1
TỔNG CỤC THỐNG KÊ
VỤ HỢP TÁC QUỐC TẾ - VIỆN KHOA HỌC THỐNG KÊ Đề tài khoa học
Nghiên cứu lựa chọn và tính toán thử nghiệm một số chỉ số phản ánh mức độ
hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam
CHUYÊN ĐỀ 6
HỆ THỐNG CHỈ TIÊU THỐNG KÊ PHẢN ÁNH
LĨNH VỰC HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ CỦA
VIỆT NAM
HỆ THỐNG CHỈ TIÊU THỐNG KÊ PHẢN ÁNH
LĨNH VỰC HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ CỦA
VIỆT NAM
Từng bước hội nhập vào đời sống quốc tế nói chung,
đặc biệt là hội nhập kinh tế quốc tế nói riêng, song vẫn
đảm bảo độc lập và quyền tự chủ, tự quyết thiêng liêng
của dân tộc là một đường lối nhất quán và đúng đắn
trong bối cảnh toàn cầu hoá không thể đảo ngược được
hiện nay để tiến tới xây dựng nước ta là một quốc gia
công nghiệp hoá và hiện đại hoá, xã hội công bằng, dân
chủ, văn minh.
Chuyên đề khoa học này nhằm đưa ra một hệ thống chỉ
tiêu thống kê phản ánh lĩnh vực hội nhập kinh tế quốc tế
của Việt Nam. Hệ thống này gồm các chỉ tiêu đã có sẵn
trong hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia và thống kê
các bộ ngành, đồng thời cũng bao gồm một số chỉ tiêu
khác mà lâu nay chúng ta chưa quan tâm thu thập,
nhằm phục vụ cho đề tài nghiên cứu lựa chọn và tính
toán thử nghiệm một số chỉ số phản ánh mức độ hội
nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam.
HNQT
Hội nhập quốc tế
ODA
Hỗ trợ phát triển chính thức
OECD
Tổ chức hợp tác các nước phát triển
TCTK
Tổng cục Thống kê
UNDP
Chương trình phát triển Liên hợp quốc
WB
Ngân hàng thế giới
WTO
Tổ chức thương mại thế giới
4
MỤC LỤC
Mục
Trang Danh mục các từ viết tắt
3 Mở đề
5
2.2. Các chỉ tiêu hội nhập kinh tế thương mại tổng hợp
11 2.3. Các chỉ tiêu hội nhập kinh tế quốc tế trong một số lĩnh vực
19 2.3.1. Lĩnh vực du lịch
19 2.3.2. Lĩnh vực tự do đi lại và tự do đầu tư
20 2.3.3. Một số chỉ tiêu tổng hợp khác
21 Tài liệu tham khảo
22
5
MỞ ĐỀ
độ hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam.
6
I. TỔNG QUAN VỀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ: CÁC
QUAN ĐIỂM HIỆN NAY
1.1. Trên thế giới
Theo Từ điển tường giải kinh tế xã hội “Cẩm nang chính sách kinh
tế”, [Nhà xuất bản Từ điển bách khoa, trang 251, Hà Nội 2005, do Rolf
H. Hass thuộc Viện Quốc tế Konrad-Adenauer biên soạn, Tiến sỹ khoa
học Lương Văn Kế biên dịch], thì:
(i) Hội nhập kinh tế được định nghĩa là sự mở cửa các nền kinh tế
quốc dân cho hợp tác xuyên biên giới với các nước khác, mà chủ yếu là
các nước láng giềng. sự thoả thuận của các Nhà nước thể hiện ở chỗ, đẩy
mạnh thương mại giữa các quốc gia (xây dựng thương mại) và điều chỉnh
việc trao đổi hàng hoá và dịch vụ với các quốc gia thứ ba (những quốc gia
không tham gia hội nhập) để dành ưu tiên cho trao đổi giữa các quốc gia
cùng tham gia hội nhập (điều chỉnh thương mại);
(ii) Hội nhập của các nền kinh tế quốc dân cũng thể hiện rõ ở chỗ
mạng lưới quan hệ qua lại trong lưu thông vốn ngắn hạn và dài hạn trở
nên được sàng lọc ngặt nghèo;
(iii) Chừng nào các điều kiện thể chế và pháp luật còn tồn tại, thì
sự hội nhập còn được thể hiện bằng những khả năng chuyển động lâu dài
của các lực lượng lao động và bằng sự trao đổi tri thức được bảo vệ trong
(ii) Làn sóng thứ hai (1945 - 1980) với đặc trưng là sự phát triển
vận tải hàng không, cước vận tải biển hạ thấp và mạng điện thoại quốc tế
mở rộng, dòng vốn di chuyển nhanh hơn và rộng hơn đã tạo ra nhóm
công ty chuyên chế tạo cùng chủng loại sản phẩm và kết nối với nhau
theo chiều dọc trên thế giới;
(iii) Làn sóng thứ ba (từ 1980 đến nay) được đặc trưng bởi sự phát
triển vũ bão của công nghệ thông tin và liên lạc viễn thông. Dựa trên nền
tảng quan trọng này, các nền kinh tế đã kết nối tạo thành một thế giới liên
thông khổng lồ, theo đó, lợi ích cũng như rủi ro luôn song hành.
