- 1 -
CHƯƠNG 1
: GIỚI THIỆU
1.1- ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1.1- Lý do hình thành dự án
Cùng với sự phát triển kinh tế của đất nước, thu nhập của người dân ngày càng
cao, đời sống vật chất ngày càng được cải thiện, nhu cầu thực phẩm không chỉ
để no mà còn phải ngon, đủ dinh dưỡng, hợp vệ sinh, đồng thời thực phẩm chế
biến sẵn cũng phải đáp ứng sự tiện lợi cho người tiêu dùng, phù hợp với lối sống
công nghiệp là điều chắc chắn phải tiến tới. Ngành công nghiệp chế biến thực
phẩm trong cả nước nói chung và thành phố Hồ Chí Minh nói riêng ngày càng
phát triển mạnh mẽ nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu thụ thực phẩm chế biến có chất
lượng ngày càng cao. Sự ra đời và phát triển liên tục của các công ty, xí nghiệp
chế biến thực phẩm như Vissan, Cầu Tre, Hạ Long, Hiến Thành, Tuyền Ký,
Thủy Đặc Sản, Agrex Sài Gòn, Super Chef, Le Gourmet … đã minh chứng điều
đó.
Qua khảo sát thò trường thực phẩm ở một số nước Châu Á như Thái Lan, Trung
Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, công ty Vissan nhận thấy một sản phẩm mang tên
“giả cua” (imitation crab stick) được sản xuất từ nguyên liệu Surimi (cá xay
nhuyễn, tách xương, da, tách các thành phần chất béo), sản phẩm này được tiêu
thụ rất lớn trên thò trường các nước trên. Đặc biệt là người Thái Lan và Trung
Quốc có cách ăn uống và khẩu vò giống người Việt Nam. Do đó, công ty Vissan
- 2 -
nhận đònh đây là mặt hàng có thể phát triển mạnh trong nước, nếu thành công
trong đầu tư, sản phẩm này sẽ củng cố thêm cho công ty một thế đứng dẫn đầu
trong ngành chế biến thực phẩm (Trước đây công ty cũng đã thành công với sản
phẩm xúc xích tiệt trùng và hiện nay công ty đang dẫn đầu thò trường về sản
phẩm này), tạo lợi thế cạnh tranh mới và không ngừng tăng hiệu quả sản xuất
kinh doanh của công ty. Đó là ý tưởng ban đầu của việc hình thành dự án xây
dựng một phân xưởng sản xuất loại sản phẩm “giả cua” tại Việt nam.
Sản phẩm “giả cua” là một loại thực phẩm chế biến sẵn có dinh dưỡng cao, hàm
của dự án có những vấn đề mới cần nghiên cứu như: nhu cầu thò trường, giá cả
sản phẩm, khả năng chấp nhận sản phẩm mới của người tiêu dùng. Do đó dự án
này được đề nghò để làm đề tài tốt nghiệp.
1.2- MỤC TIÊU ĐỀ TÀI
Mục tiêu của đề tài là:
Khảo sát mối quan tâm của người tiêu dùng đối với loại sản phẩm tránh nguy
cơ về bệnh béo phì và tim mạch cho con người, từ đó xác đònh chiến lược
trong việc phát triển sản phẩm mới của công ty Vissan.
Phân tích tính khả thi của dự án đầu tư xây dựng phân xưởng chế biến sản
phẩm giả cua nhằm trả lời các vấn đề cụ thể sau:
- 4 -
-
Nhu cầu tiềm năng của thò trường, giá bán sản phẩm, chất lượng yêu cầu
của sản phẩm, qui mô sản xuất của dự án.
-
Dự án có đáng giá về mặt tài chính và kinh tế không.
-
Các nguồn rủi ro của dự án và ảnh hưởng của nó đến kết quả.
-
Tác động của lạm phát đến kết quả của dự án.
1.3- PHẠM VI ĐỀ TÀI
Đề tài nghiên cứu được giới hạn ở phạm vi như sau:
Khảo sát nhận thức và đánh giá chất lượng sản phẩm của người tiêu dùng
thông qua việc phỏng vấn người dân từ độ tuổi 15 đến 60 sau khi ăn thử sản
phẩm giả cua.
