BỘ CÔNG THƯƠNG
TRUNG TÂM THÔNG TIN CÔNG NGHIỆP VÀ THƯƠNG MẠI HỒ SƠ
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU ÁP DỤNG VIỆC TÍNH TOÁN “CHỈ SỐ
ĐỔI MỚI CÔNG NGHIỆP” TẠI VIỆT NAM
Mã số: 172.12. RD/HĐ-KHCN
Cơ quan chủ trì: Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương mại
Cơ quan chủ quản: Bộ Công Thương
Chủ nhiệm đề tài: ThS. Nguyễn Thị Tú Oanh
Căn cứ Quyết định số 6968/QĐ-BCT ngày 29 tháng 12 năm 2011 của Bộ trưởng
Bộ Công Thương về việc đặt hàng thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ năm 2012.
Chúng tôi gồm:
1. Bên đặt hàng là: Bộ Công Thương (dưới đây gọi là Bên A)
Đại diện là bà: Phạm Thu Giang
Chức vụ : Phó Vụ trưởng - Vụ Khoa học và Công nghệ
Địa chỉ : 54, Hai Bà Tr
ưng, Hoàn Kiếm, Hà Nội.
Điện thoại: 04.22202343
2. Bên cung cấp dịch vụ là: Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương mại
(dưới đây gọi là Bên B)
Đại diện là ông: Đỗ Văn Chiến
Chức vụ : Giám đốc
Địa chỉ : 46 Ngô Quyền – Hoàn Kiếm – Hà Nội
Điện thoại: 0438250713
Tài khoản: 8123 (301.01.216) Tại Kho bạc Nhà nước Hoàn Kiếm–Hà Nội
Mã ĐVQHNS:
1055532
Cùng thoả thuận và thống nhất ký Hợp đồng nghiên cứu khoa h
ọc và phát triển công
nghệ với các nội dung như sau:
Điều 1. Trách nhiệm và quyền của bên B:
1. Bên B cam kết thực hiện đề tài “Nghiên cứu áp dụng việc tính toán “Chỉ số
đổi mới công nghiệp” tại Việt Nam” theo các yêu cầu về nội dung, tiến độ thực hiện
và dự toán kinh phí được nêu trong Thuyết minh đề tài kèm theo Hợp đồng này.
2. Chấp hành các quy định pháp luật và những yêu cầu của cơ quan quản lý trong
quá trình thực hiện Hợp đồng; gửi báo cáo giữa kỳ và báo cáo đột xuấ
t (nếu có) về tình
hình thực hiện đề tài về Bộ theo yêu cầu.
3. Hoàn thành các thủ tục nghiệm thu các cấp, thanh quyết toán tài chính theo
Trong trường hợp kiến nghị liên quan đến đề tài của bên B được bên A xem xét,
giải quyết thì văn bản trả lời/chấp thuận của bên A sẽ là bộ phận của Hợp đồng làm
căn cứ xem xét khi nghiệm thu đề tài.
Điều 5. Điều khoản thi hành
- Hai bên cam kết thực hiện đầy đủ các điều khoản đã ghi trong hợp đồng. Nếu có
yêu cầu cần thay đổi, hoặc có vi phạm Hợp đồng, hai bên sẽ thoả thuận để giải quyết.
- Hợp đồng này có hiệu lực kể từ ngày ký, được lập thành 07 bản có giá trị như nhau.
Bên A giữ 4 bản./.
Đại diện Bên A
TL. BỘ TRƯỞNG
KT.VỤ TRƯỞNG VỤ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
PHÓ VỤ TRƯỞNG
Phạm Thu Giang
Đại diện Bên B
GIÁM ĐỐC
TRUNG TÂM THÔNG TIN
CÔNG NGHIỆP VÀ THƯƠNG MẠI
3. Thuộc Chương trình trọng điểm cấp Bộ/Chuyên mục (nếu có)
4. Thời gian thực hiện: 12 tháng (Từ tháng 01/2012 đến tháng 12/2012)
5. Kinh phí:
- Tổng số: 160.000.000 đ
- Trong đó, từ ngân sách SNKH: 160.000.000 đ
6. Họ tên chủ nhiệm đề tài: Nguyễn Thị Tú Oanh
Học hàm, học vị, chuyên môn: Thạc sỹ
Chức vụ: Phó trưởng phòng
Cơ quan: Trung tâm thông tin Công nghiệp - Thương mại
Địa chỉ: 76 Nguyễn Trường Tộ
Điện thoại CQ: 04.22192890 Di động: 0983557655
Fax: 04. 37150520 E-mail: [email protected]
7. Cơ quan chủ trì: Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương mại
Địa chỉ: 46 Ngô Quyền, Hà Nội
Điện thoại: 04.38262316 Fax: 04. 39349177 Email: [email protected]
8. Cơ quan phối hợp chính:
- Vụ Kế hoạch, Vụ Công nghiệp nhẹ, Vụ Công nghiệp nặng, Vụ HTQT, Vụ
KHCN, Tổng cục Năng lượng - Bộ Công Thương
- Tổng cục Thống kê
- Cục Sở hữu trí tuệ - Bộ KH và CN
- Một số Hiệp hội ngành hàng và doanh nghiệp sản xuất công nghiệp
9. Danh sách những người thực hiện chính:
STT Họ và tên Học vị, học hàm Cơ quan
chuyên môn
Nguyễn Thị Tú Oanh Thạc sỹ Trung tâm Thông tin CN và TM
Nguyễn Xuân Hòa Cử nhân Trung tâm Thông tin CN và TM
Lê Mai Thanh Cử nhân Trung tâm Thông tin CN và TM
Phạm Huyền Trang Cử nhân Trung tâm Thông tin CN và TM
Nguyễn Thị Ánh Ngọc Cử nhân Trung tâm Thông tin CN và TM
- Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp
- Phương pháp chuyên gia, hội thảo chuyên đề
14. Nội dung nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung
của đề tài gồm 3 chương như sau:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về phương pháp tính và bộ chỉ tiêu tính toán chỉ số
đổi mới, đổi mới công nghiệp đã được sử dụng trên thế giới
1.1 Các khái niệm cơ bản
1.2 Khái luận về chỉ
số đổi mới, chỉ số đổi mới công nghiệp
1.3 Thực tế tính toán và công bố chỉ số đổi mới, chỉ số đổi mới công nghiệp
trên thế giới
1.4 Kinh nghiệm quốc tế về tính toán và công bố chỉ số đổi mới, chỉ số đổi
mới công nghiệp và một số bài học cho Việt Nam
Chương 2: Nghiên cứu áp dụng và tính toán thử đối với ngành công nghiệp Việ
t Nam
2.1 Phương pháp tính chỉ số đổi mới và các điều kiện áp dụng
2.1.1 Phương pháp tính chỉ số đổi mới
Chỉ số đổi mới công nghiệp bao gồm những quy trình mới, công nghệ mới, sản
phẩm mới và các giải pháp hữu ích được tính theo năm tài chính. Được tính toán theo các
tiêu chí:
- Nghiên cứu triển khai(R&D): Tính bằng % tiền( ngân sách) chi cho R&D của
ngành (doanh nghiệp)/tổng ngân sách trong năm tài chính của ngành (doanh
nghiệp) và % lao động cho R&D/ tổng lao động sử dụ
ng trong ngành (doanh nghiệp)
- Bằng sáng chế: Tính bằng số đơn xin cấp bằng/ tổng lao động trong ngành
(doanh nghiệp)
- Nhãn hiệu hàng hóa: Tính bằng nhãn hiệu hàng hóa(mới)/ tổng lao động trong
ngành (doanh nghiệp)
- Khả năng sáng tạo thiết kế: Tính bằng số thiết kế, sáng tạo mới/ tổng lao động
15. Hợp tác quốc tế
Tên đối tác Nội dung hợp tác
Đã hợp tác
Dự kiến hợp tác
16. Dạng sản phẩm, kết quả tạo ra
I
- Mẫu (model, market)
- Sản phẩm
- Vật liệu
- Thiết bị, máy móc
- Dây chuyền công nghệ
- Giống cây trồng
- Giống con
II
- Quy trình công nghệ,
kỹ thuật
- Phương pháp
- Tiêu chuẩn
- Quy phạm
III
- Sơ đồ
- Bảng số liệu x
- Báo cáo phân tích x
- Tài liệu dự báo
- Đề án, quy hoạch
vị đo
Kết
quả đạt
được
Trong
nước
Thế
giới
Số lượng
sản phẩm
tạo ra
(1) (2) (3) (4) (5) (6) (7)
19. Tiến độ thực hiện
Thời gian thực hiện
Kết quả cụ
thể
(Số lượng,
khối lượng,
chất lượng)
Ghi chú
TT
phương pháp tính và bộ chỉ
tiêu tính toán chỉ số đổi
mới, đổi mới công nghiệp
đã được sử dụng trên thế
giới.
