Phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm phát triển doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn tỉnh quảng ngãi - Pdf 25

KHOA MÁC – LÊNIN GVHD: TH.S TRẦN ĐÌNH MAI
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
I. TÍNH TẤT YẾU KHÁCH QUAN CỦA VIỆC TỒN TẠI CÁC THÀNH PHẦN
KINH TẾ NÓI CHUNG VÀ KINH TẾ NHÀ NƯỚC NÓI RIÊNG TRONG THỜI
KỲ QUÁ ĐỘ Ở NƯỚC TA :
1. Tính tất yếu khách quan của việc tồn tại thành phần kinh tế Nhà nước
trong nền kinh tế nhiều thành phần.
Thành phần kinh tế là khu vực kinh tế, kiểu quan hệ kinh tế dựa trên hình thức sở
hữu nhất định về tư liệu sản xuất.
Quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát
triển của lực lượng sản xuất là quy luật chung cho mọi phương thức sản xuất. Trong nền
kinh tế chưa thực sự phát triển cao, lực lượng sản xuất luôn tồn tại ở nhiều trình độ khác
nhau; tương ứng với mỗi trình độ của lực lượng sản xuất sẽ có một kiểu quan hệ sản
xuất. Do đó, cơ cấu của nền kinh tế, xét về phương diện kinh tế - xã hội phải là cơ cấu
nhiều thành phần.
Trong thời kỳ quá độ lên CNXH, lực lượng sản xuất tồn tại ở nhiều thang bậc
khác nhau, do đó chế độ sở hữu về tư liệu sản xuất sẽ có nhiều hình thức, tức là nền
kinh tế sẽ có nhiều thành phần. Các thành phần kinh tế không tồn tại biệt lập với nhau
mà có quan hệ hữu cơ với nhau tạo thành cơ cấu kinh tế.
Xét về vị trí, trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN kinh tế nhà nước
giữ vai trò chủ đạo, nắm giữ những lĩmh vực then chốt, là lực lượng vật chất quan trọng
và là công cụ để nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế và góp phần khắc
phục những khiếm khuyết của nền kinh tế thị trường.
Kinh tế nhà nước bao gồm các DNNN, các quỹ dự trữ quốc gia, các quỹ bảo
hiễm nhà nước và các tài sản thuộc sở hữu nhà nước có thể dựa vào vòng chu chuyển
kinh tế. Trong đó DNNN là một bộ phận quan trọng nhất của kinh tế nhà nước, giữ vị trí
then chốt; đi đầu ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, nêu gương về năng xuất chất
lượng, hiệu quả kinh tế xã hội và chấp hành pháp luật.
Sự tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần nói chung và kinh tế nhà nước nói riêng
và mặc nhiên tồn tại DNNN trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta là tất yếu khách

chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN thì quan niệm
DNNN cũng có sự thay đổi.
Trước hết thể hiện qua định nghĩa DNNN trong điều lệ xí nghiệp công nghiệp
quốc doanh ban hành kèm theo Nghị định 50/ HĐBT ngày 23/8/1998 qui định: “Xí
nghiệp công nghiệp quốc doanh là một đơn vị sản xuất hàng hoá có kế hoạch đáp ứng
nhu cầu ngày càng tăng cho xã hội, có tư cách pháp nhân và hạch toán kinh tế độc lập“.
Trong quy chế thành lập - giải thể DNNN ban hành kèm theo Nghị định
388/HĐBT, ngày 20/11/1991 của Chủ tịch hội đồng Bộ trưởng quy định “DNNN là một
tổ chức kinh doanh do nhà nước thành lập, đầu tư vốn và quản lý với tư cách chủ sở hữu
DNNN là một pháp nhân kinh tế, hoạt động theo pháp Luật và bình đẳng trước pháp
Luật “.
Gần đây, tại điều 1 một doanh nghiệp Nhà nước sửa đổi năm 2003 quy định : “
DNNN là tổ chức kinh tế do nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần ,vốn
góp chi phối (trên 50% cổ phần ), được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước ,công
ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn .Hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công
ích nhằm thực hịên các mục tiêu kinh tế xã hội do nhà nước giao. DNNN có tư cách
pháp nhân, có các quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động
kinh doanh trong phạm vi số vốn nhà nước quản lý. DNNN có tên gọi, có dấu riêng và
có trụ sở chính trên lãnh thổ Việt Nam ”.
Ngày nay trong điều kiện sản xuất hàng hoá với nhiều thành phần kinh tế cùng
tồn tại, đan xen, trong xu thế hội nhập quốc tế thu hút vốn đầu tư nước ngoài, việc nhận
rõ DNNN là một yêu cầu hết sức cần thiết để có cơ chế quản lý thích hợp. Tuỳ theo góc
KHOA MÁC – LÊNIN GVHD: TH.S TRẦN ĐÌNH MAI
độ xem xét mà DNNN được phân chia thành các loại khác nhau, để định ra thể chế quản
lý phù hợp của DNNN, hiện nay được phân chia thành hai loại sau:
+ Loại thứ nhất: DNNN hoạt động kinh doanh, là doanh nghiệp có chức năng
hoạt động tìm kiếm lợi nhuận theo cơ chế thị trường, các doanh nghiệp này được nhà
nước giao quyền và sử dụng vốn có trách nhiệm bảo toàn và phát triển vốn, các doanh
nghiệp này thưc hiện hạch toán kinh doanh tự chủ trong kinh doanh, tự chịu trách
nhiệm về mặt tài chính và kết quả sản xuất kinh doanh của mình, chịu sự điều chỉnh của

