MỤC LỤC
TÀI LIỆU THAM KHẢO 60
CÁC TỪ VIẾT TẮT
KHCN: Khoa học công nghệ
UBND: Uỷ ban nhân dân
ĐHĐCĐ: Đại hội đồng cổ đông
BKS : Ban Kiểm soát
HĐQT: Hội đồng quản trị
LỜI NÓI ĐẦU
Đất nước ta đang trên đà phát triển, tình hình kinh tế trong những năm vừa
qua có rất nhiều sự chuyển biến tốt đẹp. Năm 2006, Việt Nam đã chính thức trở
thành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới (WTO). Để theo kịp với
nền kinh tế thế giới và khu vực thì vấn đề đầu tư cho phát triển cơ sở hạ tầng là rất
quan trọng, nó sẽ thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Trong những năm gần đây, hoạt động đấu thầu xây dựng ở nước ta trong lĩnh
vực xây dựng cơ sở hạ tầng phát triển hơn bao giờ hết, các công ty xây dựng phải
cạnh tranh trong một môi trường vô cùng khắc nghiệt. Số lượng các doanh nghiệp
xây dựng gia tăng ngày càng nhiều, cả trong nước và ngoài nước. Tuy nhiên, hệ
thống pháp luật về đấu thầu ở nước ta vẫn chưa được hoàn chỉnh, các vấn đề bất cập
xoay quanh nó vẫn còn rất nan giải, các doanh nghiệp phải điều chỉnh hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp mình để thích ứng và tồn tại.
Qua một thời gian tìm hiểu thực tế tại Công ty cổ phần Sông Đà 25 và với
những kiến thức đã học đã cho em thấy vai trò của công tác đấu thầu xây dựng
trong hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty là vô cùng quan trọng, vì vậy em
đã quyết định chọn đề tài: “Một số giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh trong
đấu thầu xây dựng của công ty cổ phần Sông Đà 25” là đề tài nghiên cứu của mình.
Do trình độ và thời gian có hạn nên đề tài nghiên cứu của em không thể tránh khỏi
những thiếu sót. Em rất mong nhận được sự góp ý của các thầy cô giáo cũng như sự
góp ý của các cán bộ trong công ty cổ phần đầu tư thiết kế công nghệ xây dựng để
đề tài của em được hoàn thiện hơn.
Qua đây em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới tất cả nhân viên trong
có trách nhiệm giám sát, kiểm tra, nghiệm thu và thanh toán tiền. Như vậy thực chất
của quá trình đấu thầu ở Việt Nam đối với các dự án sử dụng vốn nhà nước là một
quá trình mua sắm- quá trình chi tiêu, sử dụng tiền của Nhà nước.
“Căn cứ vào Luật đấu thầu số 61/2005/QH11 ngày 29/11/2005 của Quốc hội
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; “Đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà
thầu đáp ứng các yêu cầu của bên mời thầu để thực hiện gói thầu thuộc các dự án
quy định tại Điều 1(phụ lục) của Luật này trên cơ sở bảo đảm tính cạnh tranh, công
bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế”.
2
Để có thể hiểu rõ hơn về khái niệm đấu thầu, cũng để nghiên cứu các phần
sau chúng ta cần phải làm rõ một số khái niệm có liên quan chặt chẽ với khái niệm
đấu thầu.
+"Nhà thầu" là tổ chức kinh tế có đủ tư cách pháp nhân tham gia đấu thầu.
Trong trường hợp đấu thầu tuyển chọn tư vấn, nhà thầu có thể là cá nhân. Nhà thầu
là nhà xây dựng trong đấu thầu xây lắp, là nhà cung cấp trong đấu thầu mua sắm
hàng hoá; là nhà tư vấn trong đấu thầu tuyển chọn tư vấn, là nhà đầu tư trong đấu
thầu lựa chọn đối tác đầu tư. Nhà thầu trong nước là nhà thầu có tư cách pháp nhân
Việt Nam và hoạt động hợp pháp tại Việt Nam.
+"Bên mời thầu" là chủ dự án, chủ đầu tư hoặc pháp nhân đại diện hợp pháp
của chủ dự án, chủ đầu tư được giao trách nhiệm thực hiện công việc đấu thầu.