Phân tích nhu cầu tiềm năng theo thời gian của thò trường Việt Nam đối với
Phân tích rủi ro được thực hiện qua phân tích độ nhạy, phân tích tình huống
và phân tích rủi ro bằng mô phỏng.
Phân tích kinh tế được thực hiện qua tính toán các hệ số chuyển đổi giá cho
các nhập lượng và xuất lượng của dự án để tính chi phí và lợi ích kinh tế
nhằm xác đònh giá trò kinh tế của dự án.
1.5- THU THẬP DỮ LIỆU
Dữ liệu sơ cấp được thu thập từ người tiêu dùng thành phố Hồ Chí Minh có
độ tuổi từ 15 đến 60 tuổi với cỡ mẫu là 500 phần tử.
- 6 -
Dữ liệu thứ cấp về sản lượng tiêu thụ sản phẩm giả cua tại Thái Lan từ công
ty Thai Luxury Foods.
Dữ liệu thứ cấp về giá nguyên liệu được thu thập từ công ty Vissan, PEJA
Việt Nam, công ty Prima Sea - Hàn Quốc, công ty Young Nam - Hàn Quốc
Dữ liệu thứ cấp về dân số từ Niên Giám Thống Kê 2002, Kết quả dự báo dân
số Việt Nam năm 1999 đến 2024, Thời Báo Kinh Tế Việt Nam.
Số liệu có liên quan đến việc đònh giá thiết bò, xác đònh công suất thiết bò,
đònh suất tiêu thụ năng lượng được thu thập từ công ty BEHN MEYER - Việt
Nam, công ty YANAGIYA - Nhật Bản.
- 7 -
CHƯƠNG 2:
TỔNG QUAN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN
Phần đầu của chương này trình bày các phương pháp tạo sản phẩm mới thường
áp dụng tại công ty Vissan. Phần hai là cơ sở lý thuyết gồm các nội dung: giới
với chiến lược phát triển của công ty, xem xét đến vòng đời sản phẩm hiện có
- 9 -
để xác đònh thời điểm thích hợp cho việc phát triển sản phẩm mới, phải xác đònh
mối quan hệ giữa sản phảm mới và sản phẩm hiện có nhằm tránh trường hợp các
sản phẩm có tính thay thế lẫn nhau.
Qui trình tạo sản phẩm mới tại công ty Vissan có thể tóm lược theo các bước như
sau:
Phát triển ý tưởng
Chọn lọc ý tưởng
Xây dựng và thử nghiệm
Phát triển chiến lược
tiếp thò
Phân tích kinh doanh
Phân tích đầu tư
Phát triển sản phẩm
Tiếp thò thử nghiệm
Thương mại hoá
- 10 -
Hình 2.1: Qui trình tạo sản phẩm mới tại công ty Vissan
Các bước thực hiện cụ thể trong qui trình được trình bày trang sau:
a- Phát triển ý tưởng
Đây là bước đầu tiên trong quá trình phát triển sản phẩm mới, ý tưởng có thể
xuất phát từ khách hàng, các nhà khoa học, từ sản phẩm của đối thủ cạnh tranh,
lực lượng bán hàng của công ty, từ phòng thí nghiệm, từ nhà cung ứng hoặc từ thò
trường ở các nước khác trên thế giới…
Lãnh đạo công ty xác đònh cẩn thận mục tiêu và chiến lược kinh doanh cho việc
phát triển sản phẩm mới trong mỗi thời đoạn là một năm. Đồng thời huấn luyện
cho các nhà điều hành những kỹ thuật để tìm ra những ý tưởng mới như:
Phân tích các vấn đề của khách hàng, phỏng vấn khách hàng và yêu cầu họ
Mục đích của việc xây dựng và thử nghiệm là tạo sản phẩm mẫu gần nhất với
các yêu cầu thò trường đòi hỏi nhằm giảm thiểu chi phí điều chỉnh sản phẩm khi
đưa ra thò trường thương mại.