sách phát triển, cách thức lựa chọn giải pháp, công cụ mỗi nước .Như vậy, vai trò
DNNN tăng hay giảm tùy thuộc vào chính sách,chiến lược phát triển trong những giai
đoạn nhất định và còn tùy thuộc vào sự lựa chọn phương thức trực tiếp hay gián tiếp để
điều tiết thúc đẩy nền kinh tế .
KHOA MÁC – LÊNIN GVHD: TH.S TRẦN ĐÌNH MAI
Với nền kinh tế chậm phát triển cũng có ý nghĩa mức độ ,tập trung sản xuất rất
thấp, hệ thống kinh doanh nhỏ, phân tán, ít vốn, kỹ thuật công nghệ lạc hậu .Muốn bước
khỏi trình trạng trên và hộI nhập vào trào lưu phát triển hiện đại cần phải lựa chọn chiến
lược và những giảI pháp cho sự tăng trưởng mang tính chất tăng tốc và lâu bền . Để
thực hiện chiến lược trên nhà nước tất yếu phải lựa chọn giải pháp để phát triển DNNN.
Ở đây việc lựa chọn này không phảI mang tính chủ quan, mà có sự quy định của bản
thân nền kinh tế và bản thân của chế độ chính trị, vì DNNN có những ưu thế tuyệt đối ở
thời kỳ quá độ của sự phát triển, các ưu thế của DNNN thể hiện ở chỗ có khả năng tiếp
nhận chuyển giao công nghệ mới tiên tiến, và có cơ hội hội nhập với nền kinh tế thế
giới, những ưu thế này khiến cho DNNN trở thành một yếu tố quyết định cho chiến lược
phát triển rút ngắn, tăng tốc. Vì vậy DNNN giữ vai trò then chốt là ‘’bánh lái’’ của nền
kinh tế. DNNN là cầu nối, định hướng công nghệ và xu hướng phát triển cho các doanh
nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác.
Trong giai đoạn hiện nay vị trí, vai trò chủ đạo của DNNN chỉ là tương đối với vị
trí và vai trò của các thành phần kinh tế mà thôi, không có sự tồn tại và phát triển các
thành phần kinh tế khác thì chẳng có vai trò chủ đạo của DNNN phải thể hiện qua sự
phân công và phối hợp một cách hợp lý giữa chức năng của khu vực DNNN vớI chức
năng doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác.
Có thể nói rằng DNNN trong việc đầu tư vào những ngành quyết định cho sự
phát triển dài hạn và hiệu quả sử dụng của nền kinh tế làm cho nó có vai trò. Đặc biệt là
vai trò giá đỡ của nền kinh tế. Đây là vai trò lâu bền của khu vực DNNN ngay cả khi
doanh nghiệp tư nhân đã trưởng thành. Khi DNNN thu hẹp lại thì vao trò trong việc
cung cấp hàng hoá dịch vụ công cộng, khắc phục khuyết tật thị trường và vai trò làm giá
đỡ cho nền kinh tế vẫn được duy trì.
Hai là: Vai trò chủ đạo của DNNN phải được thể hiện không ngừng nâng cao