(Nguồn: Tạp chí Cộng Sản, số 800, tháng 6-2009, trang 105: "Vai trò
quản trị toàn cầu trước những thách thức hiện nay").
1.2. Ở Việt Nam
Từng bước hội nhập vào đời sống quốc tế nói chung, đặc biệt là hội
nhập kinh tế quốc tế nói riêng, song vẫn đảm bảo độc lập và quyền tự
chủ, tự quyết thiêng liêng của dân tộc là một đường lối nhất quán và đúng
đắn trong bối cảnh toàn cầu hoá không thể đảo ngược được hiện nay để
tiến tới xây dựng nước ta là một quốc gia công nghiệp hoá và hiện đại
hoá, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình chủ động gắn kết nền kinh tế
của một nước vào các tổ chức hợp tác kinh tế khu vực hoặc toàn cầu;
trong đó, các thành viên quan hệ với nhau theo những quy định chung
như: Liên minh châu Âu, AFTA, Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)
Trước kia, khái niệm hội nhập kinh tế quốc tế được hiểu đơn thuần là
những hoạt động giảm thuế, mở cửa thị trường. Hội nhập kinh tế quốc tế
ngày nay được hiểu là việc một quốc gia thực hiện chính sách kinh tế mở,
Đẩy mạnh xuất khẩu, chủ động về nhập khẩu, kiềm chế và thu hẹp
dần nhập siêu. Tăng nhanh tỉ trọng xuất khẩu các sản phẩm chế biến có
giá trị gia tăng cao, giàu hàm lượng công nghệ, có sức cạnh tranh, tạo
thêm các sản phẩm xuất khẩu chủ lực mới, hết sức hạn chế và tiến tới
chấm dứt xuất khẩu tài nguyên thiên nhiên và nông sản chưa qua chế
biến. Củng cố và mở rộng thị trường xuất khẩu, tạo thị trường ổn định
cho các mặt hàng có khả năng cạnh tranh; tăng thêm thị phần ở các thị
trường lớn và khai mở các thị trường còn nhiều tiềm năng. Phấn đấu đưa
tổng kim ngạch xuất khẩu 5 năm tới lên hơn hai lần 5 năm trước.
Phát huy tính năng động của doanh nghiệp thuộc mọi thành phần
kinh tế trong HNKTQT. Từng doanh nghiệp phải khẩn trương đổi mới từ
tư duy đến phong cách quản lý, đổi mới thiết bị, công nghệ, nâng cao
hiệu quả sử dụng vốn đầu tư, giảm chi phí để tăng sức cạnh tranh. Xúc
tiến mạnh thương mại và đầu tư, phát triển thị trường mới, sản phẩm mới
và thương hiệu mới.
9
II. CÁC CHỈ TIÊU, CHỈ SỐ PHẢN ÁNH HỘI NHẬP KINH TẾ
QUỐC TẾ
Trong chuyên đề này chúng ta phân biệt các chỉ số, chỉ tiêu, sau
đây gọi chung là chỉ tiêu, có tính cá biệt và có tính tổng hợp. Các chỉ tiêu
cá biệt phản ánh một khía cạnh cụ thể nào đó trong một lĩnh vực nhất
định. Còn các chỉ số tổng hợp phản ánh chung sự HNKTQT của nước ta
trong một lĩnh vực cụ thể.
2.1 Khái niệm về chỉ tiêu và hệ thống chỉ tiêu thống kê
10
Theo đặc điểm về thời gian của chỉ tiêu nghiên cứu, có chỉ tiêu thời
điểm và chỉ tiêu thời kỳ. Chỉ tiêu thời điểm: có quy mô của chỉ tiêu không
phụ thuộc vào độ dài thời gian nghiên cứu. Chỉ tiêu thời kỳ: có quy mô
của chỉ tiêu phụ thuộc vào độ dài thời gian nghiên cứu.
2.1.2 Hệ thống chỉ tiêu thống kê:
Hệ thống chỉ tiêu thống kê là tập hợp nhiều chỉ tiêu thống kê có
quan hệ mật thiết với nhau, phản ánh nhiều mặt của hiện tượng hay quá
trình kinh tế xã hội trong điều kiện thời gian và địa điểm cụ thể.
Hệ thống chỉ tiêu thống kê là một công cụ quan trọng trong hệ
thống quản lý. Đối với hoạt động thống kê, hệ thống chỉ tiêu là kết quả, là
“sản phẩm” đầu ra chi phối cả quá trình hoạt động nghiệp vụ và cách thức
tổ chức thống kê.
Nhờ có hệ thống chỉ tiêu thống kê ta có thể quan sát chuyển động
của hiện tượng nghiên cứu nói riêng và toàn bộ tổng thể tình hình kinh tế
- xã hội nói chung trên các phương diện quy mô, tốc độ, cơ cấu, quan hệ
cân đối, mặt bằng của nền kinh tế cũng như mọi vấn đề của xã hội; từ đó
rút ra những kết luận xác đáng về chiều hướng phát triển, về quy luật
trong sự phát triển Nếu so sánh với các nước, ta có thể đánh giá được vị
trí cũng như trình độ phát triển của quốc gia trên trường quốc tế. Hệ
thống chỉ tiêu thống kê thay đổi tuỳ thuộc vào nhu cầu thông tin và điều
kiện kinh tế xã hội của mỗi thời kỳ.
Trong thống kê kinh tế xã hội có nhiều hệ thống chỉ tiêu: hệ thống
phán ký kết với Nhật Bản Hiệp định Đối tác kinh tế, đã làm cho thị trường xuất
nhập khẩu của Việt Nam khởi sắc rất nhiều. (Hiện nay chúng ta đã ký BTAs với
trên 80 đối tác).
(2) Số Hiệp định Thương mại tự do (FTA) mà nước ta tham gia:
Chỉ tiêu này còn được gọi là số Hiệp định mậu dịch tự do. Hiệp định thương
mại tự do, đối với nhiều quốc gia, còn là một công cụ chính trị. Hoa Kỳ là quốc
gia điển hình trong việc sử dụng công cụ thương mại này. Gia nhập WTO để có
khung pháp luật, có tư cách bình đẳng, còn việc buôn bán vẫn phải tiến hành
qua quan hệ song phương. Vì vậy các nước đều mong muốn ký được nhiều
Hiệp định thương mại tự do với các nước thành viên WTO và các nước phát
triển. Khi đã vào WTO rồi, các nước vẫn rất coi trọng việc phát triển các quan
hệ kinh tế và thương mại song phương với các đối tác chọn lọc, có trình độ
phát triển cao hơn, cơ cấu kinh tế tốt hơn và có khả năng bổ sung kinh tế lẫn
nhau nhiều hơn. Chỉ tiêu này thể hiện sự hội nhập và liên kết kinh tế của nước
ta trong khu vực và toàn cầu. Con số này càng lớn, chứng tỏ chúng ta đã hội
nhập càng sâu vào xu thế toàn cầu hoá kinh tế, càng có nhiều cơ hội làm ăn,
song cũng càng nhiều thách thưc phải đối mặt.