-
Nghiên cứu áp dụng và tính
toán thử đối với ngành công
nghiệp Việt Nam.
- Đề xuất giải pháp hoàn
thiện việc tính toán chỉ số
đổi mới công nghiệp và bổ
sung vào danh mục chỉ tiêu
thống kê của ngành Công
Thương.
4/2012 10/2012
Các báo cáo
chuyên đề
Ban CNĐT
và cơ quan
phối hợp
4
Báo cáo giữa kỳ về kết quả
triển khai với Bên A
01/6/2012 31/6/2012
Báo cáo giữa
kỳ các nội
tài cấp Bộ
TT Thông
tin CN và
TM
8
Nộp báo cáo tổng kết, thanh
lý, quyết toán tài chính
5
/12/2012
2
5/1/2013
- Giấy biên
nhận nộp BC
tổng kết
-Biên bản
nghiệm thu
cấp Bộ và
thanh lý hợp
đồng
- Hoàn tất thủ
Trung tâm
Thông tin
CN và TM
& Bộ Công
Thương
Thời gian thực hiện Kết quả cụ
thể
(Số lượng,
khối lượng,
chất lượng)
Không
khoán
Nguồn
khác
1 Chi công lao động
124,000
- Chi thanh toán hợp
đồng thực hiện nghiệp
vụ chuyên môn (chuyên
đề)
CĐ 11
10,000
110,000 - Xây dựng đề cương
chi tiết
ĐC 1
2,000
2,000
- Xây dựng báo cáo
tổng hợp BC 1
sắm tài sản cố định 4 Các khoản chi khác 33,000
4.1
Phụ cấp chủ nhiệm đề
tài
tháng 12
1,000
12,000 1
Ghi chú: Chi tiết dự toán kinh phí lập theo hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 44/2007/TTLT-BTC-BKHCN
ngày 07 tháng 5 năm 2007 hướng dẫn định mức xây dựng và phân bổ dự toán kinh phí đối với các đề tài, dự án
khoa học và công nghệ có sử dụng ngân sách nhà nước và Thông tư liên tịch số 93/2006/TTLT/BTC-BKHCN
ngày 04 tháng 10 năm 2006 về hướng dẫn chế độ khoán kinh phí của đề tài, dự án khoa học và công nghệ sử
dụng ngân sách nhà nước.
4.2
Hội nghị, hội thảo,
nghiệm thu cấp cơ sở
6,700
Đỗ Văn Chiến Nguyễn Thị Tú Oanh
Hà Nội, ngày tháng 04 năm 2012
TL. BỘ TRƯỞNG
KT. VỤ TRƯỞNG VỤ KH&CN KT. VỤ TRƯỞNG VỤ TÀI CHÍNH
PHÓ VỤ TRƯỞNG PHÓ VỤ TRƯỞNG Phạm Thu Giang Nguyễn H
ồng Dương
Phụ lục: Danh sách các chuyên đề khoa học của đề tài
Nội dung các chuyên đề cụ thể
Kinh phí
thực hiện
(1000 VNĐ)
Thời gian
thực hiện
01
Tình hình nghiên cứu chỉ số đổi mới trên thế giới (các
khái niệm cơ bản, các vấn đề lý luận)
10.000
số đổi mới công nghiệp đối với một số ngành công
nghiệp nhẹ
10.000
4/2012 -
6/2012
07
Thực trạng nguồn số liệu đầu vào trong việc tính toán
chỉ số đổi mới công nghiệp và khả năng tính toán, công
bố chỉ số đổi mới công nghiệp tại Việt Nam
10.000
4/2012 -
6/2012
08
Định hướng phát triển ngành công nghiệp của Việt Nam
và tính hữu ích của việc tính toán thử chỉ số đổi mới
công nghiệp
10.000
4/2012 -
6/2012
09
Một số đề xuất đối với hoàn thiện hệ thống số liệu thống
kê làm nguyên liệu đầu vào cho việc tính toán chỉ số đổi
mới công nghiệp
10.000
4/2012 -
6/2012
10
Một số đề xuất trong quá trình tính toán và công bố chỉ
số đổi mới công nghiệp Việt Nam
10.000
cứu và tính toán. Khi xem xét, đánh giá doanh nghiệp, chỉ số đổi mới là chỉ
số quan trọng phản ánh sức sống của doanh nghiệp. Chỉ số này thể hiện tỷ lệ
doanh số
của các sản phẩm mới có trong vòng ba năm gần nhất. Không có
công ty nào tồn tại được với chỉ số đổi mới là con số không. Các doanh
nghiệp, các ngành kinh tế sẽ gặp khó khăn và không thể thành công được
nếu chỉ số đổi mới của họ đạt mức thấp.
