Đề tài tình hình phát triển kinh tế ảnh hưởng đến hoạt động quản lý nguồn nhân lực - Pdf 30

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH THÁI NGUYÊN

BÀI THẢO LUẬN
Đề tài: TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT
ĐỘNG QUẢN LÝ NGUỒN NHÂN LỰC Môn: QUẢN LÝ NGUỒN NHÂN LỰC
Lớp 02 - Nhóm 01 DANH SÁCH NHÓM

1. NGUYỄN ĐỖ QUYÊN
2. LÂM THU HUYỀN
3. PHẠM THỊ TẬP
4. HÀ HOÀNG THÁI SƠN
5. NÔNG VĂN TUẤN


PHẦN I: CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN
I. Phát triển kinh tế
Phát triển kinh tế là sự tăng trưởng kinh tế gắn liền với sự hoàn thiện cơ cấu,
thể chế kinh tế, nâng cao chất lượng cuộc sống và bảo đảm công bằng xã hội. Là
sự biến đổi kinh tế theo chiều hướng tích cực dựa trên sự biến đổi cả về số lượng,
chất lượng và cơ cấu của các yếu tố cấu thành của nền kinh tế.
Muốn phát triển kinh tế trước hết phải có sự tăng trưởng kinh tế. Nhưng
không phải sự tăng trưởng kinh tế nào cũng dẫn tới phát triển kinh tế. Phát triển
kinh tế đòi hỏi phải thực hiện được ba nội dung cơ bản sau:
- Sự tăng lên của tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tổng sản phẩm quốc dân
(GNP) và tổng sản phẩm quốc dân tính theo đầu người. Nội dung này phản ánh
mức độ tăng trưởng kinh tế của một quốc gia trong một thời kỳ nhất định.
- Sự biến đổi cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ, thể hiện ở tỷ trọng của các
ngành dịch vụ và công nghiệp trong tổng sản phẩm quốc dân tăng lên, còn tỷ trọng
nông nghiệp ngày càng giảm xuống. Nội dung này phản ánh chất lượng tăng
trưởng, trình độ kỹ thuật của nền sản xuất để có thể bảo đảm cho sự tăng trưởng
kinh tế bền vững.
- Mức độ thoả mãn các nhu cầu cơ bản của xã hội thể hiện bằng sự tăng lên
của thu nhập thực tế, chất lượng giáo dục, y tế, mà mỗi người dân được hưởng.
Nội dung này phản ánh mặt công bằng xã hội của sự tăng trưởng kinh tế.
Với những nội dung trên, phát triển kinh tế bao hàm các yêu cầu cụ thể là:
- Trước hết là sự tăng thêm về khối lượng của cải vật chất, dịch vụ và sự tiến
bộ về cơ cấu kinh tế và đời sống xã hội. Mức tăng trưởng kinh tế phải lớn hơn mức

- Chất lượng nguồn nhân lực được thể hiện trên các khía cạnh: sức khỏe,
trình độ học vấn, kiến thức, trình độ kỹ thuật và kinh nghiệm tích lũy được, ý thức
tác phong của người lao động.
Từ những quan niệm trên có thể tổng quát lại: Nguồn nhân lực hay nguồn lực
con người bao gồm lực lượng lao động và lao động dự trữ. Trong đó lực lượng lao
động được xác định là người lao động đang làm việc và người trong độ tuổi lao
động có nhu cầu nhưng không có việc làm (người thất nghiệp). Lao động dự trữ
bao gồm học sinh trong độ tuổi lao động, người trong độ tuổi lao động nhưng
không có nhu cầu lao động.
III. Quản lý nguồn nhân lực
Quản lý nguồn nhân lực được hiểu là các hoạt động của chủ thể quản lý tác
động lên nguồn nhân lựcthông qua một hệ thống các nguyên tắc, quy tắc, phương
pháp, công cụ, … nhất định nhằm sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực để đạt được
những mục tiêu nhất định.
Nói cách khác, quản lý nguồn nhân lực là những hoạt động có tính hệ thống
nhằm định hướng, phát triển và sử dụng nguồn nhân lực một cách hợp lý nhằm đáp
ứng các yêu cầu, mục tiêu, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội.
Vậy, thực chất quản lý nguồn nhân lực là các hoạt động nhằm kế hoạch, tổ
chức, phối hợp chỉ huy và giám sát việc sử dụng nguồn nhân lực sao cho đạt được
hiệu quả cao nhất.
PHẦN II: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ NGUỒN NHÂN
LỰC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
I. Thực trạng phát triển kinh tế Việt Nam hiện nay
(1) Tạo lập được sự ổn định kinh tế vĩ mô; công tác xoá đói giảm nghèo, tăng
việc làm đã đạt được những thành tựu quan trọng: nước ta đã giữ vững ổn định
chính trị và đời sống xã hội, thiết lập các cơ chế chính sách và ổn định kinh tế vĩ
mô, huy động được nhiều nguồn lực phát triển. Các cân đối lớn trong nền kinh tế
đều được cải thiện.
(2) Cơ cấu kinh tế đã dịch chuyển theo hướng tích cực, phát huy tiềm năng
của từng ngành, từng vùng, từng thành phần kinh tế.

các nước, các tổ chức quốc tế ngày càng được mở rộng. Việt Nam đã tham gia
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), thực hiện các cam kết về Khu vực
mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ, gia
nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Đến nay, Việt Nam đã có quan hệ
thương mại với hơn 200 nước và vùng lãnh thổ, ký hơn 90 hiệp định thương mại
song phương với các nước, tạo ra một bước phát triển mới rất quan trọng về kinh tế
đối ngoại.
Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tiếp tục được xây
dựng và hoàn thiện; chủ trương, đường lối đổi mới của Đảng tiếp tục được thể chế
hóa thành luật pháp, cơ chế, chính sách ngày càng đầy đủ, đồng bộ hơn; môi
trường đầu tư, kinh doanh được cải thiện; các yếu tố thị trường và các loại thị
trường tiếp tục hình thành, phát triển; nền kinh tế nhiều thành phần có bước phát
triển mạnh.
II. Thực trạng nguồn nhân lực Việt Nam hiện nay
Theo kết quả điều tra dân số đến tháng 12/2010, Việt Nam có gần 87 triệu
người. Điều này phản ánh nguồn nhân lực của Việt Nam đang phát triển dồi dào.
Nguồn nhân lực Việt Nam được cấu thành chủ yếu là nông dân, công nhân, trí
thức, doanh nhân, dịch vụ và nhân lực của các ngành, nghề. Trong đó, nguồn nhân
lực nông dân có gần 62 triệu người, chiếm hơn 70% dân số; nguồn nhân lực công
nhân là 9,5 triệu người (gần 10% dân số); nguồn nhân lực trí thức, tốt nghiệp từ đại
học, cao đẳng trở lên là hơn 2,5 triệu người, chiếm khoảng 2,15% dân số; nguồn
nhân lực từ các doanh nghiệp khoảng 2 triệu người, trong đó, khối doanh nghiệp
trung ương gần 1 triệu người…. Sự xuất hiện của giới doanh nghiệp trẻ được xem
như một nhân tố mới trong nguồn nhân lực, nếu biết khai thác, bồi dưỡng, sử dụng
tốt sẽ giải quyết được nhiều vấn đề quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội.
Hiện nay ở Việt Nam đang hình thành 2 loại hình nhân lực: nhân lực phổ
thông và nhân lực chất lượng cao. Nhân lực phổ thông hiện tại vẫn chiếm số đông,
trong khi đó, nhân lực chất lượng cao lại chiếm tỷ lệ rất thấp. Cái thiếu của Việt
Nam hiện nay không phải là nhân lực phổ thông, mà là nhân lực chất lượng cao.
Theo số liệu thống kê năm 2010, trong số 20,1 triệu lao động đã qua đào tạo trên

Nhu cầu chuyển đổi cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ
sang công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ kéo theo sự chuyển dịch cơ cấu lao động
theo hướng giảm tỷ trọng lao động nông nghiệp từ 70% năm 2000 xuống 50% vào
năm 2010 và nâng tỷ trọng lao động trong các ngành công nghiệp, dịch vụ. Nhưng
trong đó đòi hỏi phải có sự thay đổi về cơ cấu lao động được đào tạo theo ngành và
trình độ phù hợp với định hướng phát triển kinh tế. Rõ ràng chuyển dịch cơ cấu
kinh tế như phân tích đã đặt ra những thách thức đối với nguồn nhân lực và do đó
trực tiếp tác động tới quản lý nguồn nhân lực cả về quy mô, cơ cấu và trình độ
cũng như việc phân bổ, khai thác sử dụng hợp lý nguồn nhân lực trong quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
II. Ảnh hưởng của trình độ trang thiết bị kỹ thuật trong sản xuất kinh
doanh tới hoạt động phát quản lý nguồn nhân lực
Cùng với chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động, các trang thiết bị kỹ
thuật trong sản xuất và kinh doanh cũng ngày càng thay đổi theo hướng hiện đại,
do đó đòi hỏi phải có nguồn nhân lực phù hợp để có thể sử dụng hiệu quả các trang
thiết bị hiện đại, nâng cao hiệu quả đầu tư; sau đó tiếp tục nghiên cứu và ứng dụng
một cách sáng tạo các thiết bị công nghệ mới.
Thực tế cho thấy, đầu tư xây dựng cơ bản dù tăng nhưng thiếu người lao động
và thiếu sự đồng bộ giữa trình độ công cụ lao động với trình độ chuyên môn của
người lao động thì hiệu quả lao động không cao, gây lãng phí vốn đầu tư trong xã
hội. Tính đồng bộ giữa trình độ công nghệ cao với trình độ kỹ thuật và công nhân
lành nghề đòi hỏi hoạt động quản lý phải đáp ứng đủ và đúng chuyên môn, ngành
nghề để có thể làm chủ các công nghệ mới.
Trong xu thế hội nhập hiện nay, muốn nhập khẩu công nghệ cao hơn phải tổ
chức đào tạo nguồn nhân lực tốt hơn; đã có rất nhiều bài học về sự thất bại khi một
nước sử dụng công nghệ ngoại nhập trong khi trình độ chuyên môn người lao động
trong nước còn non yếu. Nếu thiếu các chuyên gia giỏi về khoa học công nghệ và
quản lý, thiếu đội ngũ kỹ thuật viên và công nhân lành nghề thì không thể ứng
dụng được công nghệ mới, do đó phải đào tạo nguồn nhân lực.
Việc đào tạo nguồn nhân lực không chỉ đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng

Kinh tế tăng trưởng và phát triển liên tục. Năm 2007 – năm đầu tiên là thành
viên của WTO, chỉ số tăng trưởng GDP là 8,5%, của xuất khẩu 20,5%, thu hút FDI
tăng 17%. Năm 2007, Việt Nam được UNDP đánh giá là nước thứ 6 trong “top
ten” của thế giới về thu hút FDI cho các năm 2008 - 2009 (sau Trung Quốc, Mỹ,
Ấn độ, Nga, Brazil), xếp hạng môi trường kinh doanh được nâng cấp lên 13 bậc,
… Nhờ GDP tính theo đầu người tăng gấp 4 lần so với trước đổi mới, nên đời sống
của nhân dân nhìn chung được nâng cao rõ rệt. Việc Việt Nam ngày 16/10/2007
được bầu làm thành viên không thường trực Hội đồng bảo an Liên hợp quốc khóa
2008 - 2009 cho thấy vị thế Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng
cao.
Theo số liệu của Tổng cục thống kê, từ năm 2000 đến nay, đầu tư toàn xã hội
ước chừng chiếm khoảng 30 – 40% GDP/năm, so với chỉ số tăng trưởng của những
năm này ta có chỉ số ICOR hàng năm là xấp xỉ 5 hoặc <5, nghĩa là quá cao; lẽ ra
chỉ số này chỉ nên là 3 – 3,5 so với mức tăng trưởng. Nói cách khác, với tổng đầu
tư hàng năm như thế cho thấy tốc độ tăng trưởng và hiệu quả chung của nền kinh tế
là dưới khả năng cho phép, kết cấu hạ tầng vẫn phát triển rất chậm; thực trạng này
có nguyên nhân quan trọng liên quan đến chất lượng nguồn nhân lực nước ta.
Giáo dục, đào tạo, và khoa học phát triển mạnh, góp phần quan trọng vào
những thành tựu của đất nước đã nêu trên. Nhìn chung chất lượng nguồn nhân lực
được nâng cao hơn trước, thể hiện rõ nét nhất ở năng suất lao động của toàn xã hội
đã thay đổi hẳn cục diện phát triển kinh tế nước ta kể từ khi tiến hành đổi mới, tạo
ra tốc độ tăng trưởng kinh tế đứng thứ nhì thế giới trong những năm gần đây, trình
độ giáo dục phổ cập và số lượng học sinh, lực lượng lao động có đào tạo, số người
tốt nghiệp các bậc học tăng nhanh so với nhiều nước, đặc biệt trong vòng 10 năm
1993 - 2002 tỷ lệ đói nghèo giảm còn một nửa (từ 57% xuống còn 28%).
II. Đánh giá chất lượng nguồn nhân lực
Nếu so kết quả đạt được với công sức bỏ ra, có lẽ phải nói lãng phí phạm phải
trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo và phát triển con người là tổn thất lớn nhất so với
bất kỳ lãng phí nào khác đã phạm phải trong 22 năm đổi mới, với nhiều hệ quả lâu
dài nhất.

nguồn nhân lực, sự bất cập lớn của kết cấu hạ tầng vật chất kỹ thuât, thể chế và
năng lực quản lý hẫng hụt nhiều mặt.
Trong các chuyến đi thăm chính thức các nước phát triển của Thủ tướng
Nguyễn Tấn Dũng trong năm 2007, Việt Nam được các nước chủ nhà coi là đối tác
đầy triển vọng, những công trình hợp tác kinh tế được ghi nhớ lên tới nhiều chục tỷ
USD, nhiều công trình đầu tư lớn, dự án lớn được được cam kết ở mức sâu hơn
trên những lĩnh vực quan trọng – nghĩa là chỉ còn chờ phía ta bật đèn xanh để đi
vào đàm phán cụ thể: phát triển hệ thống đường xá toàn quốc, phát triển ngành
hàng không, mở rộng khả năng sản xuất nhiệt điện (vấn đề điện năng lượng hạt
nhân đang được đề cập), phát triển toàn diện ngành dầu khí, phát triển những khu
công nghệ cao, phát triển thị trường tài chính, phát triển thị trường địa ốc, mở rộng
ngành công nghiệp du lịch, …
Lần đầu tiên nước ta đứng trước tình hình không thiếu vốn và cơ hội, có nhiều
dự án lớn, nhưng lại thiếu trầm trọng năng lực quy hoạch và quản lý, thiếu trầm
trọng nguồn nhân lực có chất lượng cao đáp ứng những dự án lớn này. Tiến độ
nhiều dự án lớn đã triển khai thường chậm một, hai năm so với kế hoạch hoặc hơn
nữa. Trên hết cả, khoảng 2/3 GDP của nước ta dành cho xuất khẩu, cạnh tranh
hàng giá rẻ với chất lượng thấp và dịch vụ thấp ngày càng không còn đất sống
trước những làn sóng hàng hóa rẻ Trung Quốc khắp thế giới, chỉ còn một con
đường cạnh tranh bằng hàng hóa chất lượng cao và dịch vụ cao. Trong khi đó cơ
hội không biết chờ đợi. Nói riêng về điện: năm 2006 ta thiếu 1,1tỷ kwh; năm 2007
thiếu 6,6 tỷ kwh, năm 2008 thiếu 8,6 tỷ kwh, mọi kế hoach sản xuất điện EVN đã
cam kết với Chính phủ đều chậm vài năm, thế nhưng từ nhiều năm nay không một
dự án đầu tư nhiệt điện nào của nước ngoài dù khả thi về mọi mặt, kể cả dự án
BOT, có thể vào Việt Nam; một ví dụ này nói lên nhiều điều.
Phải chăng đất nước đứng trước một nghịch cảnh: Kinh tế phát triển mạnh và
cơ hội đang đến với đất nước rất lớn, nhưng trong khi đó giáo dục – đào tạo – khoa
học và vấn đề phát triển nguồn nhân lực nói chung sau thời kỳ giành được những
một số thành tựu ban đầu theo xu hướng phát triển đại trà, ngày nay đang đi tới
một điểm nóng, với nhiều hệ quả trầm trọng. Trong phát triển con người và nguồn

ngữ, năng lực tổ chức và quản lý thấp, …
IV. Tình hình chung nguồn nhân lực của nước ta hiện nay
Sau 30 năm công nghiệp hóa, vẫn còn khoảng 70% lao động cả nước trong
lĩnh vực nông nghiệp; tỷ lệ học sinh trên triệu dân, tỷ lệ số trường các loại trên
triệu dân, tỷ lệ số trường đại học trên triệu dân; tỷ lệ tốt nghiệp đại học trên triệu
dân, tỷ lệ có học vị tiến sỹ trên triệu dân của nước ta đều cao hơn tất cả các nước
có mức thu nhập bình quân theo đầu người tương đương như Thái Lan, nhưng chất
lượng đang có nhiều vấn đề. Điều tra của Bộ giáo dục và đào tạo năm 2006 cho
thấy cả nước có tới 63% số sinh viên ra trường không có việc làm, 37% số còn lại
có việc làm thì hầu hết phải đào tạo lại và có nhiều người không làm đúng nghề
mình đã học, trong khi đó nhiều doanh nghiệp, kể cả những doanh nghiệp có FDI
và nhiều dự án kinh tế quan trọng khác rất thiếu lực nguồn lực chuyên nghiệp.
Khoảng 2/3 số người có học vị tiến sỹ trong cả nước không làm khoa học mà đang
làm công tác quản lý; số bài báo khoa học được công bố hàng năm chỉ bằng
khoảng ¼ của Thái Lan và bằng 0,00043% của thế giới, mặc dù số tiến sỹ của ta
hàng năm nhận bằng thường nhiều hơn của Thái Lan, có năm cao gần gấp đôi, …
Nguồn nhân lực nước ta trẻ (tính theo tuổi đời trung bình – một ưu thế lớn),
đông (một ưu thế lớn khác, nước có dân số đứng thứ 13 trên thế giới), nhưng tỷ lệ
tính trên triệu dân của số người có nghề và có trình độ chuyên môn rất thấp so với
tất các nước trong nhóm ASEAN 6 và Trung Quốc; số cán bộ kỹ thuật và có trình
độ quản lý cao rất ít so với dân số cũng như so với quy mô nền kinh tế.
Nền tảng khoa học để phát triển các đội ngũ nguồn nhân lực nước nhà được
giáo sư Phạm Duy Hiển đánh giá khái quát: “Với năng lực KHCN như hiện nay,
làm sao Việt Nam có thể trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào
năm 2020?”
Theo điều tra của Diễn đàn kinh tế thế giới năm 2005: Nguồn nhân lực Việt
Nam về chất lượng được xếp hạng 53 trên 59 quốc gia được khảo sát, song mất cân
đối nghiêm trọng:
- Ở Việt Nam cứ 1 cán bộ tốt nghiệp đại học có 1,16 cán bộ tốt nghiệp trung
cấp và 0,92 công nhân kỹ thuật, trong khi đó tỷ lệ này của thế giới là 4 và 10.

nào thì cũng phải đồng thời tạo ra môi trường này, văn hóa phải trở thành linh hồn
dẫn dắt sự phát triển.
Như vậy không thể có vấn đề quản lý nguồn nhân lực riêng lẻ tách rời khỏi
đời sống chung quanh - như trong một xã hội chân không, mà phải nhìn thẳng vào
thực tế: Xã hội nào thì nguồn nhân lực nấy, muốn có cái này tốt, cái kia cũng phải
làm cùng tốt theo, tất cả phải trên nền văn hóa – dân tộc – dân chủ, tất cả phải hội
nhập vào bước đi chung của toàn cầu.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status