Hiệp định mậu dịch tự do song phương rộng cửa hơn Hiệp định thương
mại song phương bởi nghĩa “tự do” và “chưa tự do”. Mức thấp nhất là Hiệp
định mậu dịch tự do song phương FTA ký kết giữa 2 quốc gia hay 1 nhóm quốc
gia, ví dụ Hiệp định mậu dịch tự do ASEAN - AFTA, mức cao hơn là Hiệp định
mậu dịch tự do khu vực RTA là do các nhóm nước ký kết với nhau, ví dụ
ASEAN đang chuẩn bị ký với Đông Bắc Á, , cao hơn nữa, tức cao nhất, là
WTO. Tuỳ theo thoả thuận giữa các đối tác tham gia hiệp định mà phạm vi và
độ sâu của các hiệp định có thể khác nhau, nhưng nội dung cơ bản của các
hiệp định này là các cam kết mở cửa thị trường về thương mại hàng hoá, dịch
vụ, đầu tư và những nguyên tắc, luật lệ phải được tuân thủ để đảm bảo mở cửa
thị trường một cách thực chất và công bằng. Sau khi ký kết, cả FTA và RTA
diện Thương mại Cộng hoà Liên bang Nga tại Hà Nội, hay đầu mối cho một
tập đoàn, Công ty, hay một thể chế kinh tế nào đó trong việc trao đổi, tìm hiểu
các thông tin liên quan tới thị trường Việt Nam, chuẩn bị thông tin cho các
đoàn từ nước ngoài sang ký kết làm ăn với Nhà nước, tổ chức hay doanh
nghiệp, cá nhân ở nước ta. Chính qua những đầu mối này mà chúng ta có thể
mở rộng thị trường buôn bán của mình. càng nhiều Văn phòng đại diện kinh tế
– thương mại nước ngoài ở nước ta, thì chứng tỏ phạm vi quan hệ của nước ta
với thế giới bên ngoài càng rộng mở. Nhiều khi các Văn phòng như vậy không
chỉ làm về các vấn đề kinh tế – thương mại, mà họ còn được uỷ thác làm đầu
mối giao lưu về thông tin trong các lĩnh vực khác như văn hoá, thể thao, khoa
học kỹ thuật, (Riêng Quý I năm 2007, Sở Thương mại Hà Nội đã cấp mới 22
giấy phép thành lập Văn phòng đại diện nước ngoài, gia hạn 2 giấy phép,
chấm dứt hoạt động 19 Văn phòng đại diện nước ngoài).
(5) Số cơ quan đại diện thương mại của Việt nam ở nước ngoài:
Chỉ tiêu này đo lường chính sách ngoại giao phục vụ kinh tế của Đảng ta.
Mạng lưới các cơ quan đại diện thương mại của nước ta trên thế giới chính là
các cơ quan tham mưu chủ yếu cho Đảng và Nhà nước trong việc đi đầu phân
tích, đánh giá thế mạnh của từng đối tác để Nhà nước có các chính sách hợp
tác phù hợp nhằm khai thác tối đa thế mạnh của họ phục vụ nhu cầu an ninh và
phát triển của Việt Nam, phát huy lợi thế so sánh của Việt Nam trong hợp tác
quốc tế, qua đó tạo sự gắn bó, đan xen lợi ích với các đối tác.
13
(6) Số đối tác tài trợ ODA cho Việt Nam: Chỉ tiêu này bao gồm cả
các nhà tài trợ song phương và đa phương. Số nhà tài trợ càng nhiều, chứng tỏ
uy tín của nước ta càng cao trên trường quốc tế. (Hiện nay Việt Nam đã xây
dựng được quan hệ đối tác với trên 50 nhà tài trợ song phương và đa phương.
Sở dĩ nhiều như vậy vì Việt Nam là nước đầu tiên trên thế giới thực hiện “nội
ASEAN+1, ASEAN+3, APEC, ASEM, hợp tác Đông Á
(9) Số dự án nhận ODA: Trong khi lượng ODA phản ánh quy mô trợ
giúp, còn chỉ tiêu này lại phản ánh tính phong phú và đa dạng của sự trợ giúp
đó, đồng thời cũng là phản ánh phạm vi rộng hẹp của vấn đề hội nhập kinh tế
quốc tế của nước ta. Khái niệm "dự án" ở đây còn bao hàm cả khái niệm
"chương trình". Do đó chỉ tiêu này bao gồm tất cả các dự án và chương trình
có nguồn vốn ODA, dù toàn bộ hay một phần. 14
(10) Lượng kiều hối chuyển về: Đây là chỉ tiêu chất lượng đo lường
kết quả của những nỗ lực trong chính sách khuyến khích kiều bào về nước
đóng góp xây dựng quê hương. Lượng kiều hối này có ý nghĩa không nhỏ trong
việc đầu tư phát triển, xoá đói giảm nghèo và nhiều mục tiêu phong phú khác.
Dĩ nhiên lượng kiều hối chuyển về càng nhiều, ý nghĩa của nó càng thiết thực
và lớn lao (năm 2005 số kiều hối chuyển về là 2500 triệu).
(11) Số Tổ chức Phi chính phủ (NGO) quốc tế hoạt động tại Việt
Nam: NGO là những tổ chức không núp dưới tư cách chính phủ hay Nhà nước
cũng là một nguồn vốn quan trọng bên cạnh ODA nhằm phục vụ quá trình phát
triển đất nước. Số lượng NGO tăng, có nghĩa là uy tín quốc gia cao, nhiều Tổ
chức Phi chính phủ muốn đến hoạt động tại nước ta. Có những NGO hoạt động
nhằm thu lợi nhuận, song cũng có nhiều NGO đến hoạt động không vì lợi
nhuận mà chủ yếu mang mục đích trợ giúp nhân đạo hoặc làm từ thiện. Số
lượng NGO nhiều còn thể hiện nỗ lực của Nhà nước trong chính sách ngoại
giao nhân dân (Theo Uỷ ban công tác về các tổ chức phi chính phủ: Đến năm
2005, số NGO nắm được đang hoạt động tại VN là 250, năm 1996, số NGO
đăng ký xin cấp giấy phép là 400, và năm 2006 lên khoảng 650).
và thượng tôn pháp luật, coi nhẹ yếu tố pháp lý trong kinh doanh, không hiểu
biết thấu đáo pháp luật của nước ngoài, pháp luật và thông lệ quốc tế; không
có sự chuẩn bị cần thiết hoặc thiếu kinh nghiệm trong thương thảo hợp đồng;
chưa có thói quen sử dụng dịch vụ pháp lý, bỏ qua ý kiến tư vấn của luật sư;
khi bị kiện, nhiều doanh nghiệp bỏ mặc mà không tham dự phiên toà xét xử ở
nước ngoài; .v.v. Chỉ tiêu này cũng thể hiện khả năng cạnh tranh của các
doanh nghiệp, của các sản phẩm xuất khẩu của nước ta trên thương trường
quốc tế. Thiệt hại càng cao, chứng tỏ khả năng cạnh tranh càng yếu kém.
(15) Số dòng thuế trong Danh mục loại trừ tạm thời: Danh mục loại
trừ tạm thời (TEL – Temporary Exclusive List) là danh mục chỉ áp dụng hiện
nay trong quan hệ với ASEAN khi chúng ta phải thực hiện lộ trình tiến tới thực
hiện đầy đủ theo Thoả thuận của Khu vực mậu dịch tự do Đông Nam Á
CEPT/AFTA (Hiệp định Thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung –– Common
Effective Preferential Tariff). Theo thoả thuận này, trên lộ trình tiến tới thực
hiện đầy đủ, một số quốc gia trình độ phát triển thấp hơn như Việt Nam, Lào,
Cam-pu-chia, Mi-an-ma có quyền được bảo lưu một số mặt hàng chưa phải
thực hiện ngay chế độ thuế quan chung (tức là được loại trừ), nhưng sau một
vài năm thì số lượng những mặt hàng đó phải giảm dần, và tiến tới không còn
mặt hàng nào được để lại trong TEL. Như vậy, số lượng những dòng thuế này
phải giảm dần hàng năm tiến tới bằng 0. Khi đó chỉ tiêu này sẽ mất dần ý
nghĩa. Điều đó có nghĩa là nếu chỉ tiêu này càng thấp, tốc độ và mức độ hội
nhập của chúng ta càng cao.