Chỉ số đổi mới công nghiệp là chỉ số dùng để đo lường mức độ đổi
mới công nghiệ
p của một quốc gia trong khoảng thời gian nhất định. Thông
qua chỉ số đổi mới công nghiệp, cơ quan quản lý nhà nước có những biện
pháp thích hợp nhằm khuyến khích sự phát triển của ngành công nghiệp
cũng như các mục tiêu an sinh xã hội khác.
2
Ở cấp độ ngành và cấp độ nền kinh tế, chỉ số đổi mới đã được nghiên
cứu tính toán và công bố tại nhiều quốc gia và đã phát huy hiệu quả nhất
định. Tuy nhiên, ở Việt Nam, chỉ số này hiện vẫn chưa được nghiên cứu tìm
hiểu, tính toán và công bố.
Trong bối cảnh hiện nay, sự phát triển của nền kinh tế được phản ánh
qua hệ thống các chỉ số. Chỉ
số đổi mới công nghiệp là một chỉ số quan
trọng phản ánh mức độ đổi mới của ngành công nghiệp - ngành được coi là
nền tảng cho sự phát triển kinh tế quốc dân (nhất là đối với các nước đang
phát triển), phản ánh sức sống của nền kinh tế, của các ngành, các doanh
nghiệp nên việc tính toán và công bố chỉ số này là hết sức cần thiết. Do đó,
nhóm nghiên cứu đã b
ước đầu Nghiên cứu áp dụng việc tính toán “Chỉ
số đổi mới công nghiệp” tại Việt Nam.
2. Mục tiêu nghiên cứu:
công nghiệp và bổ sung vào danh mục chỉ tiêu thống kê của ngành Công
Thương.
4
Chương 1
NGHIÊN CỨU, TÌM HIỂU PHƯƠNG PHÁP TÍNH VÀ
BỘ CHỈ TIÊU TÍNH TOÁN CHỈ SỐ ĐỔI MỚI CÔNG NGHIỆP
ĐÃ ĐƯỢC SỬ DỤNG TRÊN THẾ GIỚI
1.1. CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN
1.1.1. Chỉ số, chỉ số đổi mới công nghiệp
a/ Khái niệm về chỉ số
Chỉ số là một đại lượng dùng để so sánh mức độ thay đổi của cùng một
đại lượng tại thời điểm hiện tại so với thời điểm gốc đã được chọn trước.
Các chỉ số thường được tính toán bằng % thay đổi so v
ới năm gốc.
Công thức tính chung: Trong đó:
xu hướng thay đổi của các đại lượng sát với thực tế.
- Tính toán các chỉ số trong thống kê cho kết quả phong phú, chi ti
ết,
đa dạng theo các ngành/lĩnh vực chi tiết, cụ thể.
- Kết quả tính toán các chỉ số trong thống kê có thể dùng để so sánh
với các thống kê của các nước khác hoặc thống kê quốc tế.
Tuy nhiên, do các chỉ số chú trọng vào phản ánh sự thay đổi của các đại
lượng thống kê (số %) nên không thể hiện được bằng giá trị tuyệt đối. Mặt
khác, các bộ chỉ số thường sử d
ụng mốc thời gian nhất định nào đó làm gốc
để so sánh nên không phản ánh được một cách chính xác sự biến động của
những chu kỳ tính tiếp theo so với chu kỳ liền trước nó.
b/ Khái niệm về đổi mới công nghiệp và chỉ số đổi mới công nghiệp
+ Công nghiệp là một ngành, một bộ phận của nền kinh tế, là lĩnh
vực sản xuất hàng hóa vật chất mà sản phẩ
m của nó bắt buộc phải qua khâu
chế tạo, chế biến nhằm phục vụ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh hoặc cho
nhu cầu tiêu dùng của dân cư.
Theo cách phân loại của Việt Nam, ngành công nghiệp được phân loại
thành các nhóm chính là: Công nghiệp khai khoáng, công nghiệp chế biến,
chế tạo; công nghiệp sản xuất và phân phối điện, nước, khí đốt và Công
nghiệp cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thả
i, nước thải. Đây là
6
các nhóm ngành công nghiệp cơ bản, được sử dụng ổn định trong các hệ
thống thống kê và từ đó có thể phân chia thành các nhóm ngành nhỏ hơn tùy
theo đặc điểm của từng nhóm ngành. Trong hệ thống thống kê, các nhóm
ngành nhỏ hơn có sự ổn định thấp hơn so với các nhóm ngành chính.
Tại Việt Nam, hệ thống ngành kinh tế hiện nay được áp dụng thống
các quốc gia và là nền tảng để duy trì sự phát triển ổn định của doanh nghiệp,
của một ngành kinh tế hay của toàn bộ nền kinh tế, đặc biệt trong bối cảnh
cạnh tranh th
ị trường đang diễn ra mạnh mẽ ở tất cả các ngành, các lĩnh vực
kinh tế với quy mô và mức độ ngày càng cao.
Đổi mới công nghiệp hiểu theo cách đơn giản nhất là quá trình làm thay
đổi quy trình công nghệ cũ và một quy trình “mới và hữu dụng” được áp
dụng với mục tiêu mang lại hiệu quả kinh tế cao, thúc đẩy ngành công nghiệp
phát triển.
Để nghiên cứu về đổi mới công nghiệp, cần nghiên cứu m
ột cách toàn
diện về hoạt động đổi mới của ngành công nghiệp nói chung, của các ngành
công nghiệp riêng biệt (khai khoáng; chế biến, chế tạo…) và của các tập đoàn,
doanh nghiệp công nghiệp.
Trên thực tế, đổi mới công nghiệp thường được nhận dạng sau khi các
quy trình, công nghệ mới được áp dụng, các sản phẩm mới được đưa vào thực
tế đời sống và bản thân nó đã phát huy hiệu quả trong tă
ng trưởng sản lượng
công nghiệp, gắn với việc sản xuất ra sản phẩm mới với chất lượng tốt, giá
thành hạ.
Tuy nhiên, đổi mới công nghiệp không chỉ được hiểu đơn giản là việc
áp dụng quy trình, công nghệ mới và tạo ra sản phẩm mới mà nó còn mang
nghĩa rộng hơn (bao gồm nhiều hoạt động khác của ngành và của doanh
nghiệp công nghiệp như: Tổ chức và v
ận hành bộ máy, cách sắp xếp, phân
công lao động trong các khâu, các công đoạn của ngành/doanh nghiệp…).
Hiện nay, vẫn còn nhiều tranh luận trong việc xác định sản phẩm, quy
trình, công nghệ thế nào được gọi là “mới”.
Nhiều ý kiến cho rằng, đổi mới công nghiệp phải là quá trình tạo ra và
đưa vào ứng dụng một sản phẩm, quy trình, công nghệ hoàn toàn mới đối với
Hơn thế, ở cấp độ doanh nghiệp, các hoạt động đổi mới trong nội bộ
doanh nghiệp công nghiệp (bí mật thương mại hoặc quá trình cải tiến sả
n
phẩm…) đều không được tiết lộ ra bên ngoài. Những sự đổi mới này sẽ được
đo lường gián tiếp thông qua việc doanh nghiệp được cơ quan có thẩm quyền
9
công nhận hoặc cấp giấy chứng nhận (sản phẩm mới, bằng phát minh, sáng
chế mới, giấy chứng nhận nhãn hiệu hàng hóa mới…) và được khách hàng
thừa nhận rằng họ được doanh nghiệp cung cấp các sản phẩm có chất lượng
tốt hơn, hợp sở thích hơn, với giá rẻ hơn.
+ Khái niệm về chỉ số đổi mới công nghiệp
Như ta đã biết, ở
một số nước trên thế giới, các ngành được đưa vào
tính toán chỉ số đổi mới công nghiệp gồm: Ngành mỏ, khai khoáng, sản xuất,
xây dựng, thương mại bán buôn, thương mại bán lẻ, dịch vụ gia tăng, vận tải
và kho bãi, truyền thông, tài chính, bảo hiểm…
Tuy nhiên, ở Việt Nam, chúng ta chỉ tập trung nghiên cứu và tính toán
thử đối với các ngành công nghiệp được quy định tại Quyết định số
10/2007/QĐ-TTg ngày 23 tháng 01 năm 2007 c
ủa Thủ tướng Chính phủ về
việc Ban hành Hệ thống Ngành kinh tế của Việt Nam.