Quá trình xây dựng và thử nghiệm bao gồm mô tả các chức năng, đặc tính của
sản phẩm, đối tượng sử dụng sản phẩm là ai, khi nào sử dụng sản phẩm này, sử
dụng cho mục đích gì, các thành phần nguyên liệu cấu thành nên sản phẩm, quy
trình công nghệ chế tạo sản phẩm.
- 12 -
Tiến hành tạo sản phẩm mẫu, sau đó lấy ý kiến chuyên gia nội bộ thông qua
việc
dùng thử sản phẩm mẫu. Bước tiếp theo là sửa đổi sản phẩm, lấy ý kiến tập
thể nhân viên của công ty, ý kiến chuyên gia lần hai và sửa đổi cuối cùng.
d- Phát triển chiến lược tiếp thò
Công ty tiến hành mô tả qui mô, cấu trúc và hành vi của thò trường trọng tâm, vò
trí dự đònh trên thò trường của sản phẩm mới. Dự đoán doanh thu, thò phần và
mục
tiêu lợi nhuận mong muốn trong vài năm đầu.
Dự đònh giá của sản phẩm theo nguyên tắc hớt váng (giá cao ngay từ ban đầu)
hoặc giá thâm nhập (giá thấp) tùy vào tính chất và đặc điểm sản phẩm. Chiến
lược về phân phối và ngân sách tiếp thò cho năm đầu tiên.
Ước tính doanh thu, lợi nhuận, chiến lược tổ hợp tiếp thò 4 P (Product, Price,
Place, Promotion) trong dài hạn.
e- Phân tích kinh doanh, phân tích đầu tư và phát triển sản phẩm
Đối với một sản phẩm là thực phẩm, công việc thiết kế, thay đổi hoặc điều chỉnh
các đặc tính của nó được thực hiện tương đối nhanh chóng và chi phí không cao.
Do đó, việc phân tích kinh doanh, phân tích đầu tư và phát triển sản phẩm chủ
yếu tuỳ thuộc vào vốn đầu tư để tạo sản phẩm mới. Việc phát triển sản phẩm có
thể chia thành hai loại như sau:
Đối với sản phẩm mới có thể được sản xuất từ dây chuyền thiết bò sẵn có:
biến phụ thuộc vào sự thay đổi của một hay nhiều biến độc lập, mô hình này
thường dùng để xác đònh mối quan hệ giữa các biến độc lập và phụ thuộc nhằm
hoạch đònh chính sách. Mô hình chuỗi thời gian thường được dùng để dự báo
ngắn hạn về giá hoặc nhu cầu của một biến theo thời gian. Ngoài ra còn có thể
sử dụng các phương pháp dự báo khác như dự báo theo tốc độ tăng trưởng của
các chỉ tiêu kinh tế vó mô, các phương pháp dự báo dựa vào sự so sánh giữa thò
trường cần nghiên cứu và các thò trường khác có những yếu tố tương đồng nhau.
Các phương pháp cụ thể như sau:
2.2.1- Phương pháp hồi qui đa biến
Phương pháp hồi qui đa biến được sử dụng phổ biến trong kinh tế lượng nhằm
xây dựng mối quan hệ tuyến tính giữa các yếu tố kinh tế. Phương pháp này xác
đònh giá trò của
biến cần nghiên cứu (biến phụ thuộc) dựa vào một hay nhiều
biến nguyên nhân (biến độc lập).
- 15 -
Mô hình toán :
Y = A
0
+ ΣA
i
X
i
+ ε
Trong đó Y : biến phụ thuộc
X : biến độc lập
A
0
: tung độ gốc
A
cho tương lai. Tuy nhiên, dự án vẫn phải tiến hành dự báo để đi đến quyết đònh
trong đầu tư, cho nên người ta thường dùng phương pháp dự báo dựa vào so
sánh.
Có hai phương pháp dự báo so sánh: phương pháp dự báo dựa vào sản
phẩm
tương đương và phương pháp dự báo dựa vào thò trường tương đương được
trình bày sau đây:
a- Phương pháp dự báo dựa vào sản phẩm tương đương
Phương pháp dự báo dựa vào sản phẩm tương đương sử dụng các dữ liệu về
doanh thu của các sản phẩm tương đương với sản phẩm mới. Phương pháp này
được thực hiện theo các bước sau đây:
Liệt kê những sản phẩm tương tự với sản phẩm mới, cùng doanh số bán hằng
năm của những sản phẩm đó. Các năm trong đời sống của sản phẩm được
chia thành hai giai đoạn: Giai đoạn triển khai sản phẩm và giai đoạn hậu
triển khai.
- 17 -
Tính toán tỷ lệ tăng doanh số hàng năm của mỗi sản phẩm. Tỷ lệ này chỉ
được sử dụng sau khi kết thúc giai đoạn triển khai sản phẩm, bởi trong giai
đoạn này tỷ lệ tăng doanh số khá cao.
Tính tỷ lệ tăng trung bình hàng năm của tất cả các sản phẩm tương đương và
tỷ lệ này được áp dụng để dự báo nhu cầu của sản phẩm mới.
Mặc dù phương pháp này được áp dụng để dự báo rất phổ biến cho sản phẩm
mới, nhưng đối với sản phẩm giả cua, không thấy có các loại sản phẩm tương
đương trên thò trường Việt Nam để có thể dự báo nhu cầu cho sản phẩm giả cua.
Hơn nữa, phương pháp dự báo dựa vào sản phẩm tương đương chỉ áp dụng dự
báo ngắn hạn. Do đó trong luận văn này không sử dụng phương pháp dự báo dựa
vào sản phẩm tương đương.
b- Phương pháp dự báo dựa vào thò trường tương đương
2.3.1- Phân tích theo quan điểm tổng đầu tư
Quan điểm tổng đầu tư còn được gọi là quan điểm ngân hàng. Theo quan điểm
này, dự án được xem như một hoạt động có khả năng tạo ra lợi ích tài chính và
thu hút những nguồn tài chính rõ ràng. Các nhà phân tích xem xét toàn bộ dòng
- 19 -
chi phí, lợi ích thu được trong đó có tính đến chi phí cơ hội của những thành phần
tài chính đóng góp vào dự án. Quan điểm tổng đầu tư dùng xem xét nhu cầu vay,
khả năng trả, bỏ vốn đầu tư.
Phân tích theo quan điểm tổng đầu tư được trình bày như sau:
[A] = Lợi ích tài chính trực tiếp – Chi phí tài chính trực tiếp – Chi phí cơ hội của
tài sản đã có.
Suất chiết khấu được sử dụng trong phân tích dự án theo quan điểm tổng đầu tư
là giá sử dụng vốn trung bình WACC của dự án. Trong đó WACC là trung bình
trọng số của giá sử dụng vốn của chủ đầu tư và lãi vay.
2.3.2- Phân tích theo quan điểm chủ đầu tư
Theo quan điểm chủ đầu tư hay quan điểm cổ đông trong phân tích dự án, các
nhà phân tích xem xét dòng tài chính chi cho dự án và các lợi ích thu được, đi
kèm với chi phí
cơ hội của vốn cổ đông góp vào dự án, coi vốn vay là khoản thu,
trả vốn vay và lãi là khoản chi.
[B] = [A] + Vốn vay – Trả lãi và nợ vay
Suất chiết khấu đươc sử dụng theo quan điểm này là giá sử dụng vốn của chủ
đầu
tư.
2.4- CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH
Phân tích tài chính là đánh giá triển vọng tài chính, khả năng thành công và hiệu
quả của dự án dưới góc độ của các tổ chức, cá nhân tham gia vào dự án. Trong
phân tích tính khả thi của dự án người ta thường sử dụng ba nhóm phương pháp
- 20 -
t
i
CtBt
NPV
t
0
)1(
Trong đó:
Bt : thu nhập ở năm thứ t
Ct : chi phí ở năm thứ t
i : suất chiết khấu yêu cầu
t : thứ tự năm hoạt động của dự án
N : số năm hoạt động của dự án
Đánh giá dự án theo NPV: dự án đáng giá khi NPV ≥ 0
So sánh nhiều dự án theo NPV: nếu có nhiều dự án loại trừ nhau thì dự án có
NPV dương và lớn nhất sẽ được chọn.
