triển hội nhập kinh tế nhưng sự cạnh tranh khắt khe trên quy mô toàn cầu đặt
doanh nghiệp Việt Nam trước những bắt buộc phải lựa chọn, phải thay đổi để làm
ăn có hiệu quả khi môi trường kinh tế - xã hội đã khác trước. Phải chăng, đó là lý
do vì sao lại là doanh nghiệp chứ không phải loại tổ chức xã hội hay tổ chức hành
chính nào khác đi tiên phong trong việc tìm kiếm hướng tiếp cận mới để phát triển
tổ chức. Thay đổi tổ chức chính là cách thức làm cho tổ chức thích ứng với môi
trường bên ngoài đang đổi thay. Các doanh nghiệp Việt Nam cũng dần nhận thấy
rằng: Những vấn đề về mặt kỹ thuật không còn là những thách thức lớn bằng vấn
đề hiểu và động viên các nhân viên cống hiến hết khả năng của mình cho doanh
nghiệp.
Và doanh nghiệp muốn thành công thì phải luôn sáng tạo ra những giá trị mới
cho xã hội, mà điều này lại cần tới sự trợ giúp của các nhân viên trong doanh
nghiệp. Hướng tiếp cận doanh nghiệp dưới góc độ văn hóa sẽ giúp đạt hiệu quả
cao hơn trong việc huy động sự tham gia của con người trong tổ chức. Từ những
thực tế đó em chọn đề tài “Thực trạng văn hóa doanh nghiệp ở Việt Nam” để
đánh giá sự cần thiết cho việc phát triển văn hóa doanh nghiệp ở Việt Nam.
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Phân tích thực trạng về văn hóa doanh nghiệp ở Việt Nam nhằm đưa ra các
giải pháp phát triển tính văn hóa doanh nghiệp cho các công ty ở Việt Nam.
GVHD: THS. TRƯƠNG HÒA BÌNH 1 SVTH: NGUYỄN ANH KIỆT

Đức)… đều xuất xứ từ chữ Latinh cultus có nghĩa là khai hoang, trồng trọt, trông
nom cây lương thực; nói ngắn gọn là sự vun trồng. Sau đó từ cultus được mở rộng
nghĩa, dùng trong lĩnh vực xã hội chỉ sự vun trồng, giáo dục, đào tạo và phát triển
mọi khả năng của con người.
Ở phương Đông, trong tiếng Hán cổ, từ văn hoá bao hàm ý nghĩa: văn là vẻ
đẹp của nhân tính, cái đẹp của tri thức, trí tuệ con người có thể đạt được bằng sự tu
dưỡng của bản thân và cách thức cai trị đúng đắn của nhà cầm quyền. Còn chữ hoá
trong văn hoá là việc đem cái văn (cái đẹp, cái tốt, cái đúng) để cảm hoá, giáo dục
và hiện thực hoá trong thực tiễn đời sống. Vậy văn hoá chính là nhân hoá hay nhân
văn hoá. Đường lối văn trị hay đức trị của Khổng Tử là từ quan điểm cơ bản này
về văn hóa (văn hóa là văn trị giáo hoá, là giáo dục, cảm hoá bằng điển chương, lễ
nhạc, không dùng hình phạt tàn bạo và sự cưỡng bức).
Như vậy, văn hoá trong từ nguyên sơ của cả Phương Đông và Phương Tây
đều có một nghĩa chung căn bản là sự giáo hoá, vun trồng nhân cách con người
(bao gồm cá nhân, cộng đồng và xã hội loài người), cũng có nghĩa là làm cho con
người và cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn.
Theo phạm vi nghiên cứu rộng nhất, văn hoá là tổng thể nói chung những
giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử.
Con người là một bộ phận của tự nhiên nhưng khác với các sinh vật khác,
con người có một khoảng trời riêng, một thiên nhiên thứ hai do con người tạo ra
bằng lao động và tri thức - đó chính là văn hoá.
GVHD: THS. TRƯƠNG HÒA BÌNH 3 SVTH: NGUYỄN ANH KIỆT
Thực trạng văn hóa doanh nghiệp ở Việt Nam
2.1.1.2 Vai trò
a) Văn hoá là mục tiêu của sự phát triển xã hội:
Sự cân bằng giữa tự nhiên và con người, giữa tăng trưởng kinh tế với ổn
định và phát triển hài hoà trình độ phát triển của các quốc gia không chỉ căn cứ
vào sự tăng trưởng hay phát triển kinh tế của nó, mà thước đo sự phát triển quốc
gia còn căn cứ vào mức độ phát triển con người (HDI-Human development index).
Đó là một hệ thống gồm ba chỉ tiêu cơ bản: (1) mức độ phát triển kinh tế đo bằng

+ Thứ hai: Văn hoá có thể trở thành một nguồn lực, sức mạnh tinh thần vô
hình nhưng vô cùng mạnh mẽ đối với sự phát triển của xã hội. Đây là nguồn lực
tồn tại tiềm ẩn trong mỗi cá nhân cũng như cộng đồng dân tộc. Nhưng tại thời
điểm đặc biệt - khi xuất hiện nguy cơ đối với sự tồn vong của quốc gia dân tộc -
nếu Nhà nước có một ý chí lớn và sự khôn ngoan biết đánh thức, khơi dậy và phát
huy sức mạnh văn hóa thì sẽ tạo ra được một động lực rất mạnh mẽ thúc cả đất
nước đi lên.
+ Thứ ba: Các loại hình văn hoá nghệ thuật, các sản phẩm văn hoá hữu hình
và vô hình nếu được khai thác và phát triển hợp lý sẽ tạo ra sự giàu có về đời sống
vật chất và tinh thần của quốc gia, tạo động lực phát triển xã hội.
c) Văn hoá là linh hồn và hệ điều tiết của sự phát triển:
Vai trò của các Nhà nước là lãnh đạo và quản lý sự phát triển kinh tế- xã
hội của quốc gia. Để thực hiện vai trò này, Nhà nước phải định ra đường lối, kế
hoạch, mô hình và các chiến lược phát triển của quốc gia. Trong các công việc và
quá trình này, văn hoá đóng vai trò là “tính quy định” của sự phát triển, là nhân tố
cơ bản mà Nhà nước cần phải dựa vào để tạo lập và vận hành một mô hình phát
triển, một kiểu phát triển quốc gia mà nó cho là tốt nhất hay tối ưu nhất.
Nhân tố văn hóa có mặt trong mọi công tác, hoạt động xã hội và thường tác
động tới con người một cách gián tiếp, vô hình tạo ra các khuôn mẫu xã hội. Do
đó, văn hoá đóng vai trò điều tiết, dẫn đắt sự phát triển thể hiện ở mọi mặt của đời
sống xã hội: Chính trị, hành chính Nhà nước, phát triển kinh tế, giáo dục, ngoại
giao…sự định hướng và tác động của văn hoá sẽ mạnh mẽ hơn,hiệu quả hơn nếu
Nhà nước tổ chức nghiên cứu tìm ra hệ thống các giá trị văn hoá của dân tộc và
chính thức phát huy, phát triển bản sắc của dân tộc trong mọi mặt và quá trình phát
triển xã hội.
Như vậy, có hai quyền lực khác nhau cùng lãnh đạo quá trình phát triển xã
hội:
- Quyền lực chính trị của Nhà nước được tập chung trong sức mạnh của
pháp luật có tính cưỡng chế, trực tiếp, hiệu lực nhanh…
GVHD: THS. TRƯƠNG HÒA BÌNH 5 SVTH: NGUYỄN ANH KIỆT

