LỜI MỞ ĐẦU
Khi nền kinh tế ngày càng phát triển, xây dựng luôn được coi là ngành
then chốt đóng vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế, góp phần tạo ra
bộ mặt văn minh cho Xã hội. Cùng với đà tăng trưởng và phát triển nhanh
như hiện nay, hàng loạt các công trình đang và sẽ tiếp tục xây dựng với giá trị
sử dụng cũng như giá trị ngày càng lớn, và tính thẩm mỹ ngày càng được cải
thiện rõ rệt. Đi cùng với những tiện ích sử dụng, các công trình xây dựng còn
tiềm ẩn nhiều nguy cơ xảy ra rủi ro tổn thất, đe doạ đến tính mạng, sức khoẻ
và tài sản của con người. Những rủi ro ấy có thể xuất phát từ nhiều khâu: Lỗi
của người sử dụng, lỗi do quá trình thi công Trong đó cũng có thể là do lỗi
của quá trình thiết kế và kiểm soát công trình thi công. Trong trường hợp này
các Kiến trúc sư (KTS) và Tư vấn xây dựng (TVXD) là người phải chịu trách
nhiệm đối với các sản phẩm mà mình thiết kế, tư vấn. Mức trách nhiệm này
phụ thuộc vào thiệt hại phát sinh và mức độ lỗi của bản thân họ, và họ có
trách nhiệm phải đền bù cho phần thiệt hại đó. Hơn nữa những tài sản này có
giá trị rất lớn, và nhiều khi các Kiến trúc sư và tư vấn xây dựng này không đủ
khả năng tài chính để đền bù những thiệt hại đó. Để ổn định về mặt tài chính
cho hoạt động sản xuất kinh doanh cho các cá nhân hành nghề thiết kế và tư
vấn, ở một số nước đã tiến hành triển khai nghiệp vụ Bảo hiểm Trách nhiệm
cho Kiến trúc sư và Tư vấn xây dựng.
Ở Việt Nam cũng mới triển khai loại hình Bảo hiểm này và bắt đầu đưa
vào thị trường cuối năm 2001, không chỉ đáp ứng nhu cầu của Kiến trúc sư va
Tư vấn xây dựng mà còn góp phần hoàn thiện thị trường xây dựng Việt Nam,
đặc biệt trong xu thế hội nhập hiện nay. Đối với một nghiệp vụ, giai đoạn đầu
tất nhiên khâu khai thác là khâu đóng vai trò quan trọng đối với toàn bộ quá
trình triển khai nghiệp vụ. Qua hơn 5 năm triển khai, kết quả khai thác nghiệp
vụ này đã có những chuyển biến tích cực đáng kể, tuy nhiên vẫn chưa tương
xứng với tiềm năng của thị trường.
Vì vậy nhận thức được tầm quan trọng của công tác khai thác, cùng với
mong muốn được tìm hiểu sâu hơn về loại hình còn mới mẻ cả về lý luận và
thực tiễn này, sau một thời gian thực tập tại phòng Kinh doanh 3 của Công ty
LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM TRÁCH NHIỆM NGHỀ
NGHIỆP CỦA KIẾN TRÚC SƯ (KTS) VÀ TƯ VẤN XÂY
DỰNG (TVXD)
I. SỰ CẦN THIẾT VÀ TÁC DỤNG CỦA BHTNNN KTS VÀ TVXD
1. Sự cần thiết của BHTNNN KTS và TVXD
Trong cuộc sống mỗi chúng ta ai cũng phải chịu trách nhiệm của mình
trước pháp luật về từng hành vi ứng sử của mình. Nhìn chung khi một người
gây ra thiệt hại cho người khác do lỗi bất cẩn của mình thì phải chịu trách
nhiệm đối với những thiệt hại mà do lỗi của mình gây ra. Bất cẩn được hiểu là
việc thiếu cẩn thận khi một người làm một việc gì đó hoặc bỏ qua không làm
việc đó. Bất cẩn có thể phát sinh trách nhiệm dân sự trong hợp đồng (ví dụ:
trong hợp đồng lao động phát sinh trách nhiệm dân sự giữa chủ sử dụng lao
động và người lao động) hay phát sinh ngoài hợp đồng (thiệt hại đối với bên
thứ ba). Nhưng cho dù phát sinh trách nhiệm ngoài hợp đồng hay trong hợp
đồng thì các trách nhiệm pháp lý phát sinh đều dẫn đến thiệt hại về tài chính
một cách trực tiếp hay gián tiếp đến các cá nhân hay doanh nghiệp. Tuỳ theo
mức độ lỗi và thiệt hại thực tế của bên thứ ba mà trách nhiệm phát sinh là rất
lớn hoặc không đáng kể. Trong trường hợp phát sinh trách nhiệm là rất lớn,
nó ảnh hưởng nghiêm trọng đến tài chính của cá nhân hay doanh nghiệp. Do
đó các cá nhân hay doanh nghiệp cần phải tham gia Bảo hiểm trách nhiệm, để
khi trách nhiệm pháp lý phát sinh, họ sẽ được công ty Bảo hiểm bồi thường
về những thiệt hại thuộc trách nhiệm của họ cho người bị thiệt hại.
