BỘ CÔNG THƯƠNG
VỤ THỊ TRƯỜNG TRONG NƯỚC ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP BỘ
Mã số: 239.10.RD
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG MỘT SỐ GIẢI PHÁP
NHẰM HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
ĐỐI VỚI CÁC CƠ SỞ BÁN BUÔN, BÁN LẺ
CHỦ YẾU Ở NƯỚC TA
Cơ quan chủ quản : Bộ Công Thương
Đơn vị chủ trì đề tài : Vụ Thị trường trong nước
Chủ nhiệm đề tài : Thạc sỹ Trần Nguyên Năm
Thành viên đề tài :
PGS. Tiến sỹ Hoàng Thọ Xuân
TS. Lâm Việt Dũng
ThS. Trần Nguyên Năm
CN. Nguyễn Lộc An
CN. Trần Huyền Trang
CN. Phạm Thị Minh Hà
CN. Hoàng Thị Quỳnh Anh
CN. Hoàng Minh Ngọc Hương
CN. Nguyễn Thị Kim Anh
CN. Nguyễn Phương Dung
CN. Nguyễn Thị Hồng Anh
CN. Lưu Cẩm Vân
9624
1.3.3 Kinh nghiệm của Trung Quốc 39
1.3.4. Kinh nghiệm của Nhật Bản 40
1.3.5. Những bài học kinh nghiệm có thể áp dụng cho Việt Nam 41
CHƯƠNG 2 44
THỰC TR
ẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC CƠ SỞ BÁN BUÔN,
BÁN LẺ CHỦ YẾU Ở NƯỚC TA 44
2.1. Thực trạng hoạt động của một số cơ sở bán buôn, bán lẻ chủ yếu ở nước ta 44
2.1.1. Khái quát quá trình hình thành và phát triển của các cơ sở bán buôn, bán lẻ ở
nước ta 44
2.1.2. Thực trạng hoạt động của một số cơ sở bán buôn, bán lẻ chủ yếu ở nước ta.50
2.1.3. Đánh giá chung 61
3
2.2. Thực trạng quản lý nhà nước đối với các cơ sở bán buôn, bán lẻ chủ yếu ở
nước ta 63
2.2.1. Chính sách của Nhà nước về phát triển các cơ sở bán buôn, bán lẻ 63
2.2.2. Hệ thống cơ quan chức năng của nhà nước tham gia quản lý các cơ sở bán
buôn, bán lẻ chủ yếu 76
2.2.3. Cơ chế quản lý đối với các cơ sở bán buôn, bán lẻ chủ yếu 78
2.2.4. Tác động của việ
c thực thi các cam kết gia nhập Tổ chức Thương mại thế
giới về mở cửa dịch vụ phân phối đến quản lý nhà nước đối với các cơ sở bán buôn,
bán lẻ chủ yếu 81
2.3.5. Đánh giá chung 88
CHƯƠNG 3 Error! Bookmark not defined.
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI
VỚI CÁC CƠ SỞ BÁN BUÔN, BÁN LẺ CHỦ YẾU Ở NƯỚC TA TỪ NAY
ĐẾN NĂ
M 2020 90
ịch vụ bán buôn và bán lẻ
đóng góp đáng kể vào GDP của đất nước, tạo ra nhiều công ăn việc, góp phần nâng
cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân.
Trong lĩnh vực bán lẻ, thị trường Việt Nam được đánh giá là đầy triển vọng,
có sức hút lớn đối với các doanh nghiệp, nhà đầu tư trong và ngoài nước. Tổng
mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá thực tế tăng trưở
ng
đều qua các năm. Năm 2007 đạt 746,16 nghìn tỷ đồng, tăng 25,1% so với năm
trước; năm 2008 đạt 1.007,2 nghìn tỷ đồng, tăng 34,9%; năm 2009 đạt 1.238,1
nghìn tỷ đồng, tăng 22,9%; năm 2010 đạt 1.614 nghìn tỷ đồng, tăng 30,37%; năm
2011 ước tính đạt 2.004,4 nghìn tỷ đồng (tương đương khoảng 95 tỷ USD), tăng
24,2 % so với cùng kỳ năm trước. Số lượng các cơ sở bán lẻ ngày càng tăng nhanh
về số lượ
ng và đa dạng về loại hình. Tính đến cuối năm 2011, tổng số chợ trên cả
nước (chợ trong quy hoạch) có khoảng 8.730 chợ; tổng số người tham gia buôn bán
tại các chợ này khoảng trên 2 triệu người. Về các loại hình cơ sở bán lẻ hiện đại,
nếu như năm 2005 Việt Nam mới có khoảng trên 200 siêu thị, 30 trung tâm thương
mại tại 30/64 tỉnh thành thì đến hết năm 2011, con số này đã là 638 siêu thị, 117
trung tâm thương mại. Ngoài ra, còn hàng nghìn cửa hàng chuyên doanh và cửa
hàng tiện lợi phân bố rộng khắp 63 tỉnh và thành phố…
Trong lĩnh vực bán buôn, các cơ sở bán buôn truyền thống vẫn chiếm tỷ
trọng lớn. Các cơ sở bán buôn chủ yếu kinh doanh các mặt hàng thiết yếu như
lương thực thực phẩm, vật liệu xây dựng, xăng, khí dầu mỏ hóa lỏng, phân bón…
đã và đang nhận được sự quan tâm, chỉ đạo và h
ỗ trợ của các cơ quan quản lý nhà
nước từ trung ương đến địa phương. Hiện nay, các địa phương đã xây dựng và hình
thành một số chợ đầu mối bán buôn, trung tâm bán buôn, tổng kho bán buôn cash
& carry văn minh, tiến bộ hơn trước đây. Cả nước có khoảng 50 chợ đầu mối nông
sản cấp vùng và cấp tỉnh, 16 tổng kho bán buôn cash & carry, 2 Sở giao dịch hàng
hóa…
không nhỏ đến nhiều lĩnh vực, trong đó dịch vụ phân phối của Việt Nam vì các đối
tác đàm phán luôn yêu cầu chúng ta phải mở cửa dịch vụ và đầu tư nhiều hơn so
với các cam kết hiện tại trong WTO. Vì vậy, việc nghiên cứu thực trạng quản lý
nhà nước đố
i với các cơ sở bán buôn, bán lẻ chủ yếu ở nước ta và đề xuất một số
giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước đối với các cơ sở này từ nay đến năm
2020, nhất là trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu và rộng của
Việt Nam là rất thiết thực cho công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực phân phối
hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu
- Đề tài nghiên c
ứu khoa học cấp Bộ “Hoàn thiện môi trường kinh doanh
nhằm phát triển dịch vụ bán buôn, bán lẻ của Việt Nam” do Viện Nghiên cứu
Thương mại thực hiện năm 2009.
- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Một số giải pháp phát triển hệ thống
siêu thị trên địa bàn Hà Nội” do Trường Đại học Thương mại thực hiện năm 2006.
6
- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Nghiên cứu các dịch vụ bán buôn, bán
lẻ của một số nước và khả năng vận dụng vào Việt Nam” do Viện Nghiên cứu
Thương mại thực hiện năm 2006.
- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Thực trạng và giải pháp phát triển hệ
thống siêu thị ở nước ta trong giai đoạn hiện nay” do Viện Nghiên cứu Thương mại
thự
c hiện năm 2005.
- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Giải pháp phát triển cửa hàng tiện lợi
vận doanh theo chuỗi ở Việt Nam đến năm 2010” do Trường Cán bộ Thương mại
Trung ương thực hiện năm 2005.
- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Các giải pháp phát triển hệ thống phân
phối hàng hoá Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế" do Viện Nghiên
7
- Đề xuất một số giải pháp có tính khả thi để hoàn thiện quản lý nhà nước đối
với các cơ sở bán buôn, bán lẻ chủ yếu ở nước ta từ nay đến năm 2020.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a. Đối tượng nghiên cứu: Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp hoàn
thiện quản lý nhà nước đối với các cơ sở bán buôn, bán lẻ chủ yếu ở nướ
c ta (không
phân tích sâu vào các ngành hàng, mặt hàng cụ thể), bao gồm:
- Một số cơ sở bán buôn chủ yếu: chợ đầu mối bán buôn, trung tâm bán buôn
(theo quy hoạch) và tổng kho phân phối theo mô hình Cash & Carry.
- Một số cơ sở bán lẻ chủ yếu: chợ bán lẻ, siêu thị, trung tâm thương mại,
cửa hàng tiện lợi, chuỗi cửa hàng bán lẻ.
b. Phạm vi nghiên cứu:
- Về không gian: Trên phạm vi cả nước
- Về thời gian: Nghiên cứu, đánh giá thực tr
ạng và đề xuất một số giải pháp
nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước đối với các cơ sở bán buôn, bán lẻ chủ yếu trong
giai đoạn từ nay đến năm 2020.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu;
- Phương pháp phân tích, so sánh, thống kê, tổng hợp;
- Phương pháp hội thảo, lấy ý kiến chuyên gia;
- Phương pháp kế thừa (các số liệu điều tra, khả
o sát về các cơ sở bán buôn,
bán lẻ chủ yếu )
- Phương pháp phân tích kinh tế khác.
6. Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung chính của đề tài
được kết cấu thành 3 chương bao gồm:
Chương 1: Một số vấn đề lí luận về quản lý nhà nước đối với các cơ sở bán
15 WTO Tổ chức Thương mại thế giới
9
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Danh mục các biểu đồ
Biểu đồ 1.1: Hiệu quả tổng thể của quy định quản lý về phân phối 27
Biểu đồ 2.1: Tăng trưởng các chỉ số kinh tế vĩ mô toàn cầu và tăng trưởng số lượng
cửa hàng theo loại kênh toàn cầu 44
Biểu đồ 2.2: Doanh thu bán lẻ và doanh thu bán lẻ tạp phẩm của Việt Nam 45
Biểu đồ 2.3: So sánh mức doanh thu và số lượng c
ửa hàngmột số loại hình phân
phối 47
Biểu đồ 2.4: So sánh tổng diện tích bán hàng với diện tích bán hàng trung bình của
một số loại hình phân phối 48
Biểu đồ 2.5: Sự phát triển của cấu trúc bán lẻ Việt Nam 49
Biểu đồ 2.6: Top 5 nhà phân phối của Việt Nam năm 2010 50
Biểu đồ 2.7: Phân bố số lượng siêu thị trên cả nước năm 2010 52
Biểu đồ 2.8: Mạng lưới trung tâm thương mại theo các vùng kinh tế 57
Biể
u đồ 2.9 : Phân bố chợ theo các vùng kinh tế 58
Biểu đồ 2.10: Các thương hiệu cửa hàng tiện lợi hàng đầu Việt Nam 59
Biểu đồ 2.11: Doanh thu và số lượng cửa hàng một số loại hình phân phối 62
giai đoạn 2005-2014 62
Biểu đồ 2.12: Lao động trong lĩnh vực phân phối giai đoạn 2004-2009 74
11
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
ĐỐI VỚI CÁC CƠ SỞ BÁN BUÔN, BÁN LẺ
1.1 Dịch vụ bán buôn, bán lẻ và các cơ sở bán buôn, bán lẻ
1.1.1. Khái niệm dịch vụ bán buôn, bán lẻ
Phân phối là mắt xích liên kết chủ yếu giữa nhà sản xuất với người tiêu dùng
cuối cùng, là quá trình đưa hàng hóa từ nơi sản xuất tới nơi tiêu dùng, qua đó tạo ra
giá trị gia t
ăng cho hàng hóa. Theo hệ thống phân loại sản phẩm của Liên hợp quốc
năm 1998 (Central Product Classification – CPC), ngành phân phối bao gồm bốn
phân ngành dịch vụ chính: dịch vụ đại lý hoa hồng, dịch vụ bán buôn, dịch vụ bán
lẻ và dịch vụ nhượng quyền. Trong khuôn khổ đề tài này, nhóm tác giả chỉ tập
trung nghiên cứu một phần về dịch vụ bán buôn và bán lẻ, cụ thể là đối với một số
loại hình cơ
sở bán buôn, bán lẻ chủ yếu.
Theo hệ thống phân loại CPC, dịch vụ bán buôn là việc bán hàng cho các
nhà bán lẻ, cho người tiêu dùng công nghiệp, thương mại, tổ chức và các đối tượng
kinh doanh khác, thậm chí cho cả các nhà bán buôn khác; dịch vụ bán lẻ là việc
bán hàng phục vụ cho mục đích tiêu dùng cá nhân hoặc hộ gia đình.
Nghị định số 23/2007/NĐ-CP của Chính phủ ngày 12 tháng 02 năm 2007
quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt
bán hàng hóa và dịch vụ cho những người mua hàng
để bán lẻ hoặc để sử dụng
cho kinh doanh. Dịch vụ bán lẻ là hoạt động có nghiệp vụ chủ yếu là bán (có tính
chất tiếp tục) hàng hóa cùng với dịch vụ kèm theo cho người tiêu dùng cuối cùng
phục vụ mục đích tiêu dùng cá nhân hoặc hộ gia đình.
Trên thực tế, ranh giới giữa hai ngành dịch vụ bán buôn, bán lẻ ngày càng
mờ nhạt, khó định nghĩa và định lượng chính xác một hoạt động bán hàng là bán
buôn hay bán l
ẻ. Ranh giới giữa sản xuất, bán buôn và bán lẻ liên tục thay đổi, phụ
thuộc vào các điều kiện kinh tế tại từng thời điểm, các quyết định của cá nhân hay
chiến lược của doanh nghiệp. Tuy nhiên, chúng ta có thể áp dụng một số tiêu chí cơ
bản để phân biệt giữa dịch vụ bán buôn và bán lẻ, cụ thể như sau:
- Tiêu chí về khối lượng hàng hóa bán ra: Bán buôn là bán với một số lượng
hàng lớn, ngược lại bán lẻ là bán từng sản phẩm hay với số lượng nhỏ.
- Tiêu chí về đối tượng bán hàng: Đối tượng của bán buôn là các đại lý, siêu
thị, nhà phân phối sỉ, các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, các nhà bán lẻ còn
đối tượng của bán lẻ là người tiêu dùng cuối cùng hay khách hàng dùng trực tiếp
các sản phẩm đó.
- Tiêu chí về giá thành: Thông thường bán buôn có giá thành trên từng sản
phẩm thấp hơn bán lẻ.
- Tiêu chí về mục đích: M
ục đích hướng tới của bán buôn là để bán lại cho
một chủ thể thứ ba hoặc để sử dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh (hay có thể
hiểu là nhằm mục đích thương mại) còn mục đích của dịch vụ bán lẻ là để tiêu
dùng trực tiếp.
- Tiêu chí về tầm ảnh hưởng đến thị trường: Nhiều người cho rằng bán buôn
có tầm ảnh hưởng
đến thị trường nhiều hơn bán lẻ. Ví dụ khi một nhà bán buôn bán
13
hóa được chuyển trực tiếp từ nhà sản xuất/phân phối đến người tiêu dùng không
thông qua cơ
sở bán hàng như bán hàng trực tuyến qua Internet, bán hàng qua
truyền hình/ti vi, bán hàng qua điện thoại, bán hàng qua bưu điện, bán hàng qua
catalog, bán hàng tận cửa hay bán hàng lưu động.
Nghị định số 23/2007/NĐ-CP định nghĩa cơ sở bán lẻ là đơn vị thuộc sở hữu
của doanh nghiệp để thực hiện việc bán lẻ mà không giải thích về cơ sở bán buôn.
Với cách định nghĩa như vậy, cơ sở
bán buôn có thể hiểu là đơn vị thuộc sở hữu
của doanh nghiệp để thực hiện việc bán buôn.
14
Một nghiên cứu của các chuyên gia Dự án EU-Việt Nam Mutrap III trong
năm 2010 lại đưa ra các khái niệm như sau: Cơ sở bán lẻ là tên gọi chung cho các
loại hình chợ, cửa hàng, trung tâm thương mại, máy bán hàng tự động hay các hình
thức dưới tên gọi khác được tổ chức để thực hiện hoạt động bán lẻ. Cơ sở bán buôn
là tên gọi chung cho các loại hình chợ, cửa hàng, trung tâm thương mại hay các
hình thức dưới tên gọi khác được tổ
chức để thực hiện hoạt động bán buôn.
Trong khuôn khổ đề tài này, cơ sở bán buôn được coi là tên gọi chung cho
các đơn vị có không gian và địa điểm cố định cần thiết để trưng bày và bán hàng
dưới hình thức bán buôn; cơ sở bán lẻ được coi là tên gọi chung cho các đơn vị có
không gian và địa điểm cố định cần thiết để trưng bày và bán hàng dưới hình thức
bán lẻ. Như vậy, mộ
t doanh nghiệp hay tổ chức có thể có một hoặc nhiều cơ sở bán
buôn, bán lẻ.
Theo từ điển Việt Nam, khái niệm “chủ yếu” là tính từ chỉ về “mức độ quan
trọng nhất” hay về “phần nhiều, phần lớn”. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài,
cơ sở bán buôn, bán lẻ chủ yếu ở đây được hiểu là các loại hình cơ sở bán buôn,
bán lẻ tiêu biểu, có mứ
cùng với sự xuất hiện của nhà đầ
u tư nước ngoài trong lĩnh vực bán buôn, một số
loại hình cơ sở phân phối bán buôn hiện đại cũng đã xuất hiện ở Việt Nam trong
những năm gần đây.
+ Các cơ sở bán buôn mặt hàng tổng hợp có xu hướng kinh doanh mặt hàng
rộng và không sâu. Chiều rộng của mặt hàng được hiểu là số lượng chủng loại sản
phẩm còn chiều sâu là số phân lớp trong một loại hàng hóa có thể
được mở rộng
đến kích cỡ bao bì hoặc vị của sản phẩm.
+ Các cơ sở bán buôn chuyên doanh có xu hướng kinh doanh mặt hàng hẹp
và sâu.
+ Các cơ sở thương mại thu mua thường chuyên môn hóa vào việc thu mua
(thu gom hàng hóa), phân loại và đóng gói, chủ yếu là các sản phẩm nông nghiệp
(ví dụ như rau, quả, khoai tây, bông, ), cũng như tái phân phối hàng cũ và phế liệu
cho người sử dụng (ví dụ: tái chế phế thải bằng sắt, giấy, th
ủy tinh, chất dẻo ). Đối
với các sản phẩm nông nghiệp, thương mại thu mua thường tồn tại dưới hình thức
các hợp tác xã (như hợp tác xã rau, hợp tác xã trái cây, hợp tác xã bò sữa ).
+ Cơ sở thương mại bán buôn thanh toán ngay và tự chuyển hàng đi (bán
buôn tự phục vụ) hay còn gọi là tổng kho phân phối theo mô hình Cash & Carry
thường cung cấp khối lượng hàng hóa lớn với rất nhiều chủng loại hàng hóa như
thực phẩm, đồ
uống, hàng tiêu dùng Đặc điểm của loại hình người mua thanh
toán ngay khi mua hàng, tự đóng gói và chuyển hàng đi. Hiện nay trong số các
doanh nghiệp bán buôn lớn ở Việt Nam, Tập đoàn Metro là nhà đầu tư nước ngoài
đầu tiên phát triển mạng lưới phân phối bán buôn theo mô hình này với 9 cơ sở trên
cả nước, thường đặt ở các khu vực liền kề ngoại thành của các thành phố Hà Nội,
Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ, Đồng Nai và Thành ph
ố Hồ Chí Minh.
+ Các cơ sở thương mại bán buôn hàng tư liệu sản xuất chủ yếu thực hiện
hiện các giao dịch vừa bán buôn và bán lẻ. Đặc biệt, tại Việt Nam đã xuất hiện một
hình thức trung tâm bán buôn mới là Trung tâm Giao dịch Bán buôn Hà Nội do
Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Sản phẩm Xanh Việt Nam và Hiệp hội Các nhà
bán lẻ Việt Nam hợp tác xây dự
ng đặt tại 123 Hồ Tùng Mậu, Hà Nội với rất nhiều
mặt hàng kinh doanh đa dạng nhằm giúp các doanh nghiệp phát triển mạng lưới
phân phối và xúc tiến bán hàng vào thị trường Hà Nội và các tỉnh phía Bắc.
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, nhóm nghiên cứu chỉ tập trung vào
một số loại hình cơ sở bán buôn chủ yếu là chợ đầu mối bán buôn, trung tâm bán
buôn (theo quy hoạch) và tổng kho phân phối theo mô hình Cash & Carry.
1.1.2.3. Một số loại hình c
ơ sở bán lẻ chủ yếu
Các loại hình cơ sở bán lẻ được phân loại chủ yếu theo ngành hàng, mặt
hàng, mức giá, phương thức phục vụ, diện tích (diện tích kinh doanh, diện tích bán
hàng), địa điểm và được phân thành các loại hình bán lẻ truyền thống và hiện đại.
- Cơ sở bán lẻ truyền thống: Các cơ sở này đã tồn tại và phát triển cùng với
quá trình phát triển kinh tế - xã hội củ
a Việt Nam, bao gồm các loại hình cơ bản
như chợ truyền thống, cửa hàng, cửa hiệu, sạp hàng Hiện này ở nước ta, các loại
17
hình bán lẻ truyền thống tồn tại khá phổ biến, nhất là ở các vùng nông thôn miền
núi.
+ Chợ bán lẻ truyền thống: Chợ bán lẻ là một loại hình tổ chức thương mại
tại một địa điểm nhất định, đáp ứng các nhu cầu mua bán, trao đổi hàng hóa và nhu
cầu tiêu dùng của khu vực dân cư. Hầu hết các chợ hiện nay trên lãnh thổ Việt Nam
đều thực hiện chức n
ăng bán lẻ hàng hóa trong đó có cả các chợ đầu mối bán buôn
như đề cập tại phần trên.
+ Các loại hình cửa hàng bán lẻ truyền thống: Các cơ sở này chủ yếu là các
kinh tế nhờ quy mô và hiện đại hóa. Địa điểm kinh doanh thường ở khu vực ngoại
vi hoặc ở các khu trung tâm thương mại của thành phố.
+ Cửa hàng tiện l
ợi (convenience store) là loại hình cơ sở bán lẻ hiện đại quy
mô nhỏ; hàng hóa, dịch vụ kinh doanh chủ yếu là những thứ gần gũi, thiết yếu với
cuộc sống, sinh hoạt hàng ngày của con người; thời gian kinh doanh dài.
18
+ Cửa hàng tạp hóa là cơ sở bán lẻ nhỏ bán nhiều nhóm hàng khác bánh kẹo,
sách, tạp chí, báo, văn phòng phẩm, đồ chơi, tặng phẩm và đồ trang sức khác nhau.
Một dạng khác của cửa hàng tạp phẩm là tập hợp về không gian của các cửa hàng
chuyên doanh và chuyên ngành độc lập với nhau (chủ yếu là cửa hàng thời trang
quần áo, đồ trang sức, cửa hàng sách và tạp chí, băng đĩa, ).
+ Cửa hàng chuyên bán hàng có thương hiệu hay thường
được gọi là cửa
hàng bách hóa (department store) là loại hình cơ sở bán lẻ có diện tích lớn, thường
có nhiều tầng và bán đa dạng các mặt hàng với nhiều kích cỡ, chủng loại thuộc
nhiều ngành hàng khác nhau, có yêu cầu phục vụ chu đáo và giá cao do chuyên
cung cấp các mặt hàng, dịch vụ có thương hiệu. Các cơ sở này thường được đặt ở
nội thành hoặc ở các trung tâm mua sắm. Mặt hàng thường là hàng phi thực phẩm
(thuộ
c các ngành hàng như quần áo, đồ dệt, thể thao, dụng cụ gia đình, đồ gỗ, thiết
bị, mỹ phẩm, đồ trang sức, giải trí ) hay có thể bao gồm cả thực phẩm. Ngoài ra,
các cơ sở này còn cung ứng các dịch vụ như nhà hàng, môi giới du lịch, dịch vụ tài
chính Điểm phân biệt cụ thể giữa loại hình cơ sở bán lẻ này so với siêu thị là siêu
thị thì bán nhiều loại sản ph
ẩm còn cửa hàng chuyên bán hàng có thương hiệu thì
diện tích bán hàng được chia thành nhiều điểm bán hàng khác nhau và cho thuê
theo từng nhãn hàng riêng.
+ Trung tâm mua sắm (shopping center/mall) là cơ sở bán lẻ tập trung do
hiệu (department store) như Parkson, Diamond Plaza, Vincom, vừa được hiểu là
trung tâm mua sắm (shopping center/mall) nơi tập trung nhiều hoạt động thương
mại, dịch vụ và thường tập trung ở các thành phố lớn. Tại các tỉnh, tên gọi trung
tâm thương mại thườ
ng được đặt cho các khu vực chợ hạng 1 sau khi được đầu tư
xây dựng hoặc sửa chữa để có cấu trúc hiện đại.
+ Loại hình chuỗi cửa hàng bán lẻ là loại hình tổ chức bán lẻ triển khai nhiều
cửa hàng theo chuỗi. Cửa hàng chuỗi (chain store) là một trong một loạt cửa hàng
giống nhau (thương hiệu, trang thiết bị, kiến trúc, công nghệ và hàng hóa). Chuỗi
cửa hàng bán lẻ (retail store chain/a chain of retail stores) là hệ th
ống cửa hàng
bán lẻ được tiêu chuẩn hóa và vận doanh có tính chất thống nhất, các chức năng
quản lý chiến lược, chuẩn bị nguồn hàng, cung ứng hàng hóa, quyết định chính
sách bán hàng - giá cả được tập trung vào doanh nghiệp điều hành, các cửa hàng
chủ yếu chỉ thực hiện nhiệm vụ bán hàng.
Tùy theo phương thức liên kết, các chuỗi cửa hàng được phân loại thành:
Chuỗi cửa hàng thông thường (regular chain) do một doanh nghiệp sở
hữu.
Thường chỉ những doanh nghiệp lớn có đủ sức mạnh về tài chính, kinh nghiệm và
trình độ quản lý mới có thể xây dựng và sở hữu chuỗi của hàng;
Chuỗi cửa hàng nhượng quyền (franchise chain) là chuỗi cửa hàng, trong đó
doanh nghiệp chuỗi mẹ là bên nhượng quyền (franchisor) cấp quyền kinh doanh
cho cửa hàng nhận quyền hay cửa hàng mua quyền (franchisee) nhằm thu hút các
cửa hàng bán lẻ hoạt động độc l
ập ở các địa điểm khác nhau và thuộc các chủ sở
hữu khác nhau trở thành cửa hàng thành viên của chuỗi;
Chuỗi cửa hàng tự nguyện (voluntary chain) được hình thành dựa trên sự
liên minh, hợp tác và tổ chức tự nguyện giữa nhiều cửa hàng bán lẻ độc lập trong
việc sử dụng thương hiệu chung, cùng nhau mua hàng và sử dụng dịch vụ logistics.
Với rất nhiều loại hình cơ sở bán lẻ nh
giao hàng với số lượng lớn, kiểm tra và bảo đảm chất lượng hàng hóa và thự
c hiện
các nhiệm vụ như mua hàng, kho bãi, quản lý chuỗi cung ứng hiệu quả bằng các
giá trị được tăng thêm ở từng khâu mà dịch vụ bán buôn đảm bảo sự phân công,
chuyên môn hóa và phối hợp giữa các khâu của quá trình cung ứng hàng hóa, từ
sản xuất, bán buôn đến bán lẻ. Quá trình hiện đại hóa, toàn cầu hóa và mở cửa thị
trường đòi hỏi phải phân công một cách thích hợp các chức năng theo các lĩnh vực
để
đảm bảo năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, điều đó phụ thuộc vào hoạt động
hiệu quả của hệ thống bán buôn. Có thể nói, sự phát triển của dịch vụ bán buôn là
chìa khóa thúc đẩy sự tiến bộ của các ngành công, nông nghiệp và cung ứng hàng
hóa.
Ngoài ra, bán buôn giữ một vị trí quan trọng trong nền kinh tế của mỗi quốc
gia. Hệ thống bán buôn phát triển tốt sẽ giúp Chính phủ
các nước thực hiện được
chức năng kiểm soát và điều tiết thị trường hàng hóa như kiểm soát vệ sinh an toàn
thực phẩm, điều tiết cung - cầu hàng hóa, kiểm soát giá cả thị trường Sự phát
triển của hệ thống bán buôn sẽ mang đến nhiều việc làm mới trong rất nhiều ngành
21
nghề, góp phần tạo sự minh bạch trong việc hình thành giá cả trên thị trường, đảm
bảo sự phân chia lợi ích hài hòa giữa người sản xuất và thương nhân. Hệ thống bán
buôn phát triển và hoạt động hiệu quả còn giúp cho các hệ thống phân phối bán lẻ
có được chủng loại hàng hoá đa dạng, giá rẻ, giúp các nhà bán lẻ giảm tối đa lượng
hàng lưu kho và tận dụng tối đa nguồn vốn, qua
đó hỗ trợ các nhà bán lẻ vừa và
nhỏ nâng cao hiệu quả kinh doanh. Thông qua các chức năng và nhiệm vụ của
mình mà dịch vụ bán buôn dẫn dắt và chỉ đạo các chuỗi cung ứng hàng hóa hiệu
quả, nhờ vậy tạo thêm giá trị gia tăng vào mỗi khâu của chuỗi giá trị sản phẩm, tạo
ra giá trị gia tăng đóng góp vào tăng trưởng kinh tế.
trường thế giới. Đối với người tiêu dùng, hệ th
ống bán lẻ hiệu quả sẽ đảm bảo cung
ứng hàng hóa giá rẻ, góp phần làm giảm tỷ lệ chi tiêu, nâng cao chất lượng cuộc
sống cho người dân
22
Các cơ sở bán lẻ nắm giữ một vai trò quan trọng trong sự phát triển của hệ
thống bán lẻ, chiếm khoảng 80% tổng doanh số bán lẻ của mỗi quốc gia. Theo Báo
cáo đánh giá về các rào cản trong thương mại dịch vụ bán lẻ của OECD năm 2000,
bán lẻ qua cơ sở bán lẻ ở một số quốc gia năm 1999 chiếm tỷ trọng rất lớn như Hàn
Quốc 99,2%, Nh
ật Bản 79,8%. Ngày nay, mặc dù hoạt động bán lẻ không qua các
cơ sở bán lẻ ngày càng phổ biến, tăng dần tỷ trọng trong doanh số bán lẻ chung của
mỗi quốc gia nhờ sự tiến bộ của khoa học, công nghệ kỹ thuật nhưng các cơ sở bán
lẻ vẫn là ưu tiên hàng đầu mà Chính phủ các nước quan tâm và quản lý chặt chẽ.
Tầm ảnh hưởng của các cơ sở bán lẻ đố
i với nền kinh tế của một quốc gia là không
thể phủ nhận. Là nơi cung ứng hàng hóa nhanh chóng nhất đến tay người tiêu dùng,
các cơ sở bán lẻ góp phần đáp ứng mọi nhu cầu đa dạng và trên mọi vùng miền của
cả nước, góp phần thúc đẩy sản xuất và lưu thông hàng hóa phát triển. Đặc biệt, cơ
sở bán lẻ quy mô lớn hoặc các cơ sở bán lẻ được hình thành dưới dạng chu
ỗi có thể
quyết định đến sự sống còn của nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực bán
lẻ, buộc các đối thủ cạnh tranh phải liên kết lại với nhau hoặc chuyển đổi hình thức
kinh doanh, thậm chí là phá sản. Các quy định pháp luật quản lý các cơ sở bán
buôn bán lẻ như mở cửa thị trường cho nhà đầu tư nước ngoài, các quy định về quy
hoạch, về kiểm tra nhu c
ầu kinh tế hay quản lý hoạt động (giờ mở cửa, ngày được
phép kinh doanh) vì thế được chính phủ của các nước đặc biệt nghiên cứu, xây
dựng. Tại nhiều quốc gia, việc quản lý các cơ sở bán buôn chưa được quan tâm
tivi…) được thực hiện dễ dàng nên số lượng, danh mục hàng hóa, dịch vụ cung ứng
và doanh số bán lẻ đạt được không ngừng tăng lên.
Quá trình phát triển các cơ sở bán buôn cũng đi từ các hình thức cơ sở bán
buôn truyền thống đến hiện đại. Hình thức sơ khai ban đầu là các chợ bán buôn
được hình thành ở các khu vực đông dân cư, các vùng sản xuất, chế biến, đánh bắt,
nuôi trồng tậ
p trung. Đánh giá được tầm quan trọng của chợ bán buôn, nhiều quốc
gia trong đó có Nhật Bản và Trung Quốc đã ban hành các Luật quy định về bán
buôn từ rất sớm và đến nay đã có một số lần sửa đổi. Theo xu hướng truyền thống,
các nhà bán buôn thiết lập hệ thống phân phối gồm các nhà buôn nhỏ, các nhà bán
lẻ và cung cung cấp hàng cho họ thông qua đơn đặt hàng với các hình thức thanh
toán khác nhau như trả ngay, trả trước mộ
t phần tiền hàng, tín dụng ưu đãi… Xu
hướng bán buôn hiện đại linh hoạt hơn nhờ bố trí mạng lưới các kho hàng theo khu
vực, mở cửa liên tục, tập hợp nhiều chủng loại hàng hóa, các nhà buôn nhỏ không
phải dự trữ hàng mà tùy huộc vào khả năng bán hàng của mình để đến kho hàng
mua một số lượng hàng hóa thích hợp và trả tiền ngay như hình thức tổng kho phân
phối theo mô hình cash & carry.
Theo một số chuyên gia trong lĩnh vực phân ph
ối, xu hướng phát triển của
các cơ sở bán buôn, bán lẻ trong thời gian gần đây là:
- Có sự nuốt thị phần của các nhà bán lẻ, các nhà sản xuất vào hệ thống bán
buôn truyền thống làm cho vai trò của hệ thống này bị suy giảm, đặc biệt là ở các
mặt hàng tiêu dùng hàng ngày. Hệ thống bán buôn truyền thống vẫn mạnh ở các
lĩnh vực cung cấp hàng theo những đối tượng sử dụng đặc thù (bệnh vi
ện, trường
học…), những mặt hàng vật liệu truyền thống, mặt hàng có số lượng lớn.
- Các cơ sở bán buôn truyền thống có xu hướng giảm về số lượng, tiếp tục
xây dựng mới hoặc cải tạo mở rộng quy mô, cải tiến hoạt động theo hướng chuyên
biệt và hiện đại hơn trước. Các cơ sở bán buôn hiện đại ngày càng tăng về số lượ
bán buôn bán lẻ, bao gồm đi
ều kiện về địa hình, vị trí địa lý, điều kiện giao thông,
nguồn cung cấp và thị trường tiêu thụ. Khi điều kiện tự nhiên - xã hội của khu vực
được lựa chọn để xây dựng cơ sở phân phối thuận lợi sẽ góp phần làm giảm chi phí
đầu tư xây dựng (xây dựng đường giao thông, thiết lập hệ thống điện nước…) và
chi phí hoạt động thường xuyên (vậ
n chuyển hàng hóa, thuê nhân công…). Điều
kiện tự nhiên - xã hội cũng tác động trực tiếp đến việc thu hút khách hàng. Cơ sở
bán lẻ càng gần khu dân cư đông đúc và ở đó tồn tại càng ít các đối thủ cạnh tranh
thì cơ hội tăng doanh số bán và lợi nhuận cho chủ đầu tư xây dựng và vận doanh
càng cao. Ngoài ra, hiện trạng cơ sở hạ tầng phân phối và công nghệ, trong đó có
công nghệ thông tin và khả
năng áp dụng công nghệ trong bán buôn, bán lẻ cũng
tác động một cách đáng kể tới sự phát triển, vận doanh và khả năng cạnh tranh của
các cơ sở bán buôn, bán lẻ.
1.1.5.2. Trình độ phát triển của tiêu dùng và sản xuất
Trình độ phát triển của tiêu dùng tác động đến sự phát triển của các cơ sở
bán buôn, bán lẻ ở một số khía cạnh như ảnh hưởng đến: số lượng khách hàng,
25
doanh số bán, thời gian hoạt động của các cơ sở bán buôn, bán lẻ; quyết định cơ
cấu, chất lượng và có trường hợp cả mức giá hàng hóa bán ra ở các cơ sở bán buôn,
bán lẻ; việc tổ chức và thực hiện các hoạt động dịch vụ mang lại giá trị gia tăng cho
khách hàng cũng như lợi ích của hệ thống phân phối; quy mô về diện tích kinh
doanh và phạm vi thị trường của các c
ơ sở bán buôn, bán lẻ; việc bảo đảm nguồn
hàng phù hợp với yêu cầu của từng loại hình phân phối này để có thể đáp ứng đủ về
số lượng với chất lượng cao, bảo đảm độ đồng đều và giá cả hợp lý…
1.1.5.3. Cạnh tranh
Cạnh tranh góp phần lựa chọn những cơ sở bán buôn, bán lẻ hiệu quả nhất để
lĩnh vực bán buôn, bán lẻ nâng lên sẽ gia tăng áp lực cạnh tranh và áp lực cần hiệ
n