TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY NGUYÊN
KHOA KINH TÊ
BÀI GIẢNG MÔN
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
KINH TẾ
Ts. Lê Đức Niêm
NĂM 2011
i
Chương I:
Chương I 1
KHÁI QUÁT VỀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 1
1.1 Một số vấn đề cơ bản 1
1.1.1 Khoa học 1
1.1.2 Nghiên cứu khoa học 3
1.1.3 Phương pháp nghiên cứu khoa học 4
1.2 Quá trình nghiên cứu khoa học: 6
1.2.1 Xác định đề tài nghiên cứu 7
1.2.2 Xây dựng đề cương nghiên cứu 7
1.2.3 Tổ chức công tác nghiên cứu 10
1.2.4 Công bố kết quả nghiên cứu 11
Chương II 11
SUY LUẬN KHOA HỌC 11
2.1. Lý thuyết khoa học 11
2.1.1 Lý thuyết khoa học 11
2.1.2 Thế nào là “khái niệm” 11
2.1.3 Mối quan hệ giữa các khái niệm 12
2.2. Giả thuyết nghiên cứu (hypothesis) và phương pháp suy luận 12
2.2.1 Phán đoán 12
2.2.2 Suy luận 12
2.3. Cấu trúc của phương pháp luận nghiên cứu khoa học 14
4.4.1 Xác định đề tài nghiên cứu 34
4.4.2 Xây dựng đề cương nghiên cứu 35
iii
Chương I
KHÁI QUÁT VỀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
1.1 Một số vấn đề cơ bản
1.1.1 Khoa học.
Hiện nay có rất nhiều cách hiểu về khái niệm khoa học xuất phát từ nhiều cách tiếp cận khác nhau.
• Quan điểm xem khoa học là một hệ thống tri thức:
Theo quan điểm này, “khoa học bao gồm một hệ thống tri thức về qui luật của vật chất và sự vận
động của vật chất, những qui luật của tự nhiên, xã hội, và tư duy”.
1
Hệ thống tri thức này là hệ thống tri thức khoa học, hình thành trong lịch sử và không ngừng phát
triển trên cơ sở thực tiễn xã hội.
Khi nói đến tri thức khoa học chúng ta cần phân biệt nó với tri thức kinh nghiệm
- Tri thức kinh nghiệm: là những hiểu biết được tích lũy qua hoạt động sống hàng ngày trong mối quan hệ
giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên.
- Tri thức khoa học: là những hiểu biết được tích lũy một cách có hệ thống nhờ hoạt động NCKH, các hoạt
động này có mục tiêu xác định và sử dụng phương pháp khoa học.
Không giống như tri thức kinh nghiệm, tri thức khoa học dựa trên kết quả quan sát, thu thập được qua
những thí nghiệm và qua các sự kiện xảy ra ngẫu nhiên trong hoạt động xã hội, trong tự nhiên. Tri thức khoa
học được tổ chức trong khuôn khổ các ngành và bộ môn khoa học (discipline) như: triết học, sử học, kinh tế
học, toán học, sinh học…
2
• Khoa học là một hoạt động xã hội
Với tư cách là một hoạt động xã hội, khoa học hướng vào các mục tiêu sau:
Phát hiện bản chất các sự vật, phát triển nhật thức về thế giới
Dự báo quá trình phát triển của sự vật, hiện tượng
Sáng tạo ra các sự vật mới phục vụ cho các mục tiêu tồn tại và phát triển của con người.
- Có một lịch sử nghiên cứu.
Ta có thể phân loại khoa học theo các tiêu thức sau:
• Theo phương pháp hình thành:
+ Khoa học tiền nghiệm (được hình thành trên cơ sở tiên đề hay hệ tiên đề: Hình học ).
+ Khoa học hậu nghiệm: Được hình thành trên cơ sở quan sát thực nghiệm: Khoa học xã hội, kỹ thuật
trồng trọt, kỹ thật chăn nuôi.
• Theo đối tượng nghiên cứu của khoa học:
+ Khoa học tự nhiên.
+ Khoa học xã hội.
+ Khoa học kỹ thuật.
+ Khoa học nhân văn.
• Theo cơ cấu kiến trúc:
+ Khoa học cơ bản.
+ Khoa học cơ sở.
+ Khoa học chuyên môn.
2
1.1.2 Nghiên cứu khoa học.
Nghiên cứu khoa học là quá trình hoạt động nhằm hình thành các hiểu biết khoa học để nhận thức và biến
đổi thế giới khách quan.
4
Nghiên cứu khoa học là một hoạt động tìm kiếm, xem xét, điều tra, hoặc thử nghiệm nhằm phát hiện bản chất
sự vật hay nhận thức về thế giới. Cái đạt được từ các NCKH là cái mới về bản chất sự vật, về thế giới tự
nhiên và xã hội hay việc sáng tạo phương pháp và phương tiện kỹ thuật mới cao hơn, giá trị hơn.
Con người muốn làm NCKH phải có kiến thức nhất định về lãnh vực nghiên cứu và cái chính là phải rèn
luyện cách làm việc khoa học, có phương pháp ngay ở trường học.
a. Mục đích của nghiên cứu khoa học.
- Nhận thức thế giới khách quan:
+ Phát hiện các thuộc tính, bản chất của sự vật, hiên tượng, các mối quan hệ.
+ Phát hiện quy luật vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng.
- Cải tạo và biến đổi thế giới khách quan:
nguyên lý và giải pháp trong điều kiện ứng dụng cụ thể.Tuy nhiên, kết quả của nghiên cứu ứng dụng thì chưa
ứng dụng được.Để có thể đưa kết quả nghiên cứu ứng dụng vào thực tiễn còn phải tiến hành nghiên cứu triển
khai.
- Nghiên cứu triển khai: là vận dụng các qui luật từ kết quả nghiên cứu ứng dụng và các nguyên lý
thu được từ nghiên cứu triển khai để xây dựng mô hình trong thực tiễn.
•
Đối với nghiên cứu triển khai, cần chú ý:
+ Các nguyên lý và các giải pháp của nghiên cứu triển khai vừa phải đảm bảo tính khoa học, nhưng
phải khả thi (khả thi về kỹ thuật và tài chính).
+ Các nguyên lý và các giải pháp của nghiên cứu triển khai vừa phải đảm bảo sự phát triển trước mắt
nhưng phải ổn định và bền vững về lâu dài. Muốn vậy cần phải kết hợp chặt chẽ giữa kinh tế với xã hội và
môi trường.
1.1.3 Phương pháp nghiên cứu khoa học.
Phương pháp nghiên cứu khoa học là tập hợp tất cả những biện pháp, cách thức để nhận thức hiện
tượng và sự vật.
5
Cơ sở để xây dựng lên các phương pháp nghiên cứu khoa học gọi là phương pháp luận nghiên cứu
khoa học. Đó là học thuyết về các phương pháp nghiên cứu khoa học, là cơ sở lý luận để xây dựng phương
pháp, hình thành các giải pháp trong tất cả các giai đoạn của hoạt động nghiên cứu khoa học.
Cơ sở của phương pháp luận nghiên cứu khoa học là triết học Mác Lênin, bao gồm Chủ nghĩa duy vật biện
chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử, mà một số quan điểm cơ bản có liên quan tới nghiên cứu khoa học là:
- Xem xét sự vật không phải trong trạng thái tĩnh mà trong trạng thái vận động, biến đổi và phát triển
không ngừng.
- Xem xét sự vật không phải trong trạng thái cô lập mà trong mối quan hệ ràng buộc lẫn nhau.
- Coi sự phát triển của hiện tượng là sự thay đổi dần dần từ số lượng sang sự thay đổi về chất lượng.
- Coi sự phát triển của hiện tượng là sự thống nhất và đấu trnh giữa các mặt đối lập.
5
Tô Dũng Tiến (2005).
4
- Coi thực tiễn là cơ sở, là động lực của nhận thức và là tiêu chuẩn để kiểm tra nhận thức.
- Tiến hành thu thập tài liệu về số lượng và chất lượng qua các thực nghiệm.
- Xử lý thông tin thu thập được.
5
- Tiến hành phân tích và rút ra các kết luận khoa học.
-Áp dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn.
Phương pháp thực nghiệm có tác dụng là rút ra được các kết luận có độ chính xác cao. Tuy nhiên
trong lĩnh vực kinh tế – xã hội, phương pháp này áp dụng có những hạn chế nhất định do tất cả các yếu tố
đều thay đổi nên rất khó cố định các yếu tố không cần nghiên cứu trong thực nghiệm.
- Phương pháp nghiên cứu phi thực nghiệm: Ngoài hai phương pháp trên, trong nghiên cứu khoa học,
người ta còn áp dụng phương pháp điều tra, khảo sát, mô tả. Đó là phương pháp nghiên cứu phi thực nghiệm.
Trong nghiên cứu kinh tế thường áp dụng phương pháp phi thực nghiệm.
Trên cơ sở phương pháp nghiên cứu khoa học nói chung đó, mỗi một khoa học lại có những phương
pháp nghiên cứu cụ thể phù hợp với đặc điểm riêng của bộ môn khoa học đó.
Đối với khoa học kinh tế, có nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau. Trong đó có các phương pháp
nghiên cứu chủ yếu sau:
1.2 Quá trình nghiên cứu khoa học:
Nghiên cứu khoa học là 1 quá trình phức tạp, nó bao gôm nhiều giai đoạn với nhiều công việc cụ thể
khác nhau. Quá trình nghiên cứu khoa học bao gồm các bước:
6
Bước 1: Lựa chọn vấn đề nghiên cứu
Bước 2: Miêu tả vấn đề, làm rõ và nổi bật
câu hỏi nghiên cứu
Bước 3: Thiết kế hay lập kế hoạch nghiên
cứu
Bước 4: Đo lường, thu thập dữ liệu
Bước 5: Phân tích số liệu
Bước 6: Giải thích làm sáng tỏ số liệu
Bước 7: Viết báo cáo kết quả, các kiến
nghị, thông tin cho người khác
Các giai đoạn cụ thể gốm:
7
Khi thuyết minh lý do chọn đề tài, người nghiên cứu cần làm rõ 3 nội dung sau:
- Phân tích được lịch sử nghiên cứu.
- Làm rõ mức độï nghiên cứu của các đồng nghiệp đi trước để chỉ rõ để tài sẽ kế thừa những gì và tiếp
tục nghiên cứu ra sao.
- Giải thích lý do chọn đề tài về lý thuyết cũng như thực tiễn về tính cấp thiết cũng như năng lực
nghiên cứu.
2- Trình bày rõ mục tiêu nghiên cứu.
Khi viết đề cương nghiên cứu, một điều rất quan trọng là làm sao thể hiện được mục tiêu và mục đích
nghiên cứu mà không có sự trùng lấp lẫn nhau. Vì vậy, cần thiết để phân biệt sự khác nhau giữa mục đích và
mục tiêu.
• Mục đích: là hướng đến một điều gì hay một công việc nào đó trong nghiên cứu mà người nghiên cứu
mong muốn để hoàn thành, nhưng thường thì mục đích khó có thể đo lường hay định lượng. Nói cách
khác, mục đích là sự sắp đặt công việc hay điều gì đó được đưa ra trong nghiên cứu. Mục đích trả lời
câu hỏi “nhằm vào việc gì?”, hoặc “để phục vụ cho điều gì?” và mang ý nghĩa thực tiễn của nghiên
cứu, nhắm đến đối tượng phục vụ sản xuất, nghiên cứu.
• Mục tiêu: là thực hiện điều gì hoặc hoạt động nào đó cụ thể, rõ ràng mà người nghiên cứu sẽ hoàn
thành theo kế hoạch đã đặt ra trong nghiên cứu. Mục tiêu có thể đo lường hay định lượng được. Nói
cách khác, mục tiêu là nền tảng hoạt động của đề tài và làm cơ sở cho việc đánh giá kế hoạch nghiên
cứu đã đưa ra, và là điều mà kết quả phải đạt được. Mục tiêu trả lời câu hỏi “làm cái gì?”.
Thí dụ: phân biệt giữa mục đích và mục tiêu của đề tài sau đây.
Đề tài: “Ảnh hưởng của phân N đến năng suất lúa Hè thu trồng trên đất phù sa ven sông ở Đồng Bằng Sông
Cửu Long”.
Mục đích của đề tài: Để tăng thu nhập cho người nông dân trồng lúa.
Ngoài ra có thể có mục đích khác mà tác giả không nói ra. Ví dụ như làm đề tài này để tác giả có công trình
phục vụ cho việc phong học hàm, hay láy bằng tiến sỹ, thạc sỹ…
Mục tiêu của đề tài:
1. Tìm ra được liều lượng bón phân N tối hảo cho lúa Hè thu.
2. Xác định được thời điểm và cách bón phân N thích hợp cho lúa Hè thu.
Lưu ý: Một số tài liệu chia mục tiêu nghiên cứu thành:
6- Xác định nội dung nghiên cứu.
Nội dung nghiên cứu được xác định căn cứ vào mục tiêu nghiên cứu. Việc xác định chính xác nội
dung nghiên cứu không phải là dễ dàng. Nó đòi hỏi người xây dựng đề cương nghiên cứu phải hiểu biết khá
sâu sắc về vấn đề nghiên cứu, đặc biệt là cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài. Để xác định được nội dung
nghiên cứu, điều quan trọng là phải nêu lên được khá chinh xác những giả thuyết cần chứng minh hay bác bỏ
trong qua trình nghiên cứu.
9
Nội dung nghiên cứu được phân chia ra các phần tuỳ theo đề tài nghiên cứu. Thông thường nội dung
nghiên cứu được thiết kế gồm các phần bao quát từ trình bày cơ sở lý luận và thực tiễn đến phân tích thực
trạng tinh hình, tìm nguyên nhân rồi tìm ra định hướng và giải pháp. Mỗi 1 phần lại có nội dung chi tiết phản
ánh từng khía cạnh cụ thể của phần đó (Ví dụ: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH).
7- Lập danh sách cộng tác viên.
Danh sách cộng tác viên bao gồm:
- Người chủ trì.
- Người tham gia.
- Trong số những người tham gia có thể phải xác định người chủ trì từng bộ phận nếu câøn thiết.
8- Xây dựng tiến độ thực hiện đề tài.
Kế hoạch được xây dựng căn cứ vào yêu cầu của cơ quan giao đề tài. Kế hoạch này phải rất chi tiết,
trong đó có mấy bước quan trọng là xây dựng đề cương sơ bộ, xây dựng đề cương chi tiết, thu thập tông tin,
xử lý thông tin, viết báo cáo, nghiệm thu sơ bộ, nghiệm thu chính thức. Kế hoạch tiến độ thường được xây
dựng theo bảng theo mẫu sau:
TT Tên công việc Thời gian tiến hành Địa điểm thực hiện Kết quả dự kiến
1
2
9- Dự toán kinh phí nghiên cứu.
Dự toán kinh phí bao gồm: chi phí lương, chi phí nghiên cứu, chi phí mua sắm tài liệu, trang thiết bị.
Các loại chi phí này thường được hướng dẫn khá chi tiết bởi các cơ quan quản lý.
1.2.3 Tổ chức công tác nghiên cứu.
Quá trình nghiên cứu thường bao gồm các bước sau:
1- Thu thập thông tin.
Dù nghiên cứu khoa học trong bất kỳ lĩnh vực nào, người nghiên cứu cũng đụng chạm với các cơ sở lý thuyết
của khoa học. Lý thuyết là một đặc trưng cơ bản của khoa học, không có lý thuyết thì không có khoa học.
2.1.1 Lý thuyết khoa học
Lý thuyết được xem là “khuôn mẫu” (paradigm) hiểu biết.
6
Đơn giản hơn, lý thuyết còn được xem là
những phát biểu về bản chất sự vật.
Theo Stephen Hawking: “lý thuyết phải thỏa mãn hai đòi hỏi: phải mô tả mạch lạc một lớp lớn các
quan sát trên cơ sở một mô hình gồm một số rất ít các yếu tố tùy hứng, đồng thời phải có thể sử dụng mô
hình ấy để đoán trước các kết quả quan sát trong tương lai”.
2.1.2 Thế nào là “khái niệm”
“Khái niệm” là quá trình nhận thức hay tư duy của con người bắt đầu từ những tri giác hay bằng những quan
sát sự vật hiện thực tác động vào giác quan. Như vậy, “khái niệm” có thể hiểu là hình thức tư duy của con
người về những thuộc tính, bản chất của sự vật và mối liên hệ của những đặc tính đó với nhau.
6
Vũ Cao Đàm (1999).
11
Người NCKH hình thành các “khái niệm” để tìm hiểu mối quan hệ giữa các khái niệm với nhau, để
phân biệt sự vật này với sự vật khác và để đo lường thuộc tính bản chất của sự vật hay hình thành khái niệm
nhằm mục đích xây dựng cơ sở lý luận.
Khái niệm là một trong những đối tượng của logic học và được định nghĩa là một hình thức tư duy
nhằm chỉ rõ bản chất vốn có của sự kiện khoa học. Khía niệm bao gồm hai bộ phận: nội hàm và ngoại diên.
Khái niệm có thể biểu diễn bởi một định nghĩa hoặc không thể định nghĩa được. Định nghĩa chính là
việc tách ngoại diên của khái niệm đó ra khỏi khái niệm gần nó và chỉ rõ nội hàm.
Một khái niệm khoa học không thể hiểu theo nhiều nghĩa.
( Cho ví dụ minh họa)
2.1.3 Mối quan hệ giữa các khái niệm
Lý thuyết khoa học bao gồm những mối quan hệ bản chất của các sự kiện khoa học. Nó có thể là định lý
(toán), định luật (lý), nguyên lý (công nghệ), quy luật (khoa học xã hội)…
2.2. Giả thuyết nghiên cứu (hypothesis) và phương pháp suy luận.
nên Nam chứa các thuộc tính của tổng thể đó.
b) Suy luận qui nạp
Vào đầu những năm 1600s, Francis Bacon đã đưa ra một phương pháp tiếp cận khác về kiến thức khác
phương pháp suy luận của Aristotle. Ông ta cho rằng, để đạt được kiến thức mới phải đi từ thông tin riêng
đến kết luận chung, phương pháp này gọi là phương pháp qui nạp. Phương pháp này cho phép chúng ta dùng
những tiền đề riêng, là những kiến thức đã được chấp nhận, như là phương tiện để đạt được kiến thức mới.
Bảng 2.2 Thí dụ về suy luận qui nạp
Tiền đề riêng: Nam, Bắc, Đông và Tây tham dự lớp đều đặn
Tiền đề riêng: Nam, Bắc, Đông và Tây đạt được điểm cao
Kết luận: Sinh viên tham dự lớp đều đặn thì đạt được điểm cao
Suy luận quy nạp có thể mổ xẻ như sau: cần phải xác định tiền đề chính (gọi là giả thuyết) và sau đó
phân tích các kiến thức có được (nghiên cứu riêng) một cách logic để kết luận giả thuyết.
13
2.3. Cấu trúc của phương pháp luận nghiên cứu khoa học
Nghiên cứu khoa học phải sử dụng phương pháp khoa học:
Phương pháp khoa học bao gồm việc chọn phương pháp thích hợp (hay đó chính là việc xây dựng
luận chứng) để chứng minh mối quan hệ giữa các luận cứ và giữa toàn bộ luận cứ với luận đề.
Phương pháp khoa học cũng liên quan đến cách đặt giả thuyết hay phán đoán sử dụng các luận cứ và
phương pháp thu thập thông tin cũng như xử lý thông tin để xây dựng luận đề.
2.3.1 Luận đề
Luận đề trả lời câu hỏi “cần chứng minh điều gì?” trong nghiên cứu. Như vậy, luận đề thực chất là một
“phán đoán” hay một “giả thuyết” cần được chứng minh.
8
Ví dụ: Ông cha ta có câu: “con hư tại mẹ”
Đây là một luận đề cần phải chứng minh. Để chứng minh luận đề này ta phải tìm kiếm các luận cứ-
đó là chứng cứ khoa học.
2.3.2 Luận cứ
Để chứng minh một luận đề thì nhà khoa học cần đưa ra các bằng chứng hay luận cứ khoa học. Luận cứ bao
gồm các thông tin, tài liệu tham khảo; quan sát và thực nghiệm. Luận cứ trả lời câu hỏi “Chứng minh bằng
cái gì?”. Các nhà khoa học sử dụng luận cứ làm cơ sở để chứng minh một luận đề. Có hai loại luận cứ được
PPKH thu thập thông tin từ sự quan sát, phỏng vấn hay điều tra. Tuy nhiên, PPKH có những bước chung
như: Quan sát sự vật hay hiện tượng, đặt vấn đề và lập giả thuyết, thu thập số liệu và dựa trên số liệu để rút ra
kết luận (Bảng 2.4). Nhưng vẫn có sự khác nhau về quá trình thu thập số liệu, xử lý và phân tích số liệu.
Bảng 2.4 Các bước cơ bản trong phương pháp khoa học
Bước Nội dung
1 Quan sát sự vật, hiện
tượng
2 Đặt vấn đề nghiên cứu
3 Đặt giả thuyết hay sự tiên
đoán
4 Thu thập thông tin hay số
liệu thí nghiệm
5 Kết luận
15
Chương III
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KINH TẾ
3.1 Tích luỹ tài liệu trong nghiên cứu kinh tế.
Để nghiên cứu kinh tế, chúng ta cần rất nhiều tài liệu. Tích lũy tài liệu là khâu quan trọng bước đầu trong qúa
trình nghiên cứu khoa học. Tài liệu càng đầy đủ, chính xác, kịp thời thì công việc nghiên cứu càng được
thuận lợi, các kết luận rút ra càng đảm bảo tính khoa học. Tuy nhiên, nếu quá nhiều tài liệu mà không có cách
xắp xếp khoa học có thể làm người nghiên cứu bị nhiễu thông tin. Vì vậy trong quá trình nghiên cứu, sinh
viên cần chọn lọc các tài liệu tham khảo.
Tài liệu trong nghiên cứu kinh tế có 5 nguồn:
-Từ sách báo.
- Từ điều tra.
- Từ tổng kết kinh nghiệm trong thực tiễn.
- Từ thực nghiệm khoa học.
- Từ tính toán
3.1.1 Tích luỹ tài liệu từ nguồn sẵn có trong sách báo.
Đây là nguồn tài liệu đầu tiên được tiếp cận nghiên cứu nó rất quan trọng vì nó cung cấp cho chúng ta cái
thông tin về sau.
e- Tổng hợp tài liệu trong quá trình đọc.
Khi tham khảo được một số tài liệu nhất định cần được tổng hợp lại. Trong quá trình tổng hợp, chúng ta sẽ
biết được các quan điểm của các tác giả khác nhau về lĩnh vực đang quan tâm. Từ đó có thể phân loại ra các
nhóm quan điểm khác nhau, tìm quan điểm cho là phù hợp nhất hoặc có thể suy nghĩ trên những vấn đề đang
xem xét. Làm như vậy người nghiên cứu đã biến kiến thức sách vở thành kiến thức của mình.
(Giải thích kỹ càng cho sinh viên về vấn đề này và nhắc nhỡ sinh viên về vấn đề tích luỹ kiến thức qua đọc
sách báo).
Lưu ý: Với sự hỗ trợ của máy tính, người đọc tài liệu tham khảo có thể ghi chép ngay trên máy tính:
* Mở 1 file trong word processing:
Cách ghi chép thô:
Ghi trích đoạn nguyên văn hoặc tóm lược thô các thông tin liên quan đến đề tài và phải kèm nguồn của thông
tin. Cụ thể, trong khi ghi chép phải ghi nguồn tài liệu đã sử dụng bao gồm tên tác giả, tên tác phẩm, nhà xuất
bản, năm xuất bản, trang sử dụng. Đây là vấn đề quan trọng và là yêu cầu bắt buộc đối với người sử dụng tài
liệu trong nghiên cứu khoa học. Làm như vậy cũng thể hiện sự nghiêm túc của người nghiên cứu, không mập
mờ giữa sáng tạo của mình với sáng tạo của người khác và nhất là không chiếm dụng thành quả lao động
khoa học của người khác.
Ở file này chúng ta không cần xắp xếp theo nội dung mà chỉ liệt kê các nội dung liên quan đến đề tài.
* Xắp xếp theo cấu trúc phần cơ sở lý luận.
Từ file trên chúng ta xắp xếp theo cấu trúc của phần cơ sở lý luận mà ta xây dựng trong một file mới.
17
* Đọc và viết lại các trich dẫn:
Từ file thô trên chúng ta đọc, tổng hợp, tinh lọc và viết lại nhưng phải đảm bảo tính lôgic. Ngoài ra người
viết có thể so sánh, lồng ghép các vấn đề lại với nhau hoặc đưa các nhận định của mình vào bài viết.
Như vậy thông qua ba bước trên, người nghiên cứu sẽ có một cái nhìn tổng quát và có ngay phần
”tổng quan tài liệu”. (Xem kỹ thêm bước d và e).
Hiện nay, internet là một phương tiện tốt để sinh viên khai thác các tài liệu. Tuy nhiên người khai
thác tài liệu trên internet cần lưu ý:
Chọn thông tin chính thống:
Thông thường các tạp chí khoa học được chia thành tạp chí SCI (rất tốt), SCIE (tốt và rất tốt) và các
liệu có độï chính xác cao, độ tin cậy lớn. Tuy nhiên điều tra toàn bộ rất tốn kém và khó đảm bảo tính đầy đủ
và kịp thời của số liệu.
Điều tra bộ phận:
Là điều tra chỉ tiến hành ở một bộ phận tổng thể. Điều tra bộ phận cung cấp cho chúng ta số liệu tuy có độ
chính xác và độ tin cậy kém hơn điều tra toàn bộ nhưng đỡ tốn kém và nâng cao được tính đầy đủ và kịp thời
của số liệu.
Điều quan trọng đối với điều tra bộ phận để thu thập số liệu nghiên cứu khoa học là phải đảm bảo tính đại
biểu của mẫu điều tra. Muốn vậy phải giải quyết hai vấn đề là xác định số đơn vị mẫu và cách lựa chọn đơn
vị mẫu để điều ra.
• Ước lượng kích thước mẫu:
Xuất phát từ công thức:
/ 2 / 2
z z
x x
n n
α α
σ σ
µ
− < < +
Nếu ta gọi
/ 2
z
n
α
σ
∆ =
là một nửa khoảng tin cậy. Khi n đủ lớn, ta đễ dàng xác định công thức tính số đơn vị
mẫu đáp ứng yêu cầu nghiên cứu như sau:
2 2
1, / 2
1- Lấy phương sai của lần điều tra trước. Nếu trước đó có nhiều lần điều tra thì lấy
σ
2
lớn nhất.
2- Có thể lấy
σ
2
của cuộc điều tra tương tự tiến hành ở địa phương lân cận.
3- Cũng có thể tiến hành điều tra thử một mẫu, sau đó tính phương sai mẫu (s
2
) thay cho phương sai
tổng thể chung. Người ta đã chứng minh được phương sai chung và phương sai mẫu không khác nhau đáng
kể nếu số đơn vị mẫu không quá nhỏ. Điều đó thể hiện qua công thức về mối liên hệ giữa phương sai chung
và phương sai mẫu mà khoa học thống kê đã xây dựng như sau:
1
22
−
=
n
n
s
σ
Nếu n càng lớn thi phương sai của tổng thể và phương sai của mẫu càng gần bằng nhau.
+ Phương pháp chọn mẫu điều tra.
Để đảm bảo tính đại diện của mẫu, ngoài việc xác định chính xác số đơn vị mẫu còn phải tiến hành chọn đơn
vị mẫu điều tra theo đúng phương pháp khoa học. Nguyên tắc chung khi chọn đơn vị cụ thể ra để điều tra là
phải đảm bảo tính khách quan. Việc chọn mẫu có thể tiến hành theo nhiều cách khác nhau. Thống kê thường
dùng các cách sau:
- Chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản.
- Chọn mẫu máy móc.
Phương pháp thống kê chỉ dùng để nghiên cứu các thuộc tính của tổng thể, mang tính đại diện. Do đó các
đơn vị cá biệt bị che lấp và thông thường thống kê học loại bỏ các cá thể này như là cá thể dị biệt (outliers).
Bản chất các đơn vị tiên tiến là cá biệt ở hiện tại. Mặc dù các đơn vị tiên tiến không ảnh hưởng đáng kể tới
tổng thể nhưng là nhân tố mới, nhân tố tích cực, trong tương lai có thể sẽ là phổ biến, có tác dụng quyết định
đến sự phát triển của tổng thể. Do đó tổng kết được kinh nghiệm của các đơn vị tiên tiến sẽ giúp ta nhận thức
sâu sắc hơn về bản chất của hiện tượng, từ đó cho phép rút ra các kết luận có căn cứ khoa học.
b) Phương pháp tiến hành
Điều quan trọng là qua tổng kết rút kinh nghiệm của các đơn vị tiên tiến, ta phải phân tích cho được nguyên
nhân hoặc các yếu tố thúc đẩy đơn vị trở thành tiên tiến và từ đó rút ra được những bài học kinh nghiệm cần
thiết. Kinh nghiệm của các đơn vị tiên tiến, một mặt giúp người nghiên cứu có cơ sở chắc chắn hơn trong
việc đánh giá thực trạng tình hình, mặt khác là những gợi ý hết sức quan trọng cho việc xác định định hướng
và các giải pháp để giải quyết vấn đề.
3.2 Xử lý số liệu.
Xử lý số liệu là một khâu quan trọng. Số liệu thu thập được trong nghiên cứu kinh tế có nhiều nguồn và giá
trị của các số liệu này cũng rất khác nhau do đó phải xử lý trước khi sử dụng.
21
3.2.1 Đối với số liệu thứ cấp.
Trước tiên chúng ta cần loại bỏ những số liệu kém giá trị. Để đơn giản chúng ta cần so sánh các nguồn số
liệu với nhau. Ví dụ loại bổ những số liệu khác thường (outliers). Việc tính toán lại lại số liệu trên cơ sở tôn
trọng số liệu gốc. Hơn nữa, chúng ta phải thống nhất về mặt đơn vị: chẳng hạn quy đổi sào thước ra ha hoặc
tính toán lại theo cùng một mặt bằng giá.
Ví dụ 1: GDP của Trung Quốc trong thời kỳ 2005 - 2010 như sau:
Năm 2005 2006 2007 2008 2009 2010
GDP
(tỷ USD )
2.257
2.713
• Những vấn đề cần được giải quyết khi tiến hành phân tổ thống kê
9
Tô Dũng Tiến (2005).
22