2.4.2- Nhóm phương pháp suất thu lợi
Trong nhóm phương pháp suất thu lợi có hai phương pháp thường được sử dụng
là
suất thu lợi nội tại IRR (Internal Rate of Return) và suất thu lợi ngoại lai ERR
(External Rate of Return). Trong luận văn này, phương pháp suất thu lợi nội tại
được sử dụng để đánh giá hiệu quả tài chính của dự án.
- 22 -
Phương pháp suất thu lợi nội tại:
Suất thu lợi nội tại là mức chiết khấu mà nếu được sử dụng làm hệ số chiết khấu
để quy đổi dòng tiền tệ của dự án thì giá trò hiện tại của dòng thu nhập sẽ cân
bằng với giá trò hiện tại của dòng chi phí.
Công thức tính IRR:
( )
MARR thì việc đầu tư vào dự án B không đáng giá. Do đó trong trường hợp có
nhiều dự án cần thẩm đònh, dự án có vốn đầu tư lớn hơn sẽ được coi là đáng giá
hơn nếu như suất thu lợi của gia số đầu tư là IRR (∆) ≥ MARR.
- 23 -
2.5- PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA LẠM PHÁT
Lạm phát được đo bằng tỷ lệ thay đổi giữa mặt bằng giá hiện tại và mặt bằng
giá
năm gốc. Lạm phát tác động trực tiếp lên các hạng mục của dòng tiền và tác
động gián tiếp thông qua thuế làm thay đổi kết quả dòng tiền của dự án. Theo lý
thuyết, lạm phát làm tăng NPV của dòng tiền thông qua các khoản phải trả,
khấu trừ lãi vay và làm giảm NPV của dòng tiền thông qua các khoản phải thu,
khấu hao, số dư tiền mặt, tồn kho. Giá trò năm gốc của dòng tiền không chòu tác
động của lạm phát.
Như vậy, trong luận văn có xem xét tác động của lạm phát đến kết quả phân tích
tài chính và nó cho thấy mức độ rủi ro khi ra quyết đònh trên cơ sở thay đổi lạm
phát trong tương lai.
2.6- PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH RỦI RO
Rủi ro là sự khác biệt giữa giá trò kỳ vọng hay kế hoạch so với giá trò thực tế.
Trong thực tiễn khả năng xuất hiện sự bất ổn có thể xảy ra hoặc không xảy ra,
dù cho doanh nghiệp có xây dựng kế hoạch và đánh giá sự phát triển trong tương
lai hay không.
Việc phân tích rủi ro nhằm cung cấp thông tin về các khả năng có thể xảy ra làm
ảnh hưởng đến hiệu quả dự án. Nguồn gốc của rủi ro là do sai số dự báo giá,
lượng của các yếu tố đầu vào, cũng như yếu tố đầu ra. Sự bất đònh này liên quan
- 24 -
đến nhiều yếu tố như tình hình kinh tế chính trò xã hội, sự thay đổi công nghệ,
thiết bò, loại hình đầu tư…Nói chung, tất cả các dự án đều có rủi ro nhất đònh.
Các công cụ thường được dùng để phân tích rủi ro là phân tích độ nhạy, phân
tích
tình huống và phân tích rủi ro bằng mô phỏng.
quan điểm gộp chung lợi ích và chi phí của tất cả các thành phần của quốc gia
như một tổng thể. Phân tích kinh tế dựa trên giá trò kinh tế, phân tích tài chính
dựa trên giá trò tài chính, tuy nhiên giá trò kinh tế thường không nhận thấy, nên
nó được xác đònh dựa trên giá trò tài chính. Giá trò kinh tế và tài chính khác nhau
là do thuế, trợ cấp, và các yếu tố ngoại lai gọi chung là yếu tố biến dạng của thò
trường. Khi thò trường có những biến dạng do các yếu tố ngoại lai như: các loại
thuế, trợ giá, giá trần, mức lương tối thiểu…thì giá của hàng hoá, giá ngoại tệ,
tiền lương, giá sử dụng vốn có thể bò bóp méo.