Vì vậy Bảo hiểm trách nhiệm (BHTN) là một trong những loại hình bảo
hiểm quan trọng trong đời sống cũng như trong hoạt động sản xuất kinh
doanh của mỗi chúng ta. BHTN ra đời giúp các cá nhân và doanh nghiệp ổn
định cuộc sống, ổn định sản xuất kinh doanh khi không may phát sinh trách
nhiệm pháp lý thuộc về lỗi của mình.
BHTN có rất nhiều loại như: BHTN dân sự của chủ xe cơ giới đối với
người thứ ba, BHTN pháp lý của người vận chuyển trong ngành hàng không
dân dụng, BHTN dân sự của chủ doanh nghiệp, BHTN công cộng, BHTN sản
sập do thiết kế sai hoặc ăn bớt vật liệu, giám sát không chặt chẽ dẫn đến việc
thi công không đúng theo quy định, hệ thống chống đỡ không đủ khả năng
chống đỡ cho con đường cao tốc thì kiến trúc sư kết cấu có thể phải chịu trách
nhiệm. Kỹ sư thiết kế hệ thống phòng cháy chữa cháy đã không kiểm tra hệ
thống vòi phun nước chống cháy tự động trong một phòng của căn hộ chung
cư, nhà thầu xây dựng đã đặt đường ống giả và một số nơi hệ thống chống
cháy không kết nối với đường ống dẫn nước Tất cả những người làm công
tác chuyên môn thiết kế, tư vấn, giám sát phải chịu trách nhiệm đối với
những tổn thất mà mình gây ra.
Ví dụ
Khi một toà nhà cao tầng bị lún nứt và lỗi của kỹ sư thiết kế gây ra do
tính toán chưa đúng đắn thì anh ta phải chịu những chi phí phát sinh thêm để
tu sửa và ổn định toà nhà.
Hơn thế nữa vật liệu XD và kỹ thuật XD luôn luôn biến đổi. Khi họ sử
dụng những vật liệu mới nhất định nào đó, họ phải chịu trách nhiệm trước chủ
đầu tư về việc sử dụng vật liệu này là phù hợp với mục đích của dự án đã
định. Do mong muốn có được sản phẩm tiện lợi và hiện đại, việc áp dụng cái
mới có thể chưa được thử nghiệm cẩn thận sẽ làm tăng mức rủi ro trong hợp
đồng của các KTS và TVXD.
Tất cả những thiệt hại thuộc trách nhiệm chuyên môn của KTS và TVXD
thường là những trách nhiệm rất lớn và gây ảnh hưởng nhiều đến tài chính
cũng như cuộc sống của những người làm việc ở lĩnh vực chuyên môn này.
Và trước đây do trình độ và sự hiểu biết còn hạn chế nên các nạn nhân bỏ qua
việc khiếu kiện nhưng trong thời gian qua có một số vụ kiện thành công dẫn
đến ngày nay xảy ra nhiều tranh chấp hơn. Thực tế chỉ ra rằng các KTS &
TVXD này gặp rất nhiều khó khăn hơn các ngành nghề khác, khó khăn hơn
mọi nơi trên thế giới. Số lượng các vụ khiếu kiện TNNN trong lĩnh vực này
trên thế giới ngày càng phát triển. Những tình huống trên đều có thể giải
quyết một cách thấu đáo khi KTS & TVXD tham gia bảo hiểm TNNN cho
KTS & TVXD và tất cả những thiệt hại (thuộc trách nhiệm bảo hiểm) phát
Thông thường sẽ có nhiều văn phòng kỹ sư tham gia vào việc lập kế hoạch
cho một dự án. Vì có nhiều nhà thầu hay văn phòng kỹ sư hợp tác với nhau
nên những rủi ro đó là sự thiếu hụt hoặc sự chồng chéo trong việc lập kế
hoạch sẽ ảnh hưởng đến việc vận hành của toàn bộ công việc Tất cả những
điều đó đã ảnh hưởng tới tốc độ của công việc, và điều đó chắc chắn sẽ gây áp
lực lớn tới các KTS & TVXD. Vì thế khi tham gia Bảo hiểm thì KTS &
TVXD đã chuyển giao một phần trách nhiệm của mình cho nhà bảo hiểm,
giảm bớt sức ép từ công việc và vì thế yên tâm hơn khi thực hiện công việc,
tập chung vào chuyên môn nhiều hơn.
Khi các KTS & TVXD không tham gia bảo hiểm, khi không may có tổn
thất xảy ra và một trường hợp đặt ra là các KTS & TVXD không có khả năng
chi trả cho người cho người bị nạn. Điều đó cũng có nghĩa là quyền lợi của
bên khiếu kiện vẫn có thể không được giải quyết một cách nhanh chóng và
đầy đủ. Vì thế tham gia bảo hiểm sẽ giảm bớt được sự căng thẳng trong mối
quan hệ giữa các bên, vì nhà bảo hiểm thay mặt các KTS & TVXD chi trả
những tổn thất cho bên phía nạn nhân.
Hệ thống pháp luật ngày càng chặt chẽ đòi hỏi nâng cao kiến thức
chuyên môn và nghĩa vụ phải thận trọng, mở rộng trách nhiệm của KTS &
TVXD dựa trên cơ sở lỗi, đôi khi làm cho loại hình bảo hiểm này trở nên bắt
buộc đối các KTS & TVXD. Vì thế phải thừa nhận rằng cũng sẽ là yêu cầu
của các nhà đầu tư đối với KTS & TVXD, và đó là yếu tố làm tăng tính cạnh
tranh giữa các KTS & TVXD với nhau. Vì các chủ đầu tư sẽ lựa chọn KTS &
TVXD nào đã tham gia loại hình bảo hiểm này rồi. Hơn thế nữa vấn đề cạnh
tranh cũng có tác động làm tăng vai trò của BHTNNN KTS & TVXD vì các
KTS & TVXD được bảo hiểm theo đơn bảo hiểm loại này sẽ có ưu thế hơn
trong mắt của các nhà thầu và các nhà đầu tư.
Cùng với bảo hiểm xây dựng lắp đặt, BHTNNN cho KTS & TVXD còn
góp phần làm cho hoạt động xây dựng ngày càng phát triển và mang tính ổn
định hơn. Những sản phẩm bảo hiểm này đảm bảo cho các công trình được
thực hiện đúng tiến độ và hiệu quả, không bị gián đoạn vì lý do thiếu hụt tài
tính vào giá sản phẩm tư vấn dự án. Việc mua bảo hiểm trách nhiệm nghề
nghiệp tư vấn là một điều kiện pháp lý trong hoạt động tư vấn đầu tư & xây
dựng”.
Trích thông tư số 76/2003 của Bộ Tài chính
“ Khi tiến hành công tác đầu tư và xây dựng thuộc các dự án đầu tư, các tổ
chức và cá nhân có liên quan (kể cả các tổ chức, các cá nhân nước ngoài tham
gia hoạt động tư vấn đầu tư và xây dựng, hoạt động thi công xây lắp công
trình tại Việt Nam) thực hiện mua bảo hiểm theo quy định tại Thông tư này để
ứng phó với thiệt hại phát sinh do những rủi ro bất ngờ không thể lường trước
được hoặc do lỗi, thiếu sót, sự bất cẩn của các tổ chức và cá nhân trong quá
trình đầu tư xây dựng”.
“ Đối với bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp tư vấn và xây dựng: Bên mua
bảo hiểm là các tổ chức hoặc cá nhân tư vấn đầu tư và xây dựng”.
“ Đối với bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp tư vấn đầu tư và xây dựng: Phí
bảo hiểm được tính vào giá thành sản phẩm tư vấn”.
Nhận thấy tiềm năng của thị trường của loại hình bảo hiểm TNNN KTS
& TVXD, Công ty Cổ phần Bảo hiểm AAA đã tiến hành triển khai nghiệp vụ
bảo hiểm này. Ban đầu công ty đã căn cứ vào các mẫu đơn BHTNNN KTS &
TVXD của Bảo Việt để triển khai nghiệp vụ bảo hiểm này, sau này sửa đổi và
bổ sung thành mẫu riêng cho công ty mình.
II. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA BHTNNN KTS & TVXD
• Một số khái niệm cơ bản
Kiến trúc sư
Kiến trúc sư (KTS): Có thể được coi là một người có chuyên môn trong
việc lập kế hoạch, thiết kế công trình xây dựng hoặc những công việc khác
đáp ứng yêu cầu của khách hàng trong việc tổ chức sắp xếp xây dựng theo
hợp đồng, trong giám sát công việc và quản lý theo hợp đồng cho tới khi hoàn
thành.
Tại hầu hết các nước bất cứ ai sử dụng chức danh “KTS” đều phải đăng
ký và việc sử dụng bất kỳ một cái tên hay chức danh nào bao gồm từ “KTS”
Hình thức chỉ dẫn tuỳ thuộc vào yêu cầu, không có các quy định cố định
đặt ra cho tài liệu chỉ dẫn.
Việc thiết kế có thể được chia thành:
a, Xác định cơ sở
• Chỉ ra vấn đề
• Tham khảo các khuyến nghị đối với toàn bộ công việc cần thiết
• Trình bày tiêu chí quyết định cho việc lựa chọn của các chuyên gia
tham gia vào công tác thiết kế
b, Chuẩn bị lập dự án (chuẩn bị dự án và lập dự án)
• Phân tích cơ sở, phối hợp các mục tiêu, chuẩn bị cho công tác lập kế
hoạch.
• Lập bản vẽ phác thảo về tất cả những phần thiết yếu của dự án, bao
gồm tổng dự toán công trình và báo cáo thuyết minh.
• Thảo luận sơ bộ với các cấp chính quyền và các chuyên gia khác tham
gia lập kế hoạch xem xét xem việc xây dựng có được cấp phép hay không.
c, Kế hoạch thiết kế
• Lập bản vẽ cuối cùng cho dự án thật rõ ràng sao cho sau đó không có gì
quan trọng phải thay đổi.
• Tổng hợp công việc của các chuyên gia khác tham gia lập kế hoạch,
thảo luận về việc cấp giấy phép kinh doanh với các cấp chính quyền.
d, Bản vẽ thi công
• Hoàn thiện các thiết kế với đầy đủ các kích cỡ và tất cả các chi tiết
cũng như chỉ dẫn theo yêu cầu cho việc thực hiện dự án.
• Lập bản vẽ thiết kế và chi tiết có sự lý giải của yêu cầu
e, Chuẩn bị và hoàn thành hợp đồng
• Tính toán và biên soạn số lượng làm cơ sở cho việc chuẩn bị các chi
tiết kỹ thuật, xem xét tất cả những đóng góp của các chuyên gia khác tham gia
vào công tác lập kế hoạch.
• Soạn thảo các chi tiết kỹ thuật cùng với các háo đơn số lượng theo
những bộ phận khác nhau.
• Liệt kê theo danh sách về các giai đoạn bảo hành
• Giám sát việc tháo dỡ bỏ các thiếu sót được xác định trong khi công
nhận công trình xây dựng.
• Kiểm soát chi phí
1. Đối tượng và phạm vi bảo hiểm
1.1. Đối tượng bảo hiểm
1.1.1. Đối tượng bảo hiểm
Đối tượng bảo hiểm rất trừu tượng vì đó là phần trách nhiệm hay nghĩa
vụ bồi thường các thiệt hại mà người gây ra thiệt hại đó phải chi trả. Hơn nữa
trách nhiệm đó không thể xác định ngay được kể cả trong trường hợp tổn thất
đã xảy ra rồi. Thông thường trách nhiệm pháp lý phát sinh khi có đủ ba điều
kiện sau:
- Có thiệt hại thực tế của người thứ ba
- Có hành vi trái pháp luật của các cá nhân hay tổ chức
- Có quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật của cá nhân hay
tổ chức với thiệt hại của bên thứ ba.
Đối tượng của BHTNN KTS & TVXD là trách nhiệm pháp lý đối với
những tổn thất hay bất kỳ khiếu nại nào được lập để chống lại người được bảo
hiểm trong thời hạn hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm, phát sinh từ những lỗi,
sai sót, sự bất cẩn của người được bảo hiểm và nhân viên của người được bảo
hiểm trong khi thực hiện công việc chuyên môn của mình.
1.1.2. Đối tượng tham gia bảo hiểm
Là các cá nhân, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kiến trúc, tư vấn,
thiết kế, giám sát, lập báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, lập báo cáo nghiên cứu
khả thi
BHTNNN KTS & TVXD được thiết kế cho những người thực hiện công
việc lập kế hoạch, tư vấn, thiết kế, giám sát trong lĩnh vực xây dựng. Vì vậy
các KTS & TVXD chính là đối tượng chính tham gia loại hình bảo hiểm này.
Ngoài ra các KSTV thuộc các lĩnh vực khác mà công việc của họ có liên quan
mật thiết đến ngành xây dựng, ví dụ như: Chuyên gia thống kê, kỹ sư điện, kỹ
trình dân dụng, công nghiệp, hạ tầng kỹ thuật, khu đô thị, khu công nghiệp.
• Giám sát thi công xây dựng công trình.
• Thẩm tra dự án, thẩm tra thiết kế và tổng dự toán công trình.
• Thí nghiệm đánh giá chất lượng công trình.
• Thiết kế các hệ thống cấp nhiệt, khí nén, thông gió và điều hoà không khí.
1.2.2. Các điểm loại trừ
Được trích trong Quy tắc BHTNNN KTS & TVXD ban hành kèm theo
quyết định số: 60/05/QĐ-TGĐ ngày 21/06/2005.
Đơn bảo hiểm này không bảo hiểm bất kỳ khiếu nại nào phát sinh từ:
1. Về những tổn thất mà NĐBh đã mua hoặc có thể bảo hiểm theo hợp
đồng bảo hiểm lắp đặt, xây dựng hoặc bảo hành, thậm chí có thể thuộc điều
khoản phụ của hợp đồng đó.
2. Về những tổn thất, sự cố mà dự kiến được khả năng xảy ra rủi ro cao,
do việc thực hiện một phương pháp thủ công đặc biệt hoặc vật liệu đặt biệt
nhằm mục đích hạ thấp chi phí hoặc đẩy nhanh tiến độ thi công.
3. Về những tổn thất xảy ra do áp dụng (sử dụng hoặc lựa chọn) những
phương pháp tính toán hoặc hoạch định mà chưa được thử nghiệm đầy đủ về
khả năng sử dụng dự kiến theo các quy tắc khoa học và công nghệ đã được
công nhận (rủi ro thiết kế hoặc thử nghiệm).
4. Về những tổn thất gây bởi hoặc phát sinh từ việc không tuân theo hoặc
không thực hiện các quy định pháp luật về xây dựng.
5. Phát sinh do trách nhiệm của người khác mà NĐBH chấp nhận bằng
thoả thuận dưới hình thức hợp đồng, bất kể bằng miệng hoặc bằng văn bản,
trừ khi những trách nhiệm như vậy có thể quy cho người được bảo hiểm dù
không có thoả thuận như vậy.
6. Phát sinh do việc thực hiện công việc của một cá nhân, tổ chức, đối tác
hoặc liên doanh mà trong đó NĐBH là một đối tác, người quản lý, thành viên
hoặc nhân viên nhưng không được nêu trong Giấy chứng nhận bảo hiểm/Phụ
lục hợp đồng là NĐBH trừ khi đã được sửa đổi bổ sung đặt biệt bằng điều
khoản bổ sung.
tính dự toán công trình hoặc chi phí ước tính vượt quá, từ việc ước tính lợi
nhuận hoặc thu hồi vốn không thực hiện được, phát sinh từ thiệt hại do thanh
lý và các khoản tiền phạt.
15.Phát sinh từ việc hạch toán không đầy đủ hoặc không giám sát tốt công
tác kế toán hoặc từ các hoạt động và tư vấn về tài chính.
16.Vu khống hoặc phỉ báng
17.Về những tổn thất về tài chính hoặc tiền tệ thuần tuý
18.Phát sinh từ, có thể quy cho hoặc gây nên bởi bất kỳ hành vi lừa đảo,
hành vi tội phạm hoặc cố tình gây hại hoặc sơ suất của NĐBH hoặc của
những người tiền nhiệm trong hoạt động kinh doanh của chính doanh nghiệp
đó hoặc của bất kỳ người nào khác được NĐBH hoặc những người tiền nhiệm
thuê vào bất kỳ lúc nào trong hoạt động kinh doanh hoặc bất kỳ người quản lý
hay nhân viên nào của bất kỳ nhà thầu phụ hay đại lý của NĐBH.
19.Phát sinh từ việc mất, hư hỏng hoặc tiêu huỷ tài liệu do NĐBH hay
người tiền nhiệm của NĐBH trong hoạt động kinh doanh sở hữu hoặc được
uỷ thác.
20.Phát sinh từ việc sản xuất, bán hoặc cung cấp sản phẩm và/ tiến hành
công việc (ví dụ lắp đặt, xây dựng, lắp ráp, thay thế, sửa chữa, phục vụ, xử lý)
dù cho những hoạt động này có thể do NĐBH thực hiện liên quan đên hoạt
động chuyên môn của mình.
21.Về những thiệt hại có tính chất hậu quả, phát sinh từ những thiệt hại và/
khuyết tật trong các công trình do bên thứ ba thực hiện dưới sự giám sát của
NĐBH.
22.Về thương tật, ốm đau, bệnh tật, tử vong, thiệt hại hoặc huỷ hoại trực
tiếp hoặc gián tiếp gây nên bởi, có thể cho hoặc phát sinh từ:
a) Phóng xạ ion hoặc nhiễm xạ từ bất kỳ nhiên liệu hạt nhân hoặc từ chất
thải hạt nhân phát sinh từ việc đốt chất nhiện liệu hạt nhân; hoặc
b) Các thuộc tính phóng xạ, độc hại, nổ hoặc các thuộc tính nguy hiểm
khác của bất kỳ thiết bị nổ hạt nhân hoặc các thành phần hạt nhân của thiết bị
đó.
với tổn thất hoặc thiệt hại thì NĐBH chịu trách nhiệm chứng minh tổn thất
hoặc thiệt hại đó thuộc phạm vi bảo hiểm.
27. Bắt nguồn từ tất cả các trách nhiệm dân sự hoặc các luật tương tự
28. Bắt nguồn từ các khiếu nại về tài sản do người được bảo hiểm trông
nom, cai quản hoặc kiêm soát.
29. Do bất khả kháng (ví dụ nhưng không chỉ có động đất0
30.Về chi phí thiết kế lại hoặc sửa bản vẽ, kế hoạch, chi tiết kỹ thuật hoặc
danh mục chi tiết kỹ thuật.
1.2.3. Điều khoản mở rộng
Được trích trong Quy tắc BHTNNN KTS & TVXD ban hành kèm theo
quyết định số: 60/05/QĐ-TGĐ ngày 21/06/2005.
Hợp đồng bảo hiểm có thể được mở rộng theo những điều khoản có thể
lựa chọn dưới đây với điều kiện nộp thêm phí bảo hiểm theo thoả thuận:
Phỉ báng và vu khống
Hợp đồng bảo hiểm được mở rộng để bồi thường (bất kể loại trừ tại điểm
4 Điều 16) cho những khiếu nại chống lại NĐBH trong thời hạn bảo hiểm quy
định trong Giấy chứng nhận bảo hiểm hoặc Phụ lục hợp đồng do vu khống
hoặc phỉ báng bằng lời nói hoặc văn bản do:
- Người được bảo hiểm
- Người tiền nhiệm trong kinh doanh của cùng một công ty
- Bất kỳ người nào làm thuê cho người được bảo hiểm hoặc người tiền
nhiệm của người được bảo hiểm trong công ty thực thi chức trách nhiệm vụ
của họ với tư cách là Kiến trúc sư, kỹ sư , thiết kế, tư vấn kỹ thuật và hoặc
giám đốc thi công.
Về các phương tiện khác phải tuân theo các điều kiện điều khoản và các
giới hạn của quy tắc này.
Tính không trung thực của nhân viên
(thay thế loại trừ quy định tại điểm 18 Điều 4 Quy tắc này).
18. Phát sinh từ, có thể quy cho hoặc gây nên bởi bất kỳ hành vi lừa đảo,
hành vi tội phạm hoặc cố tình gây hại sơ suất của NĐBH hoặc của những
quan đến bất kỳ hành động được thực hiện kiểm soát, ngăn chặn, đàn áp hoặc
bất kỳ biện pháp nào có liên quan đến bất kỳ hành động khủng bố nào.
Nếu người được bảo hiểm viện dẫn là vì lý do của loại trừ này mà mọi
tổn thất, hư hại, chi phí hoặc phí tổn không được bảo hiểm, thì việc chứng
minh những tổn thất, hư hại, chi phí hoặc phí tổn đó không phải gây ra do
điểm loại trừ này sẽ thuộc trách nhiệm của người được bảo hiểm.
Trong trường hợp các bên phát hiện ra bất kỳ mục nào của điều khoản
này không có hiệu lực hoặc không thể thực hiện được, những phần còn lại sẽ
tiếp tục giữ nguyên đầy đủ hiệu lực.
Thoả thuận loại trừ bảo hiểm tổn thất đối với dữ liệu, phần mên và các
chương trình máy tính
Khái niệm “thiệt hại tài sản” trong thoả thuận này được hiểu là thiệt hại
đối với phần vật chất của tài sản.
Thiệt hại đối với phần vật chất của tài sản sẽ không bao gồm thiệt hại đối
với các dữ liệu hay phần mền, không bao gồm bất kỳ sự thay đổi bất lợi nào
về dữ liệu, phần mền hoặc các chương trình máy tính do việc xoá, làm hỏng
hoặc làm biến dạng các cấu trúc ban đầu của dữ liệu, phần mền, chương trình
máy tính đó gây ra.
Vì vậy những tổn thất dưới đây bị loại trừ khồng được bảo hiểm theo
thoả thuận này:
- Tổn thất hay thiệt hại đối với dữ liệu hoặc phần mền, đặc biệt là bất
kỳ sự thay đổi bất lợi nào về dữ liệu, phần mền hoặc các chương trình máy
tính do việc xoá, làm hỏng hoặc biến dạng các cấu trúc ban đầu của dữ liệu,
phần mền, chương trình máy tính đó gây ra, và mọi tổn thất gián đoạn kinh
doanh có nguyên nhân từ tổn thất trên. Tuy nhiên, Bảo hiểm AAA sẽ bồi
thường cho các tổn thất hoặc thiệt hại đối với dữ liệu, phần mền, chương trình
là hậu quả trực tiếp từ một thiết bị vật chất được bảo hiếm xảy ra đối với phần
vật chất của tài sản.
- Tổn thất hoặc thiệt hại phát sinh từ việc mất hoặc suy giảm khả năng
sử dụng, truy cập các dữ liệu, phần mền hoặc các chương trình máy tính và
bản.
2.1.1. BHTNNN KTS & TVXD theo dự án
a. Phí bảo hiểm cơ bản
Phí bảo hiểm cơ bản được quy định cho từng loại sản phẩm BHTNNN
KTS & TVXD theo dự án và theo năm. Mỗi sản phẩm có nhiều căn cứ khác
nhau để tính phí như: Doanh thu, số lượng nhân viên của NĐBH , ngoài ra
phí bảo hiểm cơ bản còn phụ thuộc vào loại công trình. Dưới đây chỉ trình
bày các tỷ lệ, mức phí bảo hiểm đang được triển khai ở thị trường bảo hiểm
Việt Nam.