động tới con người một cách gián tiếp thông qua các khuôn mẫu xã hội. Đồng
thời, sự định hướng và tác động của văn hóa sẽ mạnh mẽ và đạt hiệu quả cao hơn
GVHD: THS. TRƯƠNG HÒA BÌNH 6 SVTH: NGUYỄN ANH KIỆT
Thực trạng văn hóa doanh nghiệp ở Việt Nam
nếu Nhà nước tổ chức nghiên cứu tìm ra các hệ thống giá trị của dân tộc, chính
thức phát huy các bản sắc dân tộc trong quá trình phát triển xã hội.
2.1.2 Khái niệm về doanh nghiệp
2.1.2.1 Các quan điểm
a) Quan điểm nhà tổ chức: doanh nghiệp là một tổng thể các phương tiện,
máy móc thiết bị và con người được tổ chức lại nhằm đạt một mục đích.
b) Quan điểm lợi nhuận: doanh nghiệp là một tổ chức sản xuất, thông qua
đó, trong khuôn khổ một tài sản nhất định, người ta kết hợp nhiều yếu tố sản xuất
khác nhau, nhằm tạo ra những sản phẩm và dịch vụ để bán trên thị trường và thu
khoản chênh lệch giữa giá thành và giá bán sản phẩm.
c) Quan điểm chức năng: doanh nghiệp là một đơn vị sản xuất kinh doanh
nhằm thực hiện một, một số, hoặc tất cả các công đoạn trong quá trình đầu tư từ
sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện các dịch vụ nhằm mục đích sinh lợi.
d) Quan điểm lý thuyết hệ thống: doanh nghiệp là một bộ phận hợp thành
trong hệ thống kinh tế, mỗi đơn vị trong hệ thống đó phải chịu sự tác động tương
hỗ lẫn nhau, phải tuân thủ những điều kiện hoạt động mà nhà nước đặt ra cho hệ
thống kinh tế đó nhằm phục vụ cho mục đích tiêu dùng của xã hội.
=> Doanh nghiệp là một đơn vị sản xuất kinh doanh được tổ chức, nhằm tạo ra sản
phẩm và dịch vụ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trên thị trường, thông qua đó để tối đa
hóa lợi nhuận trên cơ sở tôn trọng luật pháp của nhà nước và quyền lợi chính đáng
của người tiêu dùng.
2.1.2.2 Những đặc điểm họat động của doanh nghiệp nói chung
- Mang chức năng sản xuất kinh doanh.
- Tối đa hóa lợi nhuận là mục têu kinh tế cơ bản, bên cạnh các mục tiêu xã
hội.
- Phải chấp nhận sự cạnh tranh để tồn tại và phát triển.

Ông Saite Marie, chuyên gia người Pháp về doanh nghiệp vừa và nhỏ đưa
ra định nghĩa như sau: “ Văn hoá Doanh nghiệp là tổng hợp các giá trị, các biểu
tượng, huyền thoại, nghi thức, các điều cấm kỵ, các quan điểm triết học, đạo đức
tạo thành nền móng sâu xa của Doanh nghiệp”.
GVHD: THS. TRƯƠNG HÒA BÌNH 8 SVTH: NGUYỄN ANH KIỆT
Thực trạng văn hóa doanh nghiệp ở Việt Nam
Một định nghĩa khác của tổ chức lao động quốc tế (ILO): “Văn hoá Doanh nghiệp
là sự trộn lẫn đặc biệt các giá trị, các tiêu chuẩn, thói quen và truyền thống, những
thái độ ứng xử và lễ nghi mà toàn bộ chúng là duy nhất đối với một tổ chức đã
biết”.
Tuy nhiên, định nghĩa phổ biến và được chấp nhận rộng rãi nhất là định
nghĩa của chuyên gia nghiên cứu các tổ chức Edgar Schein: “ Văn hoá công ty là
tổng hợp những quan niệm chung mà các thành viên trong công ty học được trong
quá trình giải quyết các vấn đề nội bộ và sử lý các vấn đề với môi trường xung
quanh”
Các khái niệm trên đều đã đề cập đến những nhân tố tinh thần của văn hoá
Doanh nghiệp như: Các quan niệm chung, các giá trị, các huyền thoại, nghi thức…
của Doanh nghiệp nhưng chưa đề cập đến nhân tố vật chất-nhân tố quan trọng của
văn hoá Doanh nghiệp.
Do đó, trên cơ sở kế thừa những nghiên cứu của các học giả và hệ thống
nghiên cứu logic về văn hoá và văn hoá kinh doanh, văn hoá Doanh nghiệp được
định nghĩa như sau: “Văn hoá Doanh nghiệp là toàn bộ những nhân tố văn hoá
được Doanh nghiệp chọn lọc, tạo ra, sử dụng và biểu hiện trong hoạt động kinh
doanh tạo nên bản sắc kinh doanh của Doanh nghiệp đó”.
2.2 Các đặc điểm của văn hóa doanh nghiệp Việt Nam
Văn hoá doanh nghiệp Việt Nam được hình thành là một phần quan trọng
của văn hoá Việt Nam được lưu truyền và bồi đắp từ thế hệ này đến thế hệ khác
mà chúng ta cần gìn giữ và bồi đắp tiếp trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại
hóa hiện nay và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Văn hóa doanh nghiệp nước ta
tiếp thu những nhân tố văn hóa trong kinh doanh hình thành qua nhiều năm của

mạng lưới kết nối với nhau các mối quan hệ cá nhân, tất cả các nơi làm nghĩa vụ
của cả hai bên . Những nghĩa vụ lẫn nhau là nền tảng của trật tự xã hội tại Việt
Nam, để họ được thực hiện rất nghiêm túc.Điều này tạo nên niềm tin hay sự tín
nhiệm , nó tác động đối với các mối quan hệ lâu dài.
2.2.3 Đặc điểm cá nhân và động lực nhóm
Bản thân là một phần của một tập thể lớn, thường tập trung vào gia đình và
dòng tộc . Nhu cầu cá nhân được coi là phụ thuộc vào những người trong gia đình
hoặc tổ chức của họ. Phù hợp với một mục tiêu quan trọng định mức gia đình và
xã hội. Mục tiêu cuối cùng của tất cả các tương tác cá nhân là sự hòa hợp, chứ
không phải bất hòa.
2.2.4 Đặc điểm giới tính
GVHD: THS. TRƯƠNG HÒA BÌNH 10 SVTH: NGUYỄN ANH KIỆT
Thực trạng văn hóa doanh nghiệp ở Việt Nam
Với bề ngoài bình đẳng phù hợp với hệ tư tưởng Mác-xít, nhưng vẫn còn
đó mối quan hệ gia trưởng, thái độ của nam giới chiếm ưu thế trong hoạt động
kinh doanh được cho là dễ thấy. Vì vậy, khi phụ nữ Việt Nam giữ vị trí chủ chốt,
họ là đối tôn trọng vị trí, ngay cả nếu như không phải là trường hợp trong cuộc
sống cá nhân của họ. Mặt khác, các chuyên gia phụ nữ nước ngoài được chấp nhận
tại Việt Nam, đặc biệt nếu họ có địa vị cao trong công ty của họ hoặc danh tiếng
chuyên nghiệp mạnh mẽ.
2.2.5 Đặc điểm tuổi
Giống như các nền văn hóa Nho giáo khác, người Việt Nam tin rằng tôn
trọng người cao tuổi là một nhân đức hồng y. Tuổi thể hiện kinh nghiệm và sự
khôn ngoan. Các thành viên lâu đời nhất của một đoàn đại biểu nước ngoài thường
nhận được tôn trọng cao, bất kể vị trí xếp hạng chính thức của họ.Hệ quả của việc
quá tôn trọng tuổi tác taọ nên sự khó khăn trong việc cho những người trẻ trẻ tuổi
thể hiện năng lực của mình, đặc biệt là khi nói đến chuyên môn kinh doanh hoặc
đưa ra những quyết định quan trọng. Mặc dù thái độ này có thể thay đổi nhưng vẫn
còn hạn chế nhất định.
Từ những đặc điểm trong lối văn hóa ở trên đã hình thành xu hướng phát

vậy mà không phải vậy” ( giao tiếp mang tính ôn hòa/tránh xung đột trực diện
trong quan hệ/luôn có ý thức giữ thể diện). Khi đàm phán, doanh nhân VN thường
chú ý đến các yếu tố phi ngôn ngữ để tìm hiểu ý đồ của đối tác. Trong khi các
doanh nhân phương Tây chú ý đến nghĩa đen của cuộc thương lượng hay chữ
nghĩa/điều khoản trong hợp đồng. Doanh nghiệp Nước ngoài sẽ trả lời “không”
với các đề nghị của phía đối tác dễ dàng thì DNVN thường nói “chúng tôi sẽ xem
xét vấn đề này” / “chúng tôi sẽ liên lạc với ông/bà ngay khi có quyết định cụ
thể” nhằm làm tránh tổn thương đến đối tác /ảnhhưởng đến mối quan hệ sau này.
 Doanh nghiệp Việt Nam không lấy tiêu chí lợi nhuận hay chiếm lĩnh thị
trường làm mục tiêu hoạt động. Họ thường chia sẻ các mục tiêu hơi có vẻ “ lý
tưởng “ như làm một điều gì đó cho xã hội, là đem lại gái trị mới như các vụ đua
tranh nhau đấu giá 01 vật phẩm nào đó với giá cực cao được đưa ra để làm từ thiện
trên truyền hình. Sa đà vào việc “đa dạng hóa ngành nghề, dịch vụ” ; “ tập đoàn đa
ngành” ….
GVHD: THS. TRƯƠNG HÒA BÌNH 12 SVTH: NGUYỄN ANH KIỆT


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status