(16) Số dòng thuế trong Danh mục nhậy cảm: Danh mục nhậy cảm
(SL – Sensitive List) là danh mục chỉ áp dụng hiện nay trong quan hệ với
ASEAN khi chúng ta phải thực hiện lộ trình tiến tới thực hiện đầy đủ theo Thoả
thuận CEPT/AFTA. Theo thoả thuận này, trên lộ trình tiến tới thực hiện đầy
đủ, một số quốc gia trình độ phát triển thấp hơn như Việt Nam, Lào, Cam-pu-
chia, Mi-an-ma có quyền được bảo lưu một số mặt hàng chưa phải thực hiện
giám Thống kê và ấn phẩm hàng năm "Xuất nhập khẩu hàng hoá Việt Nam"
của TCTK do Vụ Thống kê Thương mại, Dịch vụ và Giá cả chủ biên)
(21) Thời lượng bình quân cần có để giải phóng công-te-nơ ra khỏi
khu vực Hải quan: Chỉ tiêu này liên quan tới lĩnh vực hải quan, việc giải
phóng phương tiện vận tải ra khỏi khu vực Hải quan càng nhanh, thì càng tạo
điều kiện thuận lợi cho việc thông thương hàng hoá, càng thu hút đối tác nước
ngoài. Đây là vấn đề liên quan tới thủ tục hành chính cũng như các thiết bị kỹ
thuật được sử dụng trong quá cảnh hàng hoá. Nhà nước đang thực hiện cải
cách hành chính để rút ngắn thời lượng này.
(22) Thời lượng bình quân cần có để hoàn tất thông quan hàng hoá:
Chỉ tiêu này có ý nghĩa giống như chỉ tiêu thời lượng giải phóng công-te-nơ ra
khỏi khu vực hải quan, liên quan tới lĩnh vực hải quan, việc thông quan càng
nhanh, thì càng tạo điều kiện thuận lợi cho việc thông thương hàng hoá, càng
thu hút đối tác nước ngoài. Đây là vấn đề liên quan tới thủ tục hành chính cũng
như các thiết bị kỹ thuật được sử dụng trong quá cảnh hàng hoá. Nhà nước
đang thực hiện cải cách hành chính để rút ngắn thời lượng này.
(23) Nợ nước ngoài: Chỉ tiêu này thể hiện sự phụ thuộc của nền kinh tế
quốc dân vào nước ngoài. Nếu nợ nhiều, một mặt thể hiện uy tín của đất nước
trên trường quốc tế (uy tín cao mới có thể vay nhiều), song nếu nợ nhiều, khả
năng chi trả kém, ảnh hưởng tới tính chất ổn định và bền vững của nền kinh tế,
đặc biệt khi có những biến động chính trị - xã hội trên thế giới.
(24) Tỷ lệ nợ nước ngoài so với GDP: Tổng nợ nước ngoài chưa thể
hiện hết chiều sâu của sự phụ thuộc, mà tỷ lệ so với GDP mới thể hiện chiều
sâu sự phụ thuộc của nền kinh tế quốc dân vào nước ngoài. Nếu tỷ lệ này tăng
lên, một mặt thể hiện uy tín của đất nước trên trường quốc tế (uy tín cao mới có
hiện khả năng mở cửa và tính hấp dẫn của môi trường đầu tư nước ta. Các
công ty này thường có tiềm năng lớn về mặt kinh tế, về năng lực sản xuất kinh
doanh, kinh nghiệm dồi dào, kỹ thuật và công nghệ tiên tiến. Nhiều các công ty
loại này làm ăn ở nước ta sẽ là điều kiện thuận lợi để chúng ta phát triển đất
nước theo hướng bền vững. Chỉ tiêu này được công bố đều đặn hàng năm trong
Niên giám Thống kê của TCTK.
(28) Số dự án FDI của Việt Nam ra nước ngoài: Tiềm lực kinh tế
nước ta đã mạnh lên nhiều sau những năm mở cửa, chủ động hội nhập quốc tế
và có những quyết sách thích hợp với xu thế toàn cầu hoá, nhiều doanh nghiệp
Việt Nam đã tính đến chuyện đầu tư ra nước ngoài nhằm tìm liếm cơ hội làm
ăn. Chỉ tiêu này kết quả của đường lối chính sách hội nhập kinh tế quốc tế, tiến
sâu và mở rộng lối ra ngoài thị trường thế giới, thực hiện các dự án đầu tư và
sản xuất kinh doanh ở nước ngoài, cuối cùng vẫn là tìm nguồn thu đem về
nhằm phát triển đất nước, tăng trưởng kinh tế, tiến tới xây dựng một nước Việt
18
nam công nghiệp hoá và hiện đại hoá. Chỉ tiêu này được công bố đều đặn hàng
năm trong Niên giám Thống kê của TCTK.
(29) Vốn FDI của Việt Nam ra nước ngoài: Giống như chỉ tiêu số
lượng dự án của Việt Nam đầu tư ra nước ngoài, chỉ tiêu này mới thực chất thể
hiện quy mô và chiều sâu của nguồn vốn đó, kết quả của đường lối chính sách
quan hệ hợp tác với nước ngoài trong lĩnh vực kinh tế, đẩy mạnh đầu tư ra
nước ngoài, tìm kiếm các thị trường thuận lợi phù hợp với trình độ và năng lực
của Việt nam. Chỉ tiêu này được công bố đều đặn hàng năm trong Niên giám
Thống kê của TCTK.
(30) Đầu tư cổ phiếu của nước ngoài vào lĩnh vực ngân hàng VN:
Khi nền kinh tế mở cửa theo thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự
Hành lang Đông - Tây của Việt Nam theo giá thực tế: Đây cũng là chỉ tiêu
kết quả của hội nhập kinh tế trong khuôn khổ Hiệp hội các quốc gia Đông Nam
19
Á ASEAN. Khi chỉ tiêu này tăng lên, chứng tỏ dự án Hành lang Đông -Tây đã
có tác động tốt tới sự phát triển của nền kinh tế quốc dân ở mỗi quốc gia.
(35) Số điều kiện hạn chế về công suất, tần suất và chủng loại
phương tiện thực hiện vận tải tới Việt Nam từ các quốc gia khác: Chỉ tiêu
này thể hiện mức độ mở cửa của ngành giao thông vận tải quốc tế, cũng là kết
quả của hoạt động hội nhập quốc tế về giao thông vận tải. Số điều kiện đặt ra
càng nhiều, thì khả năng các hãng vận tải quốc tế đến với nước ta càng thấp.
(36) Lượng vận chuyển hàng hoá từ nước ngoài tới Việt Nam: Đây
là chỉ tiêu biểu thị kết quả của hợp tác quốc tế trong lĩnh vực giao thông vận
tải, cụ thể số lượng vận chuyển càng nhiều, sự giao lưu quốc tế càng phong
phú, đa dạng và phát triển, tác động càng tích cực tới tất cả các ngành kinh tế
khác, nhất là ngành du lịch và thương mại, vì vận tải là phương tiện cầu nối để
chuyển hàng và người từ thế giới đến với nước ta, và ngược lại.
(37) Lượng vận chuyển hành khách từ nước ngoài tới Việt Nam:
(Giống như chỉ tiêu lượng vận tải hàng hoá).
2.3. Các chỉ tiêu hội nhập kinh tế trong một số lĩnh vực
2.3.1. Lĩnh vực du lịch
(38) Tổng số lượt khách quốc tế đến Việt Nam: (Chỉ tiêu này đã
được công bố trong Niên giám thống kê hàng năm của TCTK, thậm chí cả
trong các Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội hàng tháng của Tổng cục. Điều đó
vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế, khi mà du lịch đã trở thành ngành công
nghiệp không khói, và là một trong những ngành mũi nhọn của nền kinh tế.
Trong số này thì các quốc gia lân cận và các quốc gia cùng khu vực đóng vai
trò rất quan trọng.
(43) Số điều kiện để tiếp cận thị trường và được phép tự do thương
mại trong du lịch tại Việt Nam: Đây là một chỉ tiêu phản ánh mức độ mở cửa
của thị trường du lịch nước ta. Nếu số điều kiện đặt ra nhiều, thì các nhà đầu
tư nước ngoài sẽ khó khăn hơn trong việc tiếp cận thị trường du lịch Việt Nam.
Song nếu không có điều kiện gì, thì coi như thị trường mở hoàn toàn, và trong
quá trình hội nhập này, khó mà giữ gìn được bản sắc văn hoá dân tộc, cũng
như trong các vấn đề bảo vệ an ninh và chủ quyền quốc gia. Do vậy, việc đặt
ra một số điều kiện là điều cần thiết, nhưng với một số lượng phù hợp để vừa
đảm bảo mục đích an ninh quốc phòng, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, vừa
đảm bảo mục tiêu hội nhập với cộng đồng quốc tế trong lĩnh vực du lịch, thu
hút các nguồn vốn FDI.
2.3.2. Lĩnh vực tự do đi lại và tự do đầu tư
(44) Số lượng các Thoả thuận công nhận lẫn nhau (MRAs - Mutual
Recognition Arrangements) đã được ký kết về trình độ để tạo điều kiện
cho các tài năng di chuyển tự do: chỉ tiêu càng cao, thể hiện sự hội nhập
càng sâu rộng; điều này đòi hỏi nền giáo dục và đào tạo ở nước ta phải theo
kịp trình độ chung của các nước tiên tiến.
(45) Số lao động có tay nghề cao từ nước ngoài được tuyển dụng
vào làm việc: Đây là chỉ tiêu kết quả của việc tự do đi lại tìm kiếm công ăn
việc làm giữa các quốc gia. Theo các thoả thuận đã ký kết giữa nước ta với
WTO, ngày càng nhiều người nước ngoài đến nước ta làm việc, cũng như ngày
càng nhiều người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo các tiêu chuẩn xuất
hấp dẫn của môi trường đầu tư;
2.3.3. Một số chỉ số tổng hợp khác
(52) Tỷ lệ xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ so với GDP: chỉ tiêu chất
lượng theo chiều sâu này phản ánh độ mở của nền kinh tế nước ta, độ thoáng
trong chính sách cũng như độ hấp dẫn của môi trường xuất nhập khẩu;
(53) Tỷ lệ phần trăm thu nhập quốc gia so với GDP: chỉ tiêu chất
lượng theo chiều sâu này phản ánh độ mở của nền kinh tế nước ta, trong đó có
vấn đề chuyển nhượng quốc tế và thu nhập thuần sở hữu từ nước ngoài;
(54) Tỷ lệ phần trăm FDI so với GDP: chỉ tiêu chất lượng theo chiều
sâu này phản ánh độ mở của nền kinh tế nước ta, trong đó có vấn đề độ hấp
dẫn của môi trường đầu tư;
(55) Số người sử dụng internet tính trên 1.000 dân: chỉ tiêu này phản
ánh về sự lưu giao thông tin với thế giới bên ngoài, một lĩnh vực không thể bỏ
qua trong toàn cầu hoá và hpội nhập kinh tế quốc tế.
22 TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Tạp san “Thông tin khoa học Thống kê”, Viện nghiên cứu khoa
học thống kê, Tổng cục Thống kê, số 4 – 2006;
2. Tạp san “Thông tin khoa học Thống kê”, Viện nghiên cứu khoa