+"Gói thầu" là toàn bộ dự án hoặc một phần công việc của dự án, được chia
theo tính chất kỹ thuật hoặc trình tự thực hiện dự án, có quy mô hợp lý và đảm bảo
tính đồng bộ của dự án, Trong trường hợp mua sắm gói thầu cá thể là một hoặc một
loại đồ dùng, trang thiết bị hoặc phương tiện xem lại câu. Gói thầu được thực hiện
theo một hoặc nhiều hợp đồng (khi gói thầu được chia thành nhiều phần).
+ "Tư vấn" là hoạt động đáp ứng các yêu cầu về kiến thức, kinh nghiệm
chuyên môn cho bên mời thầu và việc xem xét, quyết định, kiểm tra quá trình chuẩn
bị và thực hiện dự án.
1.2 đặc điểm đấu thầu
Bản chất của hoạt động "đấu thầu mua sắm” là việc bỏ tiền để đạt được được
đạt hiệu quả về mặt tài chính.
Cạnh tranh: Là nguyên tắc nổi bật trong đấu thầu. Nó đòi hỏi bên mời thầu
phải tạo điều kiện cho các nhà thầu được tham gia một cách tối đa.
Công bằng: Khi tham gia dự thầu các nhà thầu đều phải được đối xử như
nhau (thông tin đều được cung cấp như nhau). Tuy nhiên, nguyên tắc này chỉ là
tương đối, vì có một số nhà thầu vẫn được ưu tiên và điều này được ghi cụ thể trong
hồ sơ mời thầu.
Minh bạch : Không được phép có bất kì sự khuất tất nào đó làm nảy sinh
nghi ngờ của bên mời thầu đối với nhà thầu và có điều gì đó khiến các nhà thầu
nghi ngờ lẫn nhau.
2.2 Các phương thức đấu thầu
Dựa vào cách thức nộp hồ sơ dự thầu mà bên mời thầu yêu cầu, người ta chia
phương thức đấu thầu thành 3 loại cơ bản:
- Một túi hồ sơ, một giai đoạn
- Hai túi hồ sơ, một giai đoạn
- Hai giai đoạn, một túi hồ sơ
4
2.2.1. Một túi hồ sơ, một giai đoạn
Khi đưa ra yêu cầu thực hiện theo phương thức một túi hồ sơ, một giai đoạn
tức là nhà thầu phải bỏ cả hai đề xuất: Đề xuất kĩ thuật và đề xuất tài chính vào
chung một túi hồ sơ và túi đó được niêm phong. Bên mời thầu được bóc và chấm
thầu riêng cho từng đề xuất.
Phương thức này thường được sử dụng với đầu thầu xây lắp và mua sắm
hàng hóa. Khi đó các bên tham dự thầu đều biết rõ về giá của nhau.
2.2.2. Hai túi hồ sơ, một giai đoạn
Lúc này hai đề xuất kĩ thuật và tài chính được bỏ vào cùng hai túi hồ sơ và
hai túi đều được niêm phong. Tuỳ theo từng trường hợp cụ thể mà bên mời thầu yêu
cầu hoặc phải nộp hai túi cùng một lúc, hoặc túi tài chính nộp sau.
Trong quá trình đánh giá, nếu những nhà thầu không đạt tiêu chuẩn kĩ thuật
thì hồ sơ tài chính được trả lại còn nguyên niêm phong. Hiện tại ở Việt Nam
đến giai đoạn vận hành kết quả đầu tư nếu chủ đầu tư có nhu cầu sửa chữa nâng cấp
thì đấu thầu xây lắp vẫn xuất hiện.
- Nhà thầu xây dựng luôn phải làm việc tại một địa điểm cố định có ghi trong
hồ sơ mời thầu.
-Nhà thầu tư vấn có thể là một cá nhân song nhà thầu xây lắp phải là một tổ
chức có tư cách pháp nhân.
- Việc xem xét đánh giá năng lực của nhà thầu xây dung dựa trên hai nội dung
chính, đó là: Về tài chính và kĩ thuật. Và năng lực tài chính bao giờ cũng được quan
tâm trước tiên là do bởi đặc điểm quan trọng nhất của đấu thầu xây lắp là nhà thầu
phải thực hiện trước một phần công việc bằng vốn của mình, chính vì thế mà những
đảm bảo về tài chính là rất quan trọng.
+Đấu thầu mua sắm hàng hóa và các dịch vụ khác: Đây chính là quá trình lựa
chọn nhà thầu cung cấp hàng hóa, dịch vụ đạt yêu cầu về chất lượng và có giá cả
hợp lí nhất.
+Đấu thầu lựa chọn đối tác thực hiện dự án: Khi chủ đầu tư có ý tưởng về
một dự án đầu tư nhưng do một hạn chế nào đó (cú thể là hạn chế về tài chính hoặc
kĩ thuật) mà không thể tiến hành chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư thì chủ đầu tư có
thể tổ chức đấu thầu để chọn một đối tác thực hiện ý tưởng của mình và sau đó có
thể bàn giao dự án vào một thời điểm thoả thuận giữa hai bên. Đối với loại hình
này, đối tượng mà bên mời thầu muốn mua là toàn bộ một dự án chứ không phải chỉ
một phần công việc cụ thể nào đó.
II. NĂNG LỰC ĐẤU THẦU VÀ TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC
ĐẤU THẦU TRONG LĨNH VỰC XÂY DỰNG
1. Năng lực đấu thầu xây dựng
Sự nhiệt tình và tư duy sáng tạo trong công việc là tiền đề cho mọi thành
công không chỉ đối với một cá nhân mà là sự toàn diện của cả tập thế và chính điều
đó cấu thành năng lực. Dù hoạt động ở bất cứ lĩnh vực nào cũng cần có năng lực thì
6
mới có khả năng tồn tại và phát triển. Năng lực đấu thầu xây dựng được hiểu là
năng lực của nhà thầu tham gia vào hoạt động xây dựng như xây dựng dân dụng,
biệt là các tổ chức tín dụng. Để huy động được nguồn vốn từ các tổ chức tín dụng
này thì năng lực hay khả năng thanh toán nợ của nhà thầu lại là một yếu tố quan
7
trọng cần được cân nhắc, xem xét để có thể cho nhà thầu này mượn vốn thực hiện
công trình hay không. Theo quy định hiện hành thì nhà thầu muốn vay vốn thực
hiện công trình cần đảm bảo ít nhất 30% giá trị gói thầu.
Phân tích tài chính giúp cho chủ đầu tư nhận biết tình hình tài chính hiện tại
của các nhà thầu như thế nào? Và qua đó có sự lựa chọn nhà thầu phù hợp nhất.
Dựa vào việc đánh giá các chỉ tiêu dưới đây mà chúng ta có thể nắm bắt được “thực
lực” thật sự trong cạnh tranh của các doanh nghiệp tham dự đấu thầu. Hơn nữa đây
cũng là những chỉ tiêu nằm trong mối quan tâm chung của các nhà đầu tư khi hợp
tác làm ăn với các doanh nghiệp xây dựng. Có điều này là do đặc điểm nổi bật của
đấu thầu xây dựng mà chúng ta đã nói ở trên, đó là “ đặt nặng” vấn đề tài chính.
Chính vì thế mà các doanh nghiệp càng có chỉ tiêu tài chính đảm bảo bao nhiêu thì
lại càng được sự chú ý của nhà đầu tư bấy nhiêu, vì đó là lí do chắc chắn đảm bảo
công trình của họ được thực hiện một cách đầy đủ, có chất lượng và kịp thời, đáp
ứng được những yêu cầu đặt ra. Một doanh nghiệp xây dựng sẽ không thể đứng
vững trong nền kinh tế với sự cạnh tranh không khoan nhượng của các doanh
nghiệp khác nếu như nó không có thực lực về tài chính và được đảm bảo bởi những
công trình mà nó đã tham gia.
*Sự biến động về quy mô, cơ cấu của tài sản và nguồn vốn
Sự biến động về quy mô, cơ cấu của tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp
được phân tích bằng cách so sánh giá trị cuối năm với giá trị đầu năm của các chỉ
tiêu phản ánh quy mô, tài sản như: Tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, các khoản đầu tư
tài chính ngắn và dài hạn, các khoản nợ phải thu, bất động sản đầu tư… Phân tích
sự biến động về quy mô tài sản nhằm đánh giá kết quả và trạng thái tài chính của
nhà thầu cũng như dự tính những rủi ro và những tiềm năng về tài chính trong
tương lai của nhà thầu.
Quy mô, cơ cấu nguồn vốn: So sánh và phân tích các chỉ tiêu phản ánh nguồn
vốn như các khoản nợ, nợ ngắn hạn, nợ dài hạn, vốn chủ sở hữu… giúp nhà thầu và
Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng vốn bình quân nhà thầu bỏ ra trong một kì kinh
doanh thu được về bao nhiêu đồng kết quả đầu ra. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ
hiệu quả sử dụng vốn của nhà thầu càng cao.
+ Tỉ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu; tỉ suất = Lợi nhuận sau thuