QUẢN LÝ NGUỒN NHÂN LỰC
Chủ đề: Tình hình phát triển kinh tế ảnh hưởng đến hoạt
động quản lý nguồn nhân lực
Lớp 02 – Nhóm 01
•
Nguyễn Đỗ Quyên
•
Lâm Thu Huyền
•
Phạm Thị Tập
•
Hà Hoàng Thái Sơn
•
Nông Văn Tuấn
NỘI DUNG CHÍNH
PHẦN I: CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN
PHẦN II: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ NGUỒN NHÂN LỰC Ở NAM
HIỆN NAY
PHẦN III: ẢNH HƯỞNG CỦA PHÁT TRIỂN KINH TẾ TỚI HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ
NGUỒN NHÂN LỰC
PHẦN IV: VÍ DỤ THỰC TIỄN CHỨNG MINH
PHẦN I: CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN
I. Phát triển kinh tế
II. Nguồn nhân lực
III. Quản lý nguồn nhân lực
I. Phát triển kinh tế
Phát triển kinh tế là sự tăng trưởng kinh tế
gắn liền với sự hoàn thiện cơ cấu, thể chế kinh
tế, nâng cao chất lượng cuộc sống và bảo đảm
công bằng xã hội. Là sự biến đổi kinh tế theo
chiều hướng tích cực dựa trên sự biến đổi cả
II. Thực trạng nguồn nhân lực Việt Nam hiện nay
Theo kết quả điều tra dân số đến tháng 12/2010, Việt Nam có gần 87 triệu người. Nguồn nhân
lực Việt Nam được cấu thành chủ yếu là nông dân, công nhân, trí thức, doanh nhân, dịch vụ và nhân
lực của các ngành, nghề. Trong đó, nguồn nhân lực nông dân có gần 62 triệu người, chiếm hơn 70%
dân số; nguồn nhân lực công nhân là 9,5 triệu người (gần 10% dân số); nguồn nhân lực trí thức, tốt
nghiệp từ đại học, cao đẳng trở lên là hơn 2,5 triệu người, chiếm khoảng 2,15% dân số; nguồn nhân
lực từ các doanh nghiệp khoảng 2 triệu người, trong đó, khối doanh nghiệp trung ương gần 1 triệu
người….
Hiện nay ở Việt Nam đang hình thành 2 loại hình nhân lực: nhân lực phổ thông và nhân lực chất lượng cao.
Nhân lực phổ thông hiện tại vẫn chiếm số đông, trong khi đó, nhân lực chất lượng cao lại chiếm tỷ lệ rất thấp. Theo
số liệu thống kê năm 2010, trong số 20,1 triệu lao động đã qua đào tạo trên tổng số 48,8 triệu lao động đang làm
việc, thì chỉ có 8,4 triệu người có bằng cấp, chứng chỉ do các cơ sở đào tạo trong và ngoài nước. Số người từ 15 tuổi
trở lên được đào tạo nghề và chuyên môn kỹ thuật rất thấp, chiếm khoảng 40%. Cơ cấu đào tạo hiện còn bất hợp lý
được thể hiện qua các tỷ lệ: Đại học và trên Đại học là 1, trung học chuyên nghiệp là 1,3 và công nhân kỹ thuật là
0,92; trong khi trên thế giới, tỷ lệ này là 1 - 4 - 10.
Cơ cấu phân bổ lao động theo ngành nghề cũng mất cân đối. Các ngành kỹ thuật - công nghệ, nông - lâm - ngư
nghiệp ít và chiếm tỉ trọng thấp, trong khi đó các ngành xã hội luật, kinh tế, ngoại ngữ, lại quá cao. Nhiều ngành
nghề, lĩnh vực có tình trạng vừa thừa vừa thiếu nhân lực.
PHẦN III: ẢNH HƯỞNG CỦA PHÁT TRIỂN KINH TẾ TỚI
HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ NGUỒN NHÂN LỰC
I.Ảnh hưởng của chuyển dịch cơ cấu kinh tế tới hoạt động quản lý nguồn
nhân lực
II. Ảnh hưởng của trình độ trang thiết bị kỹ thuật trong sản xuất kinh doanh
tới hoạt động phát quản lý nguồn nhân lực
III. Ảnh hưởng của hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hóa tới hoạt động
quản lý nguồn nhân lực
I. Ảnh hưởng của chuyển dịch cơ cấu kinh tế tới hoạt
động quản lý nguồn nhân lực
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế và quản lý nguồn nhân lực có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Việc
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư, thực hiện quy hoạch phát triển trên các vùng lãnh thổ sẽ
hóa tới hoạt động quản lý nguồn nhân lực
Quá
TrongHội
PHẦN IV: VÍ DỤ THỰC TIỄN CHỨNG MINH
I. Ảnh hưởng của phát triển kinh tế đến hoạt động quản lý nguồn nhân lực trong
nước
II. Ảnh hưởng của phát triển kinh tế đến hoạt động quản lý nguồn nhân lực thành
phố Đà Nẵng
I. Ảnh hưởng của phát triển kinh tế đến hoạt động quản lý
nguồn nhân lực trong nước
Kinh tế tăng trưởng và phát triển liên tục. Năm 2007 – năm đầu tiên là thành viên của WTO, chỉ số tăng trưởng
GDP là 8,5%, của xuất khẩu 20,5%, thu hút FDI tăng 17%, xếp hạng môi trường kinh doanh được nâng cấp lên 13
bậc, GDP tính theo đầu người tăng gấp 4 lần so với trước đổi mới, đời sống của nhân dân nhìn chung được nâng cao
rõ rệt. Ngày 16/10/2007, Việt Nam được bầu làm thành viên không thường trực Hội đồng bảo an Liên hợp quốc khóa
2008 – 2009, cho thấy vị thế Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao.
Để đáp ứng yêu cầu về nhân lực ngày càng cao của nền kinh tế, Việt Nam chi
cho giáo dục trung bình khoảng 8% GDP/năm nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân
lực, ở Mỹ mới chỉ là 6%, Trung Quốc là 2,7%. Chi ngân sách nhà nước cho giáo dục
và đào tạo năm 2000 là 11,5%, năm 2005 là 13%, năm 2007 là 20%.
Do đó, giáo dục, đào tạo, và khoa học được đầu tư, phát triển ngày càng mạnh
mẽ. Nhìn chung chất lượng nguồn nhân lực được nâng cao hơn trước, thể hiện rõ nét
nhất ở năng suất lao động của toàn xã hội đã thay đổi hẳn, trình độ giáo dục phổ cập
và số lượng học sinh, lực lượng lao động có đào tạo, số người tốt nghiệp các bậc học
tăng nhanh so với nhiều nước, đặc biệt trong vòng 10 năm 1993 - 2002 tỷ lệ đói
nghèo giảm còn một nửa (từ 57% xuống còn 28%).
II. Ảnh hưởng của phát triển kinh tế đến hoạt động quản
lý nguồn nhân lực thành phố Đà Nẵng
•
Quản lý nguồn nhân lực theo ngành nghề:
Trong những năm vừa qua cơ cấu nguồn nhân lực theo ngành nghề trên địa bàn thành phố Đà Nẵng đã có