BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
VIỆN ĐÁNH GIÁ KHOA HỌC VÀ ĐỊNH GIÁ CÔNG NGHỆ
BÁO CÁO TỔNG KẾT
Đề tài nghiên cứu cấp Bộ:
NGHIÊN CỨU PHƢƠNG PHÁP TIẾP CẬN ĐÁNH GIÁ
TỔ CHỨC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VÀ ĐỀ XUẤT
PHƢƠNG ÁN ĐÁNH GIÁ PHÙ HỢP VỚI VIỆT NAM
Chủ nhiệm đề tài: TS. Phạm Xuân Thảo
(TS. Tạ Doãn Trịnh)
việc đạt được các mục tiêu của đề tài.
Chúng tôi xin bày tỏ sự cảm ơn đến một số nhà khoa học (của các trường
thành viên thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội,
một số Viện nghiên cứu thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam và của
một số đơn vị nghiên cứu khác) đã nhiệt tình tham gia vào các hoạt động đánh
giá, tư vấn và đóng góp ý kiến bình luận quí báu và bổ ích để chúng tôi hoàn
thành tốt các nội dung của đề tài.
3
MỤC LỤC
TÓM TẮT CHÍNH 5
PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU 13
1. Lý do thực hiện đề tài 13
2. Mục tiêu, đối tượng và phương pháp nghiên cứu 15
3. Phạm vị và các khái niệm 16
4. Nội dung nghiên cứu 17
PHẦN II: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 20
Chƣơng 1. Tổng quan về phƣơng pháp luận và cách tiếp cận đánh
giá tổ chức khoa học và công nghệ 20
1.1. Tính đa dạng về mục đích và đối tượng đánh giá 20
1.2. Quy trình, phương pháp và tiêu chí đánh giá tổ chức khoa
học và công nghệ 27
Chƣơng 2. Thực trạng phân loại các tổ chức khoa học và công nghệ
ở Việt Nam và đề xuất việc phân nhóm khi đánh giá 31
2.1. Nghiên cứu lựa chọn phương án phân nhóm các tổ chức khoa học
và công nghệ ở Việt Nam khi đánh giá 31
2.2. Đặc trưng cơ bản của các nhóm tổ chức khoa học và công nghệ 36
2.3. Các vấn đề cơ bản cần lưu ý khi đề xuất phương pháp luận đánh
giá các tổ chức khoa học và công nghệ ở Việt Nam 39
công nghệ và đề xuất các phương án đánh giá phù hợp với Việt Nam” đã được
thiết kế và thực hiện như một nghiên cứu mang tính chất khai phá, mở đường
cho hoạt động đánh giá các tổ chức khoa học và công nghệ ở Việt Nam với quy
trình tương hợp với quốc tế.
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm mục tiêu: (1) tổng quan và phân tích
được các vấn đề cơ bản về phương pháp luận tiếp cận đánh giá các tổ chức
KH&CN; và (2) đề xuất được phương án đánh giá các tổ chức khoa học và công
nghệ ở Việt Nam (phương pháp, quy trình và tiêu chí đánh giá phù hợp với các
nhóm đối tượng).
Nhóm nghiên cứu đã tiếp cận đối tượng theo phương thức: đi từ nghiên cứu
lý thuyết/ các vấn đề cơ bản của đánh giá tổ chức khoa học và công nghệ phối
hợp với việc phân tích thực trạng các tổ chức khoa học và công nghệ ở Việt
Nam, sau đó, đề xuất phương pháp, quy trình và tiêu chí đánh giá phù hợp và
cuối cùng là đánh giá thử một số tổ chức để điều chỉnh phương pháp luận đã đề
xuất cho phù hợp với thực tiễn.
Nghiên cứu đã được thực hiện với các nội dung theo logic như sau: (1)
Nghiên cứu cách tiếp cận đánh giá tổ chức khoa học và công nghệ qua kinh
nghiệm thực hành đánh giá tổ chức khoa học và công nghệ của một số nước; (2)
Nghiên cứu, phân tích các yêu cầu đối với việc đánh giá các tổ chức khoa học và
công nghệ ở Việt Nam hiện nay; (3) Nghiên cứu, đề xuất phương án đánh giá tổ
chức khoa học và công nghệ ở Việt Nam; và (4) Kiểm nghiệm tính thực tiễn của
phương pháp luận đã đề xuất (bằng cách đánh giá thử một số tổ chức khoa học
và công nghệ) và điều chỉnh cho phù hợp. Các kết quả nghiên cứu lần lượt được
tóm tắt dưới đây:
6
Từ việc tìm hiểu kinh nghiệm thực hành đánh giá tổ chức khoa học và công
nghệ của một số nước, nhóm nghiên cứu đã nhận thấy rằng không thể có một
mô hình hay một quy trình mẫu nào là “khuôn vàng thước ngọc” dùng để “đo ni
đóng cột” áp dụng đánh giá mọi tổ chức khoa học và công nghệ.
công nghệ là để hiểu giá trị đích thực và xem xét ý nghĩa ứng dụng của các kết
quả mà tổ chức tạo ra. Nếu như đánh giá hoạt động nghiên cứu của một nhà
khoa học là xem xét sự đóng góp đích thực của nhà khoa học đó cho việc phát
triển hướng nghiên cứu họ đang theo đuổi, thì nhìn xa hơn, việc đánh giá năng
lực và hoạt động của những tổ chức khoa học và công nghệ là một yêu cầu bức
thiết phục vụ việc xây dựng các quyết định về chiến lược phục vụ phát triển
khoa học và công nghệ cho những tổ chức đó. Bên cạnh đó, việc đánh giá hoạt
động của tổ chức khoa học và công nghệ cũng có ý nghĩa đối với sự tồn tại của
chính tổ chức đó. Chính vì vậy, kết quả đánh giá các tổ chức khoa học và công
nghệ thường được sử dụng cho các đối tượng sau:
Cơ quan quản lý Nhà nước về khoa học và công nghệ để tham khảo
khi phân bổ các nguồn lực cho hợp lý và có cách tổ chức lại các cơ
quan yếu kém;
Chính bản thân tổ chức được đánh giá để họ nhận ra những điểm
mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của tổ chức mình trong cộng
đồng khoa học và công nghệ quốc gia và quốc tế, để họ có hướng
hoàn thiện tổ chức và điều chỉnh phương hướng hoạt động cho phù
hợp với yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội;
Đối với công chúng thì việc đánh giá các tổ chức khoa học và công
nghệ là cơ hội để Nhà nước giải trình với công chúng về việc hiệu
quả sử dụng các nguồn lực của quốc gia cho sự nghiệp phát triển
khoa học và công nghệ của đất nước.
Thông thường, có hai loại hình đánh giá là tự đánh giá và đánh giá từ bên
ngoài. Việc tự đánh giá thường được thực hiện hàng năm hoặc 2 năm một lần
theo cách thức được Nhà nước quy định và báo cáo lên các cấp quản lý ở trên.
Còn đánh giá từ bên ngoài thường được tiến hành khi có đề xuất, hoặc theo chu
8
kỳ 4-5 năm một lần với một tổ chuyên gia do Nhà nước thành lập. Khi cần thiết,
đánh giá từ bên ngoài có thể sử dụng cả chuyên gia nước ngoài tham gia đánh
Với những đặc điểm nêu trên, việc nghiên cứu đề xuất phương pháp, quy
trình và tiêu chí đánh giá hoạt động của tổ chức khoa học và công nghệ ở Việt
Nam trong nghiên cứu này được hiểu là việc tìm ra cách thức để xem xét một
cách hệ thống và khách quan về tính phù hợp của mục tiêu, tính hiệu quả, hiệu
suất và tính bền vững về hoạt động và chất lượng kết quả hoạt động của các tổ
chức khoa học và công nghệ ở Việt Nam.
Nhóm nghiên cứu đã đề xuất quy trình khung, áp dụng để đánh giá hoạt
động của các tổ chức khoa học và công nghệ ở Việt Nam gồm các bước ứng với
các nội dung cơ bản sau: (B1) Thiết kế đánh giá – xác định mục tiêu, đối tượng,
phạm vi, tiêu chí và các chỉ số đánh giá; (B2) Lập hồ sơ đánh giá – thông tin đầy
đủ về hoạt động của tổ chức, báo cáo tự đánh giá từ tổ chức (cơ quan đánh giá
yêu cầu tổ chức thực hiện tự đánh giá bởi Hội đồng Khoa học của tổ chức); (B3)
Hội đồng chuyên gia đánh giá từ bên ngoài – đánh giá hiện trường và họp đánh
giá.
Căn cứ vào thực trạng về tổ chức hoạt động và các chính sách đối với hoạt
động của các tổ chức khoa học và công nghệ ở Việt Nam hiện nay, tìm kiếm sự
hợp tác của các tổ chức khoa học và công nghệ với công tác đánh giá là khó
khăn. Đặc biệt là việc tự đánh giá của bản thân các tổ chức rất khó được thực
hiện một cách hiệu quả. Do vậy, trong quy trình đánh giá, bước tự đánh giá có
thể được thay thế bằng việc cung cấp thông tin đầy đủ, chi tiết về hoạt động của
bản thân tổ chức (theo yêu cầu của cơ quan đánh giá - Viện Đánh giá khoa học
và Định giá công nghệ) và đồng thời, tăng cường vai trò của công tác đánh giá
hiện trường (site-visit) và tìm kiếm sự công tác của (các/một số thành viên
trong) Hội đồng khoa học của tổ chức khi duyệt báo cáo kết quả đánh giá.
Qua phân tích hiện trạng của các tổ chức khoa học và công nghệ ở Việt
Nam trên quan điểm của người đánh giá, nhóm nghiên cứu nhận thấy: với mục
10
tiêu đánh giá hoạt động của các tổ chức khoa học và công nghệ phổ biến ở Việt
Nam, cách tối ưu là phân chia các tổ chức khoa học và công nghệ thành 3 nhóm
năng tăng cường cơ sở vật chất và điều kiện làm việc vì nỗ lực đạt được
mục tiêu cuối cùng của tổ chức.
Tiêu chí 3 - Xem xét thành tựu và kết quả (trong 5 năm lại đây): Sự gắn
kết với mục tiêu; Đóng góp cho sự phát triển lĩnh vực KH&CN liên
quan; Đóng góp cho sự phát triển kinh tế - xã hội.
Nghiên cứu này đưa ra quy trình, phương pháp và các tiêu chí, chỉ số đánh
giá cơ bản. Đối với mỗi đối tượng cụ thể - khi đánh giá một tổ chức khoa học và
công nghệ cụ thể - cần căn cứ vào một số đặc trưng riêng của tổ chức đó mà có
sự điều chỉnh các tiêu chí nhỏ, các câu hỏi đánh giá tương ứng và các trọng số
đối với các tiêu chí tương ứng cho phù hợp. Các đặc trưng riêng có thể phải xét
đến bao gồm: loại hình nghiên cứu (nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và
phát triển công nghệ); lĩnh vực nghiên cứu (khoa học tự nhiên, khoa học kỹ
thuật – công nghệ, khoa học xã hội và nhân văn, khoa học Y- dược và khoa học
nông nghiệp); giai đoạn phát triển của tổ chức (đang hoạt động trong giai đoạn
sơ khai hay giai đoạn tìm kiếm hỗ trợ để làm chủ được lĩnh vực hoạt động của
mình, hay là giai đoạn hoàn toàn làm chủ kết quả hoạt động).
Nhóm nghiên cứu cho rằng kết quả của đề tài là tài liệu tham khảo bổ ích
trong việc phát triển công tác đánh giá tổ chức khoa học và công nghệ, góp phần
hỗ trợ việc hiện thực hóa một số mục tiêu và nhiệm vụ đã được đề ra trong
Quyết định 1244/QĐ-TTg do Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 25/7/2011 về
việc phê duyệt phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ khoa học và công nghệ chủ
yếu giai đoạn 2011-2015. Các mục tiêu và nhiệm vụ đó là: (1) Mục tiêu số 2:
“Hình thành 10 tổ chức nghiên cứu cơ bản trong các trường đại học trọng điểm
quốc gia có đủ tiêu chuẩn và điều kiện hội nhập được với khu vực và thế giới”;
(2) Mục tiêu số 4: “Hình thành 30 tổ chức nghiên cứu và phát triển có cơ sở vật
chất, thiết bị hiện đại và năng lực nghiên cứu mạnh để giải quyết những vấn đề
lớn của quốc gia, đạt trình độ tiên tiến của khu vực và thế giới”; (3) Nhiệm vụ 1
12
– đ: “Tổ chức đánh giá độc lập kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công
động của các ngành kinh tế, xã hội; chậm đưa vào ứng dụng những kết quả
nghiên cứu được; trình độ KH&CN của nước ta còn thấp nhiều so với các nước
xung quanh; năng lực tạo ra công nghệ mới còn rất hạn chế. Các cơ quan
nghiên cứu khoa học chậm được sắp xếp đồng bộ, còn phân tán, thiếu phối hợp,
do đó đạt hiệu quả thấp. Các viện nghiên cứu và các doanh nghiệp, các trường
đại học chưa gắn kết với nhau. Việc đầu tư cở sở vật chất - kỹ thuật thiếu tập
trung và dứt điểm cho từng mục tiêu. Cán bộ KH&CN có trình độ cao còn ít,
song chưa được sử dụng tốt”. Và một trong những giải pháp hàng đầu cho đổi
mới cơ chế quản lý KH&CN được đề ra là phải đổi mới cơ chế quản lý và hoạt
động của các tổ chức KH&CN để sắp xếp lại tổ chức và thực hiện đánh giá định
kỳ các tổ chức, tạo điều kiện thuận lợi phát huy tối đa tính chủ động, sáng tạo
và nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức, cá nhân hoạt động KH&CN.
14
Đối với Việt Nam, việc đánh giá các tổ chức KH&CN là một vấn đề mới,
chưa được đề cập một cách có hệ thống. Các tổ chức KH&CN được hình thành
trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ (tạm gọi là sứ mệnh) riêng, do đó, việc biết mức
độ thực hiện sứ mệnh của nó đến đâu, như thế nào là cần thiết. Tuy nhiên, đánh
giá tổ chức KH&CN ở Việt Nam mới chỉ dừng lại ở các báo cáo tổng kết định
kỳ và báo cáo hành chính hoặc là đánh giá các ví dụ điển hình của cơ sở nghiên
cứu như những kết quả nổi bật. Sự vận hành, quản lý của các tổ chức KH&CN
nước ta cũng chưa được xem xét một cách hệ thống. Hơn nữa, việc gắn kết kết
quả nghiên cứu với kế hoạch đầu tư của nhà nước đối với các tổ chức KH&CN
vẫn chưa chặt chẽ. Do vậy, kết quả đánh giá rất khó sử dụng trong việc điều
hành, phân bổ nguồn lực (đầu tư, nhân lực, phối hợp các đơn vị) và hoạt động
đánh giá chưa có tác dụng như là một công cụ hữu hiệu phục vụ quản lý. Như
vậy, chúng ta cần phải khẩn trương xem xét một cách hệ thống và khách quan về
tính phù hợp của mục tiêu, tính hiệu quả, hiệu suất, tác động và tính bền vững về
hoạt động của các tổ chức KH&CN.
Hệ thống các tổ chức KH&CN rất đa dạng - các tổ chức KH&CN không
2. Mục tiêu, đối tƣợng và phƣơng pháp nghiên cứu
Mục tiêu của đề tài là: Tổng quan, phân tích được các vấn đề cơ bản tiếp
cận đánh giá các tổ chức KH&CN. Sau đó, đề xuất được phương án đánh giá các
tổ chức khoa học và công nghệ phù hợp với Việt Nam.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Kết hợp phương pháp tiếp cận
định tính và định lượng khi đề xuất các phương án đánh giá các tổ chức khoa học
và công nghệ phù hợp với điều kiện của Việt Nam và tương hợp với quốc tế. Sử
dụng phương pháp thu thập, phân tích thông tin, dữ liệu, lấy ý kiến chuyên gia
trong quá trình đề xuất phương án đánh giá tổ chức khoa học và công nghệ ở
Việt Nam. Tiếp cận các tài liệu, văn bản trong nước và quốc tế kết hợp với
nghiên cứu thực tế để phân loại các tổ chức KH&CN.
Trong nghiên cứu này, chúng tôi xác định việc tiếp cận đối tượng theo
phương thức: Đi từ nghiên cứu lý thuyết/ các vấn đề cơ bản của đánh giá tổ chức
16
khoa học và công nghệ phối hợp với việc phân tích thực trạng các tổ chức khoa
học và công nghệ ở Việt Nam. Sau đó, Đề xuất phương pháp, quy trình và tiêu
chí đánh giá phù hợp. Cuối cùng là tiến hành đánh giá thử một số tổ chức để điều
chỉnh phương pháp luận đã đề xuất cho phù hợp với thực tiễn.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là xem xét, phân tích phương pháp luận
chung về đánh giá tổ chức khoa học và công nghệ và làm rõ việc áp dụng
phương pháp, quy trình và tiêu chí đánh giá tổ chức khoa học và công nghệ ở
Việt Nam như thế nào cho phù hợp.
3. Phạm vị và các khái niệm
Trong nghiên cứu này, chúng tôi tiến hành nghiên cứu và đề xuất phương
pháp, quy trình và các tiêu chí khung để đánh giá hoạt động của các tổ chức
khoa học và công nghệ ở Việt Nam. Các khía cạnh liên quan đến hoạt động của
tổ chức khoa học và công nghệ sẽ được xem xét/đánh giá bao gồm: (1) chức
như sơ đồ hình 1 dưới đây:
18
Tìm hiểu phương pháp luận
đánh giá tổ chức khoa học và
công nghệ của một số nước
Xem xét thực trạng hoạt động của
các tổ chức khoa học và công
nghệ ở Việt Nam
Phân tích, so sánh điểm mạnh, điểm yếu
của các quy trình đánh giá và khả năng áp
dụng ở Việt Nam Đề xuất phương án đánh giá (phương
pháp, quy trình và tiêu chí đánh giá) hoạt
động của các tổ chức khoa học và công
nghệ ở Việt Nam
PHẦN II: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Chƣơng 1. Tổng quan về phƣơng pháp luận và cách tiếp cận đánh giá tổ
chức khoa học và công nghệ
1.1. Tính đa dạng về mục đích và đối tƣợng đánh giá
1.1.1. Tính đa dạng về mục đích đánh giá
Nghiên cứu thực tiễn công tác đánh giá tổ chức khoa học và công nghệ ở
một số nước cho thấy: khi xác định các mục đích đánh giá khác nhau, thì hệ quả
tất yếu phải dẫn đến là các tiêu chí và quy trình đánh giá sẽ khác nhau. Thật vậy:
Tây Ban Nha là nước có truyền thống đã từng thực hiện việc đánh giá các
viện nghiên cứu rất bài bản từ rất lâu. Gần đây, năm 2007, Tây Ban Nha đã ban
hành quy định về đánh giá các viện nghiên cứu
4, 10
, nhiều nước có thể học tập.
Trong đó, mục đích chính của việc đánh giá một viện nghiên cứu là để: (1) đóng
góp vào việc cân nhắc và quyết định sứ mệnh của các viện; (2) cung cấp dữ liệu
cho việc thiết lập tầm nhìn và các ưu tiên cho chính sách chiến lược của nó;
(3)giúp xây dựng các nguồn lực của viện một cách hiệu quả; và (4) nâng cao
chất lượng và khai báo hiệu quả hoạt động và sự hoàn thành mục tiêu của viện
như đã đặt ra trong kế hoạch chiến lược. Việc đánh giá các viện nghiên cứu ở
Tây Ban Nha khá bài bản, nó được phân loại theo các giai đoạn khác nhau (đánh
giá trước, đánh giá bám đuổi hay đánh giá sau), theo những người tham gia đánh
giá (bên trong và bên ngoài), và theo mục đích hướng tới (là đơn lẻ hay tổng
thể). Và dù có phân loại như thế nào thì việc đánh giá các viện nghiên cứu cũng
vẫn phải xét tới 3 tiêu chí cơ bản là: (1) Cơ cấu: tập trung vào việc xác định
năng lực tương lai hoặc triển vọng, cùng với việc xem xét bối cảnh và các cơ hội
sẵn sàng để viện có thể phát triển. Các khía cạnh được phân tích bao gồm: trình
độ nghiên cứu của các cán bộ (năng lực, kinh nghiệm và khả năng thích ứng,
…); năng lực công nghệ (đánh giá trang thiết bị, việc thử nghiệm, phần mềm,
và trao thưởng cho các viện xuất sắc. Giai đoạn 1996-1998, để thúc đẩy việc
nâng chất lượng quản lý của các tổ chức nghiên cứu, đồng thời nâng cao chất
lượng nghiên cứu, Hàn Quốc thực hiện đánh giá theo 2 bước (tự đánh giá và Bộ
KH&CN đánh giá hàng năm) rất chặt chẽ. Từ năm 1999-2004 và đến nay, Hàn
22
Quốc áp dụng hệ thống quản lý mới – Hội đồng nghiên cứu của các tổ chức thực
hiện việc tự đánh giá, sau đó Hội đồng nghiên cứu của Bộ KH&CN sẽ đánh giá
để thiết lập thứ tự các tổ chức và có sự khuyến khích, thưởng cho các tổ chức có
thành tích tốt qua các chính sách hỗ trợ tài chính đặc biệt. Qua các giai đoạn
phát triển khác nhau của các tổ chức nghiên cứu, Hàn Quốc đã áp dụng phương
pháp luận đánh giá khác nhau. Tuy nhiên, một số đặc trưng chung như sau:
- Mục tiêu đánh giá là để đẩy mạnh, nâng cao tính cạnh tranh cũng như
thiết lập vai trò, định hướng chuyên môn của các viện theo tiêu chuẩn quốc tế.
Cụ thể là: (1) nâng cao năng suất nghiên cứu thông qua việc phát triển thành tích
đề tài/dự án; (2) đào tạo một cách có chủ định; (3) tăng cường hiệu quả điều
hành thông qua việc liên tục cải cách quản lý.
- Tiêu chí được đặt lên hàng đầu là thành tích (kết quả) nghiên cứu của các
tổ chức.
- Các kết quả đánh giá được sử dụng để: (1) làm tài liệu điều chỉnh kế
hoạch ngân sách; (2) phản ánh và thanh tra thực chất và đưa ra yêu cầu cải tiến;
(3) thưởng cho thủ trưởng đơn vị; và (4) xây dựng chiến lược phát triển lâu dài
các tổ chức nghiên cứu – là kim chỉ nam cho công tác điều hành nhằm nâng cao
hiệu quả.
Đối với Mỹ
7, 12, 22
, việc ban hành và áp dụng bộ luật GPRA - Government
Performance and Results Act – 1993 để đánh giá các tổ chức nghiên cứu, đặc
biệt là các tổ chức nghiên cứu trực thuộc chính phủ đã đóng góp đáng kể cho
việc nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống quản lý và đánh giá các tổ chức
thuộc, nhờ đó mà tổ chức của họ vươn lên nhanh chóng, như trường hợp của
CAS - Viện Khoa học Trung Quốc chẳng hạn
19
. Về mặt chiến lược, đánh giá các
viện nghiên cứu ở CAS là xếp hạng các viện nghiên cứu để thiết lập cơ chế cạnh
tranh, thúc đẩy phát triển. Cụ thể là tạo môi trường cạnh tranh về KH&CN, cung
cấp bằng chứng cho việc điều chỉnh chính sách, phân bổ nguồn lực và trả lời các
câu hỏi về hiệu quả của đầu tư KH&CN khối công. Qua các báo cáo đánh giá
các viện nghiên cứu ở CAS với các mô hình đánh giá qua các thời kỳ phát triển:
"Blue Cover Report" năm 1998; "White Cover Report" năm 2001 và "Yellow
24
Cover Report" năm 2004, chúng ta có thể nhận thấy một số đặc điểm khác nhau
ở các khía cạnh: (1) cách xác định mục tiêu và nội dung cơ bản của mô hình
đánh giá phù hợp với giai đoạn phát triển của các viện nghiên cứu thuộc CAS;
(2) cách thiết lập các tiêu chí, các chỉ số và cách xác định các trọng số đối với
mỗi chỉ số sao cho phù hợp; và (3) cách thức đánh giá phù hợp với mỗi mô hình
đánh giá ở mỗi giai đoạn.
Đối với việc đánh giá các đại học nghiên cứu, Hà Lan là một nước điển
hình với hệ thống đánh giá đại học được bắt đầu vào năm 1988 và bắt đầu thực
hiện đánh giá nghiên cứu vào năm 1993
5
. Cứ 3 năm một lần, các đơn vị nghiên
cứu công ở Hà Lan phải trình ra một bản tự đánh giá. Mục đích của nó vừa là để
chuẩn bị cho một đánh giá bên ngoài vừa là để đánh giá bên trong giữa kỳ (ví dụ
mỗi trường đại học có một đánh giá bên ngoài 6 năm một lần). Đánh giá bên
ngoài được thực hiện bởi ủy ban xét duyệt quốc tế, và thường sử dụng phương
pháp thư viện trắc lượng.
Hệ thống đánh giá hướng tới 3 mục tiêu liên quan tới nghiên cứu và quản lý
nghiên cứu như sau: