2
BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ BỘ XÂY DỰNG NHIỆM VỤ HỢP TÁC QUỐC TẾ VỀ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
THEO NGHỊ ĐỊNH THƯ BÁO CÁO TỔNG HỢP
KẾT QUẢ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
ĐỀ TÀI
NGHIÊN CỨU THIẾT KẾ NHÀ CAO TẦNG SỬ DỤNG NĂNG
LƯỢNG TIẾT KIỆM VÀ HIỆU QUẢ Chủ nhiệm đề tài Cơ quan chủ trì đề tài
KS. Lý Văn Vinh
Ban chủ nhiệm đề tài Bộ Khoa học và Công nghệ
Thư ký đề tài: KTS. Nguyễn Thùy Dung
TSKH. Bạch Đình Thiên
Ths. Trịnh Thị Liên
KS. Đàm Văn Thình
ThS. KTS. Trần Minh Tùng Hà Nội - 2012
a. Hệ thống chiếu sáng 36
b. Hệ thống thang máy 37
c. Hệ thống thông gió và điều hoà không khí 37
d. Hệ thống cấp nước nóng 38
e. Hệ thống quản lý tòa nhà - Building Management System (BMS) 39
1.4. MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG TIẾP CẬN VẤN ĐỀ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG
TIẾT KIỆM VÀ HIỆU QUẢ TẠI VIỆT NAM 41
1.4.1. Giải thưởng “Tòa nhà hiệu quả năng lượng” 41
1.4.2. Hội đồng công trình xanh 44
1.4.3. Công trình điển hình: khách sạn Majestic và các giải pháp sử dụng năng lượng tiết
kiệm và hiệu quả 47
1.5. KẾT LUẬN CHƯƠNG I 49
CHƯƠNG 2: NHỮNG CƠ SỞ KHOA HỌC ĐỂ ĐỀ XUẤT NGHIÊN CỨU THIẾT
KẾ CAO TẦNG SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TIẾT KIỆM VÀ HIỆU QUẢ 52
2.1. CƠ SỞ PHÁP LÝ 52
4
2.1.1. Các cơ sở pháp lý chung 54
a. Luật
b. Nghị định 56
c. Quyết định 56
d. Thông tư 58
e. Chỉ thị 58
2.1.2. Các cơ sở pháp lý chuyên ngành 61
a) Sử dụng năng lượng mặt trời 150
b) Thông gió, điều hòa không khí 156
c) Chiếu sáng 161
d) Giải pháp quản lý 163
5
2.4. KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 167
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP THIẾT KẾ TIẾT KIỆM NĂNG LƯỢNG 169
3.1. Quy hoạch tổng thể của đô thị, trục phố, điểm dân cư 169
a. Quy hoạch thông gió tự nhiên 169
b. Quy hoạch cây xanh, mặt nước 172
3.2. Các giải pháp kiến trúc 173
3.2.1. Hình thức công trình 173
a. Hình dạng mặt bằng 173
b. Tổ chức sân trong 177
c. Bố trí các không gian chức năng 181
3.2.2. Không gian mặt cắt 182
a. Giải pháp tầng trệt mở 182
b. Giải pháp “mặt đứng kép” 182
3.2.3. Vật liệu và kết cấu bao che 1844
a. Hệ thống che chắn nắng chủ động 184
b. Vật liệu kính 192
c. Tường thu nhiệt 195
d. Tường kính 2 lớp (double-skin façade) 198
e. Giải pháp cây xanh, mặt nước 201
3.2.4. Giải pháp tạo cảnh quan theo chiều đứng 203
3.3. Giải pháp kỹ thuật 205
3.3 Kỹ thuật, quản lý 240
Chữ viết tắt, chữ viết tắt từ các chữ cái đầu, ký hiệu 241
Tài liệu tham khảo: 242
7
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Phát triển bền vững là xu thế tất yếu trong quá trình phát triển của xã hội loài
người. Tại Hội nghị thượng đỉnh thế giới năm 1992 ở Rio de Janerio, các nhà hoạt
động về kinh tế, xã hội, môi trường cùng với các nhà chính trị đã thống nhất về
quan điểm phát triển bền vững, coi đó là trách nhiệm chung của các quốc gia, của
toàn nhân loại và đồng thuận thông qua tuyên bố Rio gồm 27 nguyên tắc cơ bản về
phát triển bền vững và chương trình nghị sự 21, xác định các hành động cho sự phát
triển bền vững của toàn thế giới trong thế kỷ 21.
Đại hội Đảng lần thứ IX đã thông qua mục tiêu chiến lược 10 năm (2001-
2010) mà nội dung tập trung vào những nhân tố phát triển bền vững. Để thực hiện
mục tiêu phát triển b
ền vững như Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc đã đề ra và
thực hiện cam kết quốc tế về phát triển bền vững, Thủ tướng Chính phủ đã phê
duyệt “Định hướng Chiến lược Phát triển bền vững ở Việt Nam” (Chương trình
nghị sự 21 của Việt Nam).
Trong lĩnh vực kiến trúc, xây dựng, nhà cao tầng đang dần trở nên phổ biế
n
tại các đô thị trên thế giới và đặc biệt là tại đô thị chật hẹp, dân số cao như Việt
Nam nhằm tiết kiệm quỹ đất đô thị cho các mục đích công cộng như vui chơi giải
trí, công viên cây xanh, cũng như tập trung, giảm hệ thốnghạ tầng, giao thông vận
tải, mạng lưới dịch vụ dẫn đến giảm mức tiêu hao năng lượng.
Tuy nhiên, nhà cao tầng là kiểu kiến trúc tập trung tiêu hao nhiều năng
lượng và bảo vệ môi trường.
3. Hợp tác nghiên cứu biên soạn Tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam cho các
công trình xây dựng nhà cao tầng sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trên cơ
sở các giải pháp xây dựng tìm kiếm được.
4. Củng cố và tăng cường quan hệ hợp tác về khoa học công nghệ trong lĩnh
vực thiết kế xây dựng.
3. Nội dung nghiên cứu
Trong nước:
- Thu thập, phân tích, đánh giá các đặc điểm khí hậu, năng lượng tự nhiên
trên các vùng lãnh thổ Việt Nam.
- Thu thập, phân tích, đánh giá các biện pháp thiết kế, xây dựng truyền thống
thích ứng với điều kiện tự nhiên có khả năng ứng dụng vào nhà cao tầng.
- Nghiên cứu học tập kinh nghiệm của bạn về thiết kế và xây dựng nhà cao
tầng sử dụng nă
ng lượng tiết kiệm và hiệu quả.
9
- Nghiên cứu học tập kinh nghiệm và các kết quả nghiên cứu của bạn về
Phương pháp xây dựng Tiêu chuẩn, các giải pháp về nâng cao tuổi thọ của tòa nhà
và các giải pháp thiết kế và xây dựng nhà cao tầng sử dụng năng lượng tiết kiệm và
hiệu quả.
- Hợp tác cùng nghiên cứu các giải pháp thiết kế:
+ Tổ chức không gian;
+ Hệ thống bao che; vật liệu xây dựng, kết cấu của tòa nhà;
+ Hệ
thống kỹ thuật của tòa nhà; các giải pháp kỹ thuật tiết kiệm năng
lượng và sử dụng nguồn năng lượng sạch, nhằm sử dụng năng lượng một cách tiết
kiệm và hiệu quả.
- Hợp tác cùng nghiên cứu các nội dung để bổ sung vào Tiêu chuẩn thiết kế
và xây dựng nhà cao tầng sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả.
nhằm:
- Phân tích tổng quan tình hình thiết kế nhà cao tầng sử dụng năng lượng tiết
kiệm và hiệu quả trên thế giới.
- Thống kê mức tiêu hao năng lượng tại các nhà cao tầng ở Việt Nam.
Phương pháp này không chỉ đưa ra được các số liệu tổng quan, mà còn đưa
ra các bi
ện pháp cụ thể, bản chất của vấn đề thiết kế nhà cao tầng sử dụng năng
lượng tiết kiệm và hiệu quả.
2. Phương pháp so sánh, đối chiếu và tổng hợp:
Thiết lập các luận điểm, phương pháp nghiên cứu ứng dụng và lựa chọn giải
pháp chuyên môn phù hợp.
11
B. NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. ĐÁNH GIÁ TỔNG QUAN VỀ KHẢ NĂNG TIẾP CẬN
VIỆC SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG ĐỐI VỚI CÁC CÔNG TRÌNH CAO TẦNG
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
1.1. NHỮNG KHÁI NIỆM VÀ ĐỊNH NGHĨA LIÊN QUAN
1.1.1. Nhà cao tầng
Hiện nay tại Việt Nam, chưa có cách phân loại chính thức và chính xác các
công trình kiến trúc theo số tầng cao. Tuy nhiên, theo TCXDVN 323:2004 “Nhà ở
cao tầng - Tiêu chuẩn thiết kế” thì nhà ở cao tầng là loại nhà ở, căn hộ có chiều cao
từ 9 đến 40 tầng (trên 40 tầng thường gọi là nhà chọc trời).
Như vậy, trong khuôn khổ đề tài này, nhà cao tầng được sử dụng chung để
chỉ các loại nhà kiến trúc dân dụng (nhà ở và nhà công cộng) có chiều cao từ 9 tầng
trở lên.
1.1.2. Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả
Theo Nghị định số 102/2003/NĐ-CP ngày 03/09/2003 của Chính phủ v/v Sử
dụng năng lượng tiết kiệ
m và hiệu quả định nghĩa:
ệt đới, và nằm ở rìa phía đông
nam của phần châu Á lục địa, giáp với biển Đông nên chịu ảnh hưởng trực tiếp của
kiểu khí hậu nhiệt đới gió mùa.
Việt Nam có ba miền khí hậu chủ yếu, bao gồm: miền khí hậu phía Bắc,
miền khí hậu phía Nam, miền khí hậu Trung và Nam Trung Bộ.
Miền Bắc Việt Nam có khí hậu nhiệt đới gió mùa với bốn mùa xuân, hè, thu,
đông rõ rệt. Mùa xuân miền Bắc b
ắt đầu từ tháng 2 cho đến hết gần tháng 4, là mùa
đẹp nhất trong năm. Mùa hè từ tháng 4 đến tháng 9, vào mùa này thì nhiệt độ trong
ngày khá nóng và mưa nhiều. Tháng nóng nhất thường là vào tháng 6. Tháng 5 đến
tháng 8 là tháng có mưa nhiều nhất trong năm. Mùa thu chỉ vỏn vẹn trong hai tháng
9 và 10. Mùa đông thường vào tháng 11 đến tháng 2 năm sau, mùa này khí hậu lạnh
và hanh khô.
Miền Nam Việt Nam gồm khu vực Tây Nguyên và Nam Bộ. Miền này có
khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình với hai mùa: mùa khô và mùa mưa (mùa mưa
từ tháng 4-5 đến tháng 10-11, mùa khô t
ừ tháng 12 đến hết tháng 3 năm sau).
Quanh năm, nhiệt độ của miền này cao. Khí hậu miền này ít biến động nhiều trong
năm.
Khí hậu miền Trung Việt Nam thì được chia ra làm hai vùng khí hậu là Bắc
Trung Bộ và vùng khí hậu Duyên Hải Nam Trung Bộ. Vùng Bắc Trung Bộ là vùng
13
Bắc đèo Hải Vân, về mùa đông do bị ảnh hưởng gió mùa Đông Bắc cộng thêm bị
dãy núi Trường Sơn tương đối cao ở phía Tây (dãy Phong Nha - Kẻ Bàng) và phía
Nam (tại đèo Hải Vân trên dãy Bạch Mã) chắn ở cuối hướng gió mùa Đông Bắc.
Nên vì vậy vùng này thường lạnh nhiều vào Đông và thường kèm theo mưa nhiều,
do gió mùa thổi theo đúng hướng Đông Bắc mang theo hơi nước từ biển vào, hơi
khác biệt vớ
i thời tiết khô hanh của miền Bắc cùng trong mùa đông. Về mùa hè, lúc
Để đối phó lại với những điều kiện khí hậu đặc thù, ngay từ xa xưa, người
Việt đã có những quan điểm và nguyên tắc xử lý kiến trúc riêng của mình. Hệ thống
những quan điểm và nguyên tắc này được đúc kết lại thành những câu ca dao, tục
ngữ hay văn vần dễ nhớ và chi phối phần nào trong việc thiết kế và tạo dựng nhà
cửa, đặc bi
ệt là ở những vùng nông thôn.
Kiến trúc truyền thống Việt Nam chủ yếu là thấp tầng. Tuy những nguyên
tắc thiết kế của kiểu loại kiến trúc này khó có thể sử dụng được trong kiến trúc hiện
đại cao tầng nhưng một số quan điểm kiến trúc liên quan đến vấn đề xử lý và sử
dụng năng lượng trong công trình mang tính chất nhiệt đới đặc thù Việt Nam thì
vẫn có thể là mộ
t kinh nghiệm quý để tham khảo.
- Bố trí tổng thể: quần thể các công trình kiến trúc Việt Nam luôn lấy ao hồ
và sân vườn làm trung tâm (với làng, xã trung tâm là sân, ao đình; với hộ gia đình,
trung tâm là ao vườn và sân phơi), nói cách khác luôn lấy một yếu tố tự nhiên để
định vị các hệ thống không gian khác. Các không gian chính - phụ đều quây xung
quanh trung tâm. Đứng trên quan điểm tiện nghi về khí hậu, có thể giải thích như
sau: vào những ngày nóng bức, sự chênh lệch nhiệt độ và áp su
ất giữa không khí
trên mặt sân bị nung nóng và trong bóng mát của vườn cây đã góp phần tạo ra
những luồng gió "đối lưu" từ sân, vườn, nhà với nhau, có tác dụng cải tạo điều kiện
15
vi khí hậu trong khuôn viên ngôi nhà ở truyền thống cũng như trong toàn bộ tổng
thể các khối nhà.
- Hướng nhà: nhà quay mặt về hướng Nam không chỉ đón được hướng gió
mát (“lấy vợ hiền hòa, làm nhà hướng nam”) mà còn đón nắng cho các vùng núi
cao. Miền Trung và miền Nam, vùng biển có thể thay đổi theo một số hướng như
Bắc hoặc Đông, nhưng tuyệt nhiên tránh hướng Tây do bất lợi về bức xạ mặt trời.
16
độ thông thoáng; cây thấp, lá to và nhiều được trồng phía sau ngôi nhà nhằm hạn
chế những bất lợi về hướng và giă tăng chất lượng gió tự nhiên. Xen kẽ trong công
trình là hệ thống các sân trong có cây xanh, tiểu cảnh, mặt nước tạo thông thoáng -
giải pháp thường thấy cho việc xử lý những không gian hẹp về chiều ngang, dài về
chiều sâu như các loại nhà ở đô thị truyền thống.
- Sử dụng năng lượ
ng: mục đích sử dụng năng lượng sử dụng trong các công
trình kiến trúc truyền thống tương đối đơn giản, chủ yếu là chiếu sáng, làm chín
thực phẩm, suởi ấm… Nguồn năng lượng được khai thác đa phần từ các loại thực
vật thông qua các sản phẩm hoặc phế phẩm của quá trình sản xuất nông nghiệp -
đây có thể xem là một loại năng lượng tái tạo hiệ
u quả.
- Kiến trúc mở: người Việt coi trọng các mối quan hệ giao tiếp cởi mở với
cộng đồng xung quanh. Chính vì vậy không gian giao tiếp luôn xuất hiện trong các
kiến trúc truyền thống. Tại các xóm làng nông thôn, dân cư thường tụ tập trước
cổng, sân nhà, đình làng, trẻ con vui đùa, người già hàn huyên. Tại các đô thị, dân
chúng thường sử dụng đường phố, vỉa hè, các không gian trống bất kỳ tại tầng nhà,
sảnh, sân nhà
để làm nơi vui chơi, giao tiếp và thậm chí là luyện tập thể dục. Đặc
biệt người Việt Nam rất thích lễ hội, tụ tập nên khi có dịp, các không gian công
cộng, không gian trống giữa các công trình kiến trúc luôn được trưng dụng. Chính
lối sống mở cùng với đặc điểm về khí hậu nóng ẩm đã làm cho các không gian của
người Việt thường mở, bao che nửa kín, nửa hở để đảm bảo các đ
iều kiện tiện nghi
vi khí hậu trong các hoạt động sống hàng ngày.
1.3. TÌNH HÌNH XÂY DỰNG CÁC CÔNG TRÌNH Ở VIỆT NAM CÓ
LIÊN QUAN ĐẾN TIẾT KIỆM NĂNG LƯỢNG
Hiện tại, Việt Nam chưa xây dựng được thị trườ
ng tiêu thụ vật liệu thân thiện
môi trường một cách bài bản, chưa khích lệ được tiêu dùng, đầu tư công nghệ chưa
tương xứng dẫn đến năng suất thấp, chủng loại không phong phú. Kết quả đương
nhiên là giá bán sẽ cao, người tiêu dùng không chấp nhận. Đồng thời cũng chưa có
một tính toán và phân tích cụ thể việc sử dụng các loại vật liệu này xét trên các góc
độ kinh tế (“đắt trước mắt - r
ẻ lâu dài”) hay bền vững. Liệu có phải “đắt” nếu sử
dụng vật liệu thân thiện môi trường mà giảm tải trọng cho công trình, thời gian thi
công được rút ngắn, tốn ít xi măng, sắt thép ; khi đi vào vận hành sử dụng lại tiết
kiệm năng lượng hơn, môi trường sống tốt hơn, nhờ ngăn chặn được tối đa tình
trạng bức xạ nhiệt, hiệu ứng nhà kính ? Đ
ó là chưa kể đến những yếu tố có lợi cho
cả xã hội, nền kinh tế và môi trường sống, sức khoẻ của cả cộng đồng
18
1.3.1. Kiến trúc - quy hoạch
a. Quy hoạch tổng thể
Nhà cao tầng ở các thành phố tập trung chủ yếu tại các khu vực đô thị phát
triển mới và một số ít xây chen vào các khu vực đô thị hiện hữu, phân tán dọc các
tuyến phố chính. Tại các khu vực phát triển mới, các khối nhà cao tầng được xây
dựng dựa trên quy hoạch tổng thể đã được phê duyệt từ ban đầu nên có được các
khoảng cách không gian trống và
điều kiện cảnh quan tiện nghi. Song cũng tồn tại
một thực tế là một số khu vực do thuận lợi về vị trí địa lý trong đô thị, giá trị kinh tế
đất xây dựng cao và chủ đầu tư vì lợi nhuận cũng đã đẩy mật độ xây dựng lên cao.
Mật độ dày đặc này không những làm giảm bớt các không gian xanh, không gian
nghỉ ngơi, giao tiếp cho khu vực, mà còn gây nên sự tập trung quá lớn h
ạ tầng và
tiêu thụ năng lượng.
- Nhà dạng tấm (khối nhà có chiều rộng lớn hơn nhiều so với chiều dày) với
mặt bằng là các dạng hình học như chữ nhật, ellipse, gấp khúc… Đa số loại mặt
bằng này có chiều rộng quay về hướng Bắc hoặc Nam nhằm tránh nắng hướng Tây.
Với xu hướng kiến trúc hiện đại, rút ngắn thời gian thi công nên các mặt nhà
chỉ có tường và kính, ít có kết cấ
u che nắng, ít lồi lõm, nên các diện đứng thường
phẳng, nhẵn, sáng đều dưới tia chiếu mặt trời, không hoặc ít có mảng tối do hiệu
quả đổ bóng.
20
Trong khi đó, Việt Nam là nước nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, có trị số
BXMT cao quanh năm. Các hướng Đông, Tây, Tây Bắc, Tây Nam, Đông Bắc,
Đông Nam sẽ chịu ảnh hưởng nhiều nhất của BXMT, trong đó các hướng Tây và
Tây Bắc sẽ có ảnh hưởng nghiêm trọng hơn do“vị trí thuận lợi” của mặt trời trong
các tháng nóng và nhiệt độ không khí thường đạt cực đại về buổi chiều (từ 13h đế
n
15h). Như vậy đối với nhà dạng tháp, người thiết kế đã xem nhẹ và bỏ qua “tính
phương hướng” này.
Nhà thấp tầng thường được cây xanh hoặc các nhà đối diện che chắn bớt một
phần BXMT, nên mái nhà là bộ phận bao che hứng nhiều BXMT nhất, và ảnh
hưởng đến chế độ nhiệt của tầng trên cùng. Tầng trên cùng hay còn gọi là tầng áp
mái của nhà thấp tầng tại Việt Nam thường s
ử dụng như một không gian đệm - nơi
diễn ra các sinh hoạt mang tính thứ yếu, bổ trợ với tần suất sử dụng ít, ngắn. Tuy
nhiên, do chiều cao đáng kể của mình, nhà cao tầng có diện tích mặt tường lớn lại ít
được che chắn bởi các yếu tố cây xanh hay công trình lân cận, nên khi bị “phơi
nắng” sẽ ảnh hưởng đến chế độ nhiệt của toàn toà nhà, chứ không chỉ mộ
t tầng nhà.
Tuỳ theo khả năng hấp thụ BXMT, nhiệt độ mặt tường ngoài có thể lên cao
tới 45-80
Thời gian nhà có thể thông gió xuyên phòng tự nhiên từ 90% ở miền khí hậu
phía Bắc, tới xấp xỉ 100% số giờ trong một năm ở miền khí hậu phía Nam. Tuy
nhiên trên thực tế, các thiết kế đã không chú tâm vào điều này. Không có hành
lang/ống dẫ
n gió từ phía gió mát sang phía khuất gió. Phòng chỉ có cửa sổ một phía,
phía kia là lối vào. Khi đó ngay cả các phòng nằm ở hướng gió mát cũng không có
thông gió xuyên phòng. Cửa sổ đóng kín, luôn luôn phải dùng ĐHKK, nhất là các
phòng phía khuất gió.
Ánh sáng tự nhiên là ánh sáng có chất lượng và hiệu quả chiếu sáng cao
nhất, thân thiện với môi trường và giảm bớt được phần năng lượng điện dùng cho
chiếu sáng, chiếm khoảng 11-13% trong nhà cao tầng. Đồng thời đối với khí hậ
u
nóng ẩm, ánh sáng tự nhiên còn có khả năng diệt trừ và làm giảm cũng ẩm mốc, các
chất chứa vi trùng vi khuẩn gây bệnh. Trên thực tế hiện nay các sảnh, nút giao
thông, khu thang máy thường đặt ở lõi toà nhà luôn luôn phải dùng ánh sáng ánh
sáng nhân tạo. Nhà có chiều dày lớn nên dù mặt ngoài mở nhiều cửa, các lớp không
gian bên trong vẫn không đủ ánh sáng tự nhiên cho các hoạt động sinh hoạt và làm
việc của con người.
Do đặc điểm chịu lực cũng như đ
iều kiện đất đai giới hạn, đặc biệt tại các
thành phố lớn, tổ chức không gian kiến trúc thường theo kiểu hợp khối, bố cục chặt
và đặc. Điều này cũng gây không ít khó khăn cho việc tổ chức chiếu sáng cũng như
thông gió tự nhiên tới tận mỗi không gian bên trong, và chính vì vậy trong phần lớn
công trình, các giải pháp nhân tạo gần như là bắt buộc và là lựa chọn duy nhấ
t.
Đối với các địa phương phía Bắc Việt Nam, có tới 40% thời gian trong một
năm thời tiết nằm trong giới hạn của vùng dễ chịu, 90% thời gian trong một năm có
thể mở cửa thông thoáng tự nhiên. Những số liệu này còn cao hơn đối với khí hậu
Nam Bộ. Mặt thuận lợi là dư thừa ánh sáng tự nhiên, nhưng đi kèm đó là cường độ
bức xạ mặt trời b
Nhà ở cao tầng
Nhà ở cao tầng hay còn được gọi là chung cư cao tầng, là loại nhà ở phục vụ
cho nhiều hộ gia đình. Mỗi gia đình sống biệt lập trong từng căn hộ riêng, chung hệ
thống cầu thang và các dịch vụ công cộng khác.
23
Hình 1.4. Chung cư Phú Mỹ Hưng
Đặc điểm quan trọng của nhà ở cao tầng là phục vụ số đông cộng đồng dân
cư đô thị, vì vậy để đảm bảo chiến lược phát triển cư trú, nhà ở cao tầng trở thành
biện pháp hữu hiệu hiện nay với khối lượng xây dựng lớn nhất trong các đô thị. Đây
là nơi tập trung tiêu hao năng lượng và sản sinh ô nhi
ễm cho nên mọi giải pháp quy
hoạch và kiến trúc khu ở sẽ tác động tới nhiều người dân cũng như đời sống của họ
cũng như sự phát triển bền vững của đô thị. Hình 1.5. Khu căn hộ cao cấp Cảnh Viên 2 – Phú Mỹ Hưng
Cơ cấu một toà nhà dựa trên từng căn hộ riêng biệt, mỗi căn hộ là một tập
hợp các không gian - diện tích phục vụ sinh hoạt của một gia đình; có hệ thống giao
24
thông chung (giao thông đứng gồm thang máy, thang bộ, thang thoát hiểm và giao
thông ngang gồm hành lang, sảnh tầng); có hệ thống kỹ thuật chung cho toàn toà
nhà (cấp điện, cấp - thoát nước, điều hoà không khí, cấp gas, thoát rác tập trung,
phòng cháy - chữa cháy, thông tin liên lạc…).
Không gian chức năng chính của nhà ở cao tầng bao gồm 2 phần:
- Khu ở: một khối nhà ở có thể có 1 hay nhiều đơn nguyên lắp ghép với
nhau. Trong 1 đơn nguyên bao gồm các căn hộ hoàn chỉnh, độc lập, riêng biệt và
khép kín
trường sinh thái.
Trong các chung cư như vậy chắc chắn không thể tạo được một môi trường
vi khí hậu tự nhiên tiện nghi cho sức khoẻ của người dân, và giải pháp bắt buộc là
có sự can thiệp của thiết bị nhân tạo.
Theo kết quả khảo sát, nhà ở cao tầng có điểm ưu việt hơn so với các dạng
nhà cao tầng khác là có các không gian bán lộ thiên, cụ thể là lôgia, ban công của
mỗi căn hộ tạo nên các không gian chuyển tiếp giữa bên ngoai và bên trong công
trình. Một đặc điểm nữa là đã có một số khối nhà tạo được các ống (theo chiều
đứng) và các lỗ thông gió (theo chiều ngang) bên trong và bên ngoài công trình. Hệ
thống các ống - lỗ thông gió này góp phần tăng sự
đối lưu không khí và nhiệt lượng
tạo được hiệu quả rất cao về mặt sử dụng năng lượng cũng như tạo cảm giác gần gũi
với thiên nhiên cho người dân sống tại đây vì đây cũng chính là những không gian
mở để gặp gỡ, giao tiếp.
1. Ống - lỗ thông gió ngoài (khe thông gió)
Hình 1.6. Nhà ở NO3 - Nam Trung Yên 26
Ống - lỗ thông gió ngoài làm cho nhà ở tăng diện tích mặt đứng tiếp xúc trực
tiếp với thiên nhiên, tạo sự đổ bóng (chiếu sáng gián tiếp các không gian bên trong)
và tạo các không gian hút và hướng gió (bẫy gió) trên mặt đứng công trình.
Bố cục tổng hợp các căn hộ quay xung quanh trục giao thông đứng với nhiều
hướng khác nhau. Nói cách khác, không gian giao thông đứng đóng vai trò lõi
xương sống nâng đỡ các sàn, các căn hộ bám quanh lõi này và phần không gian
(trống) giữa các căn hộ là các khe thông gió. Các khe thông gió nếu thẳng hàng với
nhau theo phương đứng sẽ tạo nên các ống - lỗ thông gió ngoài. Với giao thông
ngang, hành lang mở tới đâu căn hộ bám vào tới đó.
2. Ống - lỗ thông gió trong (giếng trời)