phát triển, đồng thời tăng cường các công cụ quản lý gián tiếp để điều tiết vĩ mô nền
kinh tế.
Bốn là: DNNN có vai trò quan trọng trong việc thực hiện các mục tiêu chính trị -
kinh tế - xã hộI theo định hướng XHCN do Đảng và Nhà nước đề ra.
Trong việc thúc đẩy phát triển nền kinh tế theo định hướng XHCN và thực hiện
những mục tiêu kinh tế - xã hội do Đảng và Nhà nước ta đề ra, thì DNNN là một bộ
phận kinh tế nền tảng và là công cụ trực tiếp chi phối cho các thành phần kinh tế khác
thực hiện chính sách theo hướng XHCN. Trong quan hệ với công tác an ninh quốc
phòng, các DNNN có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc tăng cường quốc phòng ở
các vùng chiến lược.
Trong việc kết hợp phát triển kinh tế với quốc phòng, thì các DNNN có vai trò
quan trọng trong việc cung cấp những hàng hoá, dịch vụ cho các hoạt động quốc phòng
mà trong điều kiện tư nhân không được phép làm như: sản xuất vũ khí, thuốc nổ, bưu
chính viễn thông.
Năm là: DNNN có vai trò quan trọng trong việc khắc phục những khuyết tật do
cơ chế thị trường tạo ra, đầu tư vào các lĩnh vực cần thiết cho sự phát triển kinh tế - xã
hội. Đó là lĩnh vực kinh doanh lãi ít, nhiều rủi ro, thu hồi vốn chậm, nhưng sự tồn tại
phát triển của chúng quyết định đến sự phát triển chung của nền sản xuất xã hội, sản
xuất đồ dùng cho người tàn tật, các hoạt động nghiên cứu cơ bản
Như vậy, trong khi chuyển sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động
theo cơ chế thị trường mà coi nhẹ DNNN hoặc tư nhân hoá tất cả các tư liệu sản xuất là
sai lầm. Song, duy trì DNNN tràn lan, hoạt động không hiệu quả, hạn chế sự phát triển
kinh tế, làm lãng phí tài sản của Nhà nước thì thực chất là hạ thấp vai trò của DNNN.
Vai trò chủ đạo của hệ thống kinh tế Nhà nước nói chung và DNNN nói riêng gắn liền
với vai trò quản lý của Nhà nước đối với nền kinh tế theo định hướng XHCN phục vụ
cho sự nghiệp xây dựng CNXH ở nước ta. Nó khác với vai trò, qui mô, bản chất của
DNNN ở các nước tư bản chủ nghĩa.
KHOA MÁC – LÊNIN GVHD: TH.S TRẦN ĐÌNH MAI
II/ MỘT SỐ QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MAC-LÊNIN VÀ ĐẢNG TA VỀ
KINH TẾ NHÀ NƯỚC NÓI CHUNG VÀ DNNN NÓI RIÊNG VÀ MỘT SỐ

nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế Nhà nước là một bộ phận cấu thành cơ bản,
đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân và giữ chức năng là một công cụ quản
lý vĩ mô của Nhà nước ta.
Các DNNN, một bộ phận quan trọng nhất của kinh tế Nhà nước, giữ những vị trí
then chốt phải đi đầu trong việc ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, nêu gương về
năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế - xã hội và chấp hành pháp luật. Nắm giữ các
ngành, các lĩnh vực kinh tế liên quan đến an ninh quốc phòng, chính sách xã hội và các
ngành mũi nhọn, trọng yếu nhất của nền kinh tế. Sự có mặt của các DNNN trong các
ngành, các lĩnh vực quan trọng có tác dụng điều chỉnh sự cân bằng của nền kinh tế, duy
trì ổn định chính trị - xã hội.
KHOA MÁC – LÊNIN GVHD: TH.S TRẦN ĐÌNH MAI
Khu vực DNNN phải giữ vai trò đòn bẩy, giá đỡ trong nền kinh tế thị trường
nhiều thành phần DNNN là công cụ Nhà nước huy động tập trung vốn vào những lĩnh
vực mang tính chiến lược của nền kinh tế thực hiện việc chuyển giao công nghệ, tiếp
nhận công nghệ hiện đại, tiếp cận nghệ thuật quản lý tiên tiến trên thế giới, tạo cơ sở
kinh tế cho các ngành kinh tế khác phát triển. Khu vực DNNN phải đi đầu trong quá
trình công nghệp hoá, hiện đại hoá theo hướng mở cửa, hội nhập vào nền kinh tế thế
giới. Vai trò của DNNN phải thay đổi linh hoạt tuỳ thuộc vào từng giai đoạn mà Nhà
nước trao cho sứ mệnh phải gánh vác.
• Một số quan điểm về DNNN trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
của Tỉnh Quảng Ngãi:
Chủ động đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế Nhà nước. Tiếp tục
sắp xếp lại DNNN theo loại hình DNNN làm nhiệm vụ kinh doanh và DNNN làm
nhiệm vụ công ích. tiếp tục hoàn thiện tổ chức, quản lý DNNN như: sắp xếp, sáp nhập,
giải thể hoặc phá sản doanh nghiệp. Tổ chức các doanh nghiệp phù hợp với quy hoạch
ngành, lãnh thổ vào những ngành cần thiết cho sự phát triển có hiệu quả và bền vững
của toàn bộ nền kinh tế quốc dân như: kết cấu hạ tầng, tài chính, ngân hàng, an ninh
quốc phòng và những DNNN trong một số ngành sản xuất dịch vụ cần thiết trong nền
kinh tế. Thông qua đó mà Nhà nước có thể điều tiết, hỗ trợ các DNNN và các thành
phần kinh tế khác. Tiếp tục đổi mới công nghệ, kỹ thuật, tổ chức và quản lý doanh

hoạch hóa và quản lý chi tiêu gọi là các DNNN phi tài chính. Các DNNN phi tài chính
với cổ phần của Nhà nước chiếm hơn 50% và doanh thu hơn 5 tỷ được liệt vào hoạt
động của khu vực công cộng. Vào năm 1986, các DNNN phi tài chính đóng góp 24%
GDP, trong đó tất cả các DNNN đóng góp 30%. Nếu không tính nông nghiệp, DNNN
đóng góp 40% GDP.
Ở Malaixia DNNN có 3 loại, được phân theo cách phân loại của Liên Hiệp Quốc,
tức là: 1) Doanh nghiệp hành chính sự nghiệp; 2) Doanh nghiệp công cộng; 3) Doanh
nghiệp sở hữu Nhà nước.
Hiệu quả hoạt động của các DNNN ở Malaixia, đặc biệt là của DNNN phi tài
chính và DNNN hoạt động vì mục đích xã hội rất kém, tỷ lệ các DNNN hoạt động thua
lỗ cao, trong ngành dịch vụ và ngành công nghiệp, DNNN hoạt động không có hiệu quả
bằng các ngành khác.
Đến năm 1988, tình hình họat động của các DNNN cũng không thay đổi. Trong
tổng số 770 DNNN được điều tra về lãi và lỗ, chỉ có 387 doanh nghiệp hoạt động có lãi
với tổng lợi nhuận là 4,868 tỷ đôla và 383 doanh nghiệp làm ăn thua lỗ 5.610 đôla. Phần
lớn doanh nghiệp bị thua lỗ là doanh nghiệp có quy mô lớn và ở trong công nghiệp
nặng.
Nguyên nhân hoạt động kém hiệu quả của DNNN ở Malaixia là yếu kém trong
quản lý, kiểm soát và kế hoạch của Chính phủ, những mục tiêu trái ngựơc nhau của các
DNNN, thiếu sự linh hoạt trong môi trường kinh tế. Malaixia đang tiến hành cải cách
trong công tác kế hoạch hoá, bỏ những cản trở về nguồn nhân lực, giảm can thiệp Chính
phủ, cải thiện môi trường hoạt động kinh doanh. Gần đây hệ thống khuyến kích theo cơ
chế thị trường được áp dụng trong việc lập chính sách cho các DNNN.
*Ở Trung Quốc
(2)
:
Giống như các nước XHCN khác, tỷ trọng của khu vực DNNN trong nền kinh tế
quốc dân ở Trung Quốc rất cao. DNNN giữ vị trí chủ đạo, hoạt động của DNNN theo cơ
chế tập trung quan liêu tỏ ra rất kém hiệu quả. Trung Quốc đã tiến hành cảI cách khu
vực DNNN vào cuối những năm 70.

34,4 tỷ nhân dân tệ (NDT).
Việc cải cách các DNNN ở Trung Quốc vẫn còn là vấn đề đang nổi cộm, Những
vẫn đề đặt ra đối với việc cải tổ khu vực DNNN cũng là những vấn đề cần phải nghiên
cứu và giải quyết ở Việt Nam.
b. Kinh nghiệm của một số địa phương trong nước:
* Ở ĐăkLăk
(3)
:
DNNN tỉnh ĐăkLăk những năm vừa qua đã có những biến đổi đáng kể, tính đến
nay có 111 DNNN thuộc tỉnh quản lý. Tình hình hoạt động thích ứng được với cơ chế
thị trường, tuy nhiên vẫn còn một số hoạt động kém hiệu quả, bị thua lỗ trong sản xuất
kinh doanh, nhìn chung chưa có tính ổn định. Qua đó cho thấy: cơ chế bao cấp đã ảnh
hưởng không nhỏ tới hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp, trong khi đó bộ máy
chỉ đạo của các doanh nghiệp cồng kềnh, chi phí quản lý quá lớn, cơ cấu chủng loại sản
phẩm còn nghèo nàn, sản phẩm xuất khẩu chủ yếu là cà phê, cao su, gỗ
Để DNNN giữ được vị trí chủ đạo thực sự, Nhà nước cần phải củng cố để có
được sự phát triển đúng hướng, phục vụ tốt cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá
của Tỉnh trong những năm tới. Việc triển khai sắp xếp doanh nghiệp theo chỉ thị
500/TTg của Thủ tướng Chính phủ đã thực hiện được công tác quy hoạch tổng thể, sắp
xếp lại doanh nghiệp theo ngành kinh tế kỹ thuật gắn với lãnh thổ phù hợp với quy
hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và sự kiểm tra giám sát của các cơ quan chức
năng Nhà nước về mô hình tổ chức sản xuất kinh doanh ở từng doanh nghiệp rất đa
dạng. Do vậy đã làm cho quá trình sản xuất, lưu thông hàng hoá được mở rộng, đồng
thời doanh nghiệp được tự chủ và chịu trách nhiệm về kinh tế hoặc sản xuất kinh doanh
của mình, đầu tư mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh thông qua các hình thức liên
KHOA MÁC – LÊNIN GVHD: TH.S TRẦN ĐÌNH MAI
doanh, liên kết với các thành phần kinh tế khác, cung ứng các dịch vụ về kinh tế kỹ
thuật, thu mua sản phẩm, góp phần tạo ra bước phát triển ổn định cho nền kinh tế của
tỉnh. Sau khi thực hiện phương án sắp xếp DNNN của tỉnh hiện nay toàn tỉnh gồm có
122 doanh nghiệp.

chiếm 56% tổng số vốn. Tuy nhiên, nhìn một cách tổng thể, so vớI yêu cầu trong thời kỳ
đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá hệ thống DNNN còn nhiều yếu kém và bất cập.
Quy mô doanh nghiệp còn nhỏ bé dàn trải trên hầu hết các ngành, nghề và địa
phương phân tán về vốn, trong khi vốn Nhà nước rất hạn chế. Tính đến nay, trong số
5.655 DNNN, kể cả hàng trăm DNNN mới đã thành lập trong những năm gần đây, số
doanh nghiệp vốn dưới 5 tỷ đồng chiếm tới 65,4%, số doanh nghiệp vốn trên 10 tỷ đồng
chiếm 20,89%, ở các địa phương hơn 30% số doanh nghiệp có vốn dưới 1 tỷ đồng. Tình
trạng phổ biến là các doanh nghiệp thiếu vốn nghiêm trọng.
Trình độ kỹ thuật, công nghệ các doanh nghiệp còn lạc hậu. Ngoài một số ít
doanh nghiệp được trang bị kỹ thuật hiện đại hoặc trung bình, đại bộ phận doanh nghiệp
máy móc thiết bị, dây chuyền sản xuất còn lạc hậu so với thế giới từ 10 – 20 năm, các
ngành như ngành cơ khí tới 30 năm, thậm chí có 38% số này ở dạng thanh lý. Do tình
trạng máy móc như vậy nên chưa tạo được nhiều sản phẩm mũi nhọn cho quốc gia, khả
năng cạnh tranh thấp. Một số mặt hàng trong nước như sắt, thép, phân bón, xi măng, có
mức giá cáo hơn mặt hàng cùng loại nhập khẩu từ 20-40%, cá biệt mặt hàng đường thô
cao hơn tới 70-80%. Chỉ khoảng 15% sản phẩm đạt chất lượng xuất khẩu. Tình hình này
KHOA MÁC – LÊNIN GVHD: TH.S TRẦN ĐÌNH MAI
đang là một thử thách rất lớn đối với các doanh nghiệp nước ta trong bối cảnh toàn cầu
hoá mạnh về kinh tế.
Một tình trạng khá phổ biến là số lao động dôi dư trong các doanh nghiệp khá
lớn, ước tính tổng số lao động không có việc làm ở các DNNN tới khoảng 10 vạn người
có tên trong danh sách nhưng đang nghĩ chờ việc hoặc tự bỏ, tự tìm việc ở nơi khác.
Công nợ tại các doanh nghiệp quá lớn, theo số liệu kiểm kê năm 2000, tổng số nợ
phải trả của DNNN tới 194.841 tỷ đồng, bằng 15,23% tổng số vốn nhà nước trong các
DNNN, trong đó nợ quá hạn là 10.716 tỷ đồng, nợ khó đòi là: 2.748 tỷ đồng. Mặc dù
ngân sách nhà nước luôn thiếu hụt, song nhà nước đã phải dành ra một khoảng vốn lớn
hổ trợ cho các doanh nghiệp thông qua nhiều hình thức như đầu tư trực tiếp, cấp bổ
sung vốn lưu động, bù lổ, miễn trả thuế, xoá nợ, khoanh nợ, giảm nợ giảm thuế khấu
hao, cho vây vốn tín dụng ưu đãi trong 10 năm lại đây tới gần 127.000 tỷ đồng.
Thực hiện chủ trương đa dạng sở hữu một số DNNN không cần thiết 100% vốn

0
c. Bình quân 4
KHOA MÁC – LÊNIN GVHD: TH.S TRẦN ĐÌNH MAI
năm có một cơn bão hoặc ấp thấp nhiệt đới ảnh hưởng trực tiếp đến Quảng Ngãi,
thường gây nên lũ lụt. Tổng lượng bức xạ trong năm lớn tới 1400-1500Kcal/năm; số giờ
nắng khoãng 2000giờ/năm.
Khí hậu Quảng Ngãi với lượng bức xạ lớn thuận lợi về phơi sấy, sử dụng năng
lượng mặt trời trong công nghiệp chế biến Nông Lâm Sản làm muối sản xuất điện năng.
Tuy nhiên do địa hình dốc, mưa tập trung theo mùa vào tháng 9,10,11 và 12 hàng năm
nên thường xuyên bị lũ lụt làm ảnh hưởng sản xuất, thiệt hại về người và vật chất cho
nhân dân trong vùng.
c. Khái quát về kinh tế -xã hội:
Trải qua một thập kỷ, từ một tỉnh nền kinh tế có điểm xuất phát thấp, chúng ta đã
cố gắn phát triển một cách toàn diện, cơ sở vật chất kỹ thuật kinh tế và xã hội được tăng
cường đời sống nhân dân từng bước được cải thiện số hộ đói nghèo giảm đáng kể. Nền
kinh tế từng bước được ổn định và phát triển đạt được tốc độ tăng trưởng khá so với
mức bình quân chung cả nước. Đặc biệt từ năm 2002 trở lại đây tốc độ phát triển kinh tế
tăng ở “ 2 con số “. (Năm 2002: 10,6 %; năm 2003 : 10,3%; ước thực hiện năm 2004 :
11- 11,5 % ). Năm 2003 tổng thu ngân sách trên địa bàn tỉnh đạt 420.000 triệu đồng.
GDP bình quân đầu người tăng năm 2002 là 2,628 triệu đồng (192 USD), năm
2003 là 3,562 triệu đồng (230 USD), ước thực hiện 2004 khoảng 3,838 triệu đồng (246
USD) thể hiện bằng bản như sau:
Chỉ tiêu Đơn vị 2002 2003 Ước 2004
-Tốc độ phát triển kinh tế ( GDP ) % 10,6 10,3 11 – 11,5
-GDP bình quân đầu người Tr.đồng 2,628 3,562 3,838
(Nguồn: Sở Kế Hoạch và Đầu Tư Quảng Ngãi )
Cùng với sự tăng trưởng là sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng ngày càng
giảm tỷ trọng ngành nông - lâm - ngư nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp –xây dựng và
dịch vụ, cụ thể:
Đơn vị tính: %

Cuối năm 2003, sau khi thực hiện chỉ thị 20/1998/TTg của Thủ Tướng Chính
phủ, số lượng DNNN của tỉnh đã giảm từ 43 doanh nghiệp xuống còng 34 doanh nghiệp
( năm 2003) nhưng thực chất chỉ còn 32 doanh nghiệp hoạt động (2 doanh nghiệp ngưng
hoạt động đang làm thủ tục giải thể), 16 DNNN trung ưong và 60 chi nhánh DNNN
Trung ương trên địa bàn Tỉnh.
DNNN được thành lập để cung cấp hàng hoá và dịch vụ công cộng, là bộ phận
quan trọng của nền kinh tế, chiếm giữ tỷ phần lớn trong các ngành mũi nhọn, trọng yếu
nhất của nền kinh tế, giữ vị trí then chốt. Có tác dụng điều chỉnh sự cân bằng của nền
kinh tế. Bên cạnh đó, DNNN cũng được thành lập để thực hiện những mục tiêu xã hội
như tạo công ăn việc làm, khắc phục sự mất cân bằng về phát triển kinh tế vùng, đồng
thời có mối quan hệ thúc đẩy các thành phần kinh tế khác phát triển. Điều đó sẽ được
chứng minh bằng các chỉ tiêu kinh tế -xã hội cụ thể của tỉnh như sau:
Chỉ tiêu 2001 2002 2003
KHOA MÁC – LÊNIN GVHD: TH.S TRẦN ĐÌNH MAI
I.Tổng sản phẩm GDP
Trong đó :
- Kinh tế nhà nước
+ Trung ương quản lý
+ Địa phương quản lý
- Kinh tế tập thể
- Kinh tế cá thể, tiêu chủ
- Tư bản tư nhân
- Tư bản hổn hợp
- Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước
ngoài
3.390.887
850.211
515.156
335.055
419.354

220.000
71.984
17.079
420.000
93.881
19.689
(Nguồn: Cục thống kê tỉnh Quảng Ngãi)
Qua danh mục trên cho ta thấy tổng sản phẩm kinh tế quốc dân luôn tăng lên qua
các năm, trong 6 thành phần kinh tế thì riêng kinh tế quốc doanh chiếm 30,4% trong tổng
sản phẩm (GDP) của tỉnh. Bên cạnh đó hằng năm tỉ lệ đóng góp trong ngân sách nhà
nước của kinh tế quốc doanh cũng tăng lên. Điều đó sẽ cho ta thấy được một loạt các vấn
đề xã hội được điều chỉnh theo hướng tích cực như: Lao động được giải quyết, việc làm
tăng (hằng năm tạo việc làm và thêm việc làm mới cho khoảng 29 - 30 ngàn lao động)
đời sống nhân dân từng bước được cải thiện, giảm tỉ lệ hộ nghèo từ 23,7% xuống còn
14,8% năm 2003. Cụ thể hơn, đươc thể hiện qua tình hình hoạt đông của DNNN trên địa
bàn Tỉnh như sau :
a. Hình thức tổ chức và tình hình hoạt động của DNNN trên địa bàn tỉnh
Quảng Ngãi.
+ Về phát triển công nghiệp của DNNN:
DNNN hoạt động mạnh trong lãnh vực công nghiệp chiếm tỉ trọng lớn trong tổng
sản phẩm công nghiệp của tỉnh. Năm 2003 giá trị sản xuất công nghiệp (giá trị so sánh
1994) đạt 1.164.000 triệu đồng thì công nghiệp quốc doanh đạt 775.000 triệu đồng (tăng
22,45% so với năm 2002). Trong đó công nghiệp quốc doanh Trung ương đạt 731.500
triệu đồng (tăng 23,31% so với năm 2002) công nghiệp quốc doanh địa phương đạt
43.500 triệu đồng tăng (tăng 9,57% so với năm 2002) sản phẩm công nghiệp dần tăng
cao về số lượng, chủng loại chất lượng, tiêu biểu:
- Năng lực chế biến hải sản đạt 5.000 tấn /năm.
- Công suất chế biến mía đường đạt 4000 tấn/ngày. Nhu cầu nguyên liêu mía từ
750.000 tấn – 800.000 tấn/năm và mở rộng đầu tư các tỉnh Gia Lai, Kontum công suất
2.500 tấn/ngày.

- Nhiều công trình nhà máy đựoc đầu tư mới, đầu tư bổ sung, góp phần tạo nhiều
giá trị và sản phảm như: nhà máy nước khoáng, nhà máy khí công nghiệp, nhà máy gạch
Bình Nguyên (Cty An Ngãi), xương nuớc quả đóng hộp (vilex), nhà máy bia, nhà máy
bánh kẹo, nhà máy sữa, nhà máy tinh bột mỳ.
Đến nay tính đã hình thành và phát triển 3 khu công nghiệp: khu công nghiệp
Tịnh Phong, khu công nghiệp Quảng Phú, khu công nghiệp Dung Quất. Là điều kiên
thuận lợi, đồng thời thúc đẩy sự phát triển của các ngành dịch vụ góp phần giải quyết
việc làm cho nhân dân, củng cố đời sống cho nhân dân tỉnh, thu hút vốn đầu tư từ nhiều
nguồn khác nhau là động lực phát triển kinh tế xã hội của tỉnh:
- Đối với khu công nghiệp Tịnh Phong: hiện đã có 11 dự án được cấp giấy phép,
tổng vốn đầu tư 96 tỷ đồng, diện tích chiếm đất 18 ha.
- Đối với khu công nghiệp Quảng Phú: hiện có 25 dự án đang hoạt động tổng
vốn đầu tư 827 tỷ đồng, tổng diện tích chiếm đất là 40 ha.
- Đặc biệt khu công nghiệp Dung Quất là trung tâm lọc hoá dầu cảng biển nước
sâu, nơi thu hút nhiều nhà đầu tư, triển khai nhiều dự án có quy mô lớn mang tầm cở
quốc gia và khu vực, với diện tích 10.300 ha. Thực sự lợi thế cho sự vươn lên phát triển
kinh tế của Quảng Ngãi và là động lực thúc đẩy sự phát triển của miền Trung nhằm từng
bước rút ngắn sự cách biệt về phát triển so với hai đầu đất nước.
Hiện nay Dung Quất đang thực sự hình thành quy mô 1 khu kinh tế, với nhiều
dự án đầu tư quan trọng, nhất là nhà máy lọc dầu số 1 (Công suất 6,5 triệu tấn/năm).Đến
cuối năm 2003 tổng số dự án được cấp giấp phép đầu tư vào khu công nghiệp Dung
Quất là 33 dự án, tổng vốn đầu tư là 28.000 tỷ đồng. Hiện nay có 10 dự án đi vào hoạt
KHOA MÁC – LÊNIN GVHD: TH.S TRẦN ĐÌNH MAI
động sản xuất, 10 dự án đang xây dựng, còn lại đang triển khai các thủ tục đền bù và
chuẩn bị thi công, giải quyết trên 2.000 lao động.
Đến nay các công trình hạ tầng ngoài hàng rào Nhà máy lọc dầu số 1 và khu công
nghiệp đã cơ bản hoàn thành và đang tiếp tục đầu tư, chuẩn bị đầu tư, phục vụ ngay cho
quá trình Xây dựng, vận hành các nhà máy trong khu công nghiệp ( vớI 60,96 km giao
thông ), bến cản chuyên dùng cho tàu 10.000 tấn, xây dựng nhà máy nước 15000
m

- Vốn tín dụng
- Vốn tự có của DNNN
946.526
347.992
160.651
187.271
185.429
413.175
1.255.415
423.400
126.415
296.985
172.015
660.800
1.523.689
493.012
142.023
350.989
159.201
871.476
Vốn nhà nước đầu tư vào xây dựng tăng lên qua các năm, trong đó là do vốn
ngân sách nhà nước và vốn tự có của DNNN tăng; vốn tín dụng giảm. Điều đó chứng tỏ
năng lực cuả DNNN tăng lên.
Đến nay đã có 177/179 xã có đường ôtô đến trung tâm xã, đã có 100% tuyến
đường trung tâm huyện đến các xã đồng bằng được nhựa hoá, đua vào sử
KHOA MÁC – LÊNIN GVHD: TH.S TRẦN ĐÌNH MAI
dụng 10.885 km đường giao thông; trong đó cứng hoá, nhựa hoá 808,5
km, bê tông hoá hơn 200 km, hàng trăm cầu cống được xây dựng. Nâng
cấp và làm mới đưa vào sử dụng 38 công trình thuỷ lợi (tổng công suất
tưới hơn 2070ha); nâng cấp trên 50 km tuyến kênh chính và kênh cấp 2

quá nhỏ trong tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ toàn tỉnh. Hoạt động du lịch còn
đơn điệu, chưa khai thác hết tiềm năng, nhất là du lịch sinh thái, văn hoá.
Về bưu chính viễn thông đã thể hiện được vai trò chủ đạo, phát triển mạnh theo
hướng hiện đạI hoá. Đã xây dựng được công trình tổng đài điện tử kỹ thuật, hệ thống
truyền dẫn cáp xuyên việt, hệ thống vi ba số và vi ba nộI tỉnh, Bưu điện Dung Quấtđáp
ứng nhu cầu thông tin của các cơ quan, doanh nghiệp và nhân dân. Đến nay, có 91,1%
xã, phường sử dụng máy điện thoạI, bình quân đạt 2,05 máy/100dân
Các dịch vụ ngân hàng củng đã thể hiện được vai trò chủ đạo của mình, thúc đẩy
được các thành phần kinh tế khác phát triển .Năm 2003 các dịch vụ ngân hàng đã đáp
ứng được 86% nhu cầu tín dụng của các doanh nghiệp, tăng 28 % so vớI năm 2000.

Trích đoạn Giảipháp đổi mới cơ cấu đầu tư, khai thác các nguồn vốn sử dụng đáp ứng được nhu cầu phát triển và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, đổi mới công nghệ Giảipháp làm tốt công tác đào tạo bồI dưỡng, tuyển chọn độI ngũ cán bộ quản lý và nâng cao trình độ tay nghề của công nhân: Phương hướng và giảipháp để phát triển doanh nghiệp nhà nước trên địa
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status