Trong bối cảnh như vậy, nhóm thực hiện đề tài đã nghiên cứu và đưa ra
khái niệm về chỉ số đổi mới công nghiệp như sau:
Chỉ số đổi mới công nghiệp là chỉ số tổng hợp được xây dựng với mục
tiêu lượng hóa toàn bộ các hoạt động đổi mới trong ngành công nghi
ệp của
một quốc gia/doanh nghiệp công nghiệp trong phạm vi thời gian nhất định.
Chỉ số đổi mới công nghiệp thường được tính theo năm.
Các yếu tố được đưa vào tính toán chỉ số đổi mới công nghiệp bao
cách tốt hơn.
Hoạt độ
ng R&D của ngành công nghiệp bao gồm cả hoạt động nghiên
cứu, phục vụ mục tiêu phát triển ngành nói chung và mục tiêu phát triển các
ngành công nghiệp riêng biệt cũng như phát triển các doanh nghiệp trong
ngành.
Hoạt động R&D của ngành công nghiệp thường được thực hiện tại các
cơ quan, tổ chức chuyên thực hiện hoạt động nghiên cứu như: Các viện
11
nghiên cứu chuyên ngành, các trường đại học, các hoạt động đầu tư nghiên
cứu độc lập liên quan đến ngành
+ Đối với các doanh nghiệp công nghiệp, hoạt động R&D của doanh
nghiệp thường được thực hiện thông qua bộ phận R&D (phòng hoặc ban
nghiên cứu), với một số giới hạn các mục tiêu nghiên cứu và nhân lực thực
hiện.
Trong phạm vi doanh nghiệp, các hoạt động R&D thường hướng tới
mục tiêu phát triể
n sản phẩm mới, dịch vụ mới, cải tiến quy trình sản xuất,
nghiên cứu áp dụng các tiến bộ mới vào sản xuất nhằm nâng cao năng suất
lao động và chất lượng sản phẩm.
- Bằng sáng chế
Theo Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam sửa đổi, bổ sung năm 2009 (ngày
19 tháng 6 năm 2009), có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2010, sáng chế là
giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết một
vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên.
Thuộc tính cơ bản của sáng chế/giải pháp hữu ích là đặc tính kỹ thuật
bởi vì sáng chế/giải pháp hữu ích là giải pháp kỹ thuật, tức là dùng biện pháp
mang tính kỹ thuậ
t giải quyết vấn đề mục tiêu.
cần có những tiêu chuẩn sau:
(1) Có tính mới so với trình độ kỹ thuật trên thế giới;
(2) Có trình độ sáng tạo;
(3) Có khả năng áp dụng trong sản xuất công nghiệp.
- Nhãn hiệu hàng hóa
13
Theo Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam sửa đổi, bổ sung năm 2009 (ngày
19 tháng 6 năm 2009), có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2010 thì “nhãn hiệu
hàng hóa là những dấu hiệu của một doanh nghiệp (hoặc tập thể các doanh
nghiệp) dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của mình với hàng hóa, dịch vụ
cùng loại của các doanh nghiệp khác”.
Dấu hiệu dùng làm nhãn hiệu có thể là từ ngữ, hình ảnh hoặc từ ngữ kết
hợp với hình ảnh được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc.
Nhãn hiệu hàng hóa bao gồm:
- Chữ có kh
ả năng phát âm, có nghĩa hoặc không có nghĩa, trình bày
dưới dạng chữ viết, chữ in hoặc chữ được viết cách điệu.
- Hình vẽ, ảnh chụp…
- Chữ hoặc tập hợp các chữ kết hợp với hình vẽ, ảnh chụp.
Với chức năng của công cụ marketing nhằm truyền đạt tới người tiêu
dùng uy tín của sản phẩm, dịch vụ mang nhãn hiệu
được hình thành bởi trí tuệ
mà doanh nghiệp đầu tư cho sản phẩm, dịch vụ nên nhãn hiệu được pháp luật
coi là tài sản trí tuệ của doanh nghiệp.
Nhãn hiệu hàng hóa đóng vai trò rất quan trọng đối với các doanh
nghiệp, đặc biệt là trong nền kinh tế thị trường như hiện nay. Nhãn hiệu hàng
hóa giúp người dùng nhận ra sản phẩm cần lựa chọn một cách nhanh chóng
nhất. Vì thế việc đặt tên cho sản phẩm là yế
u tố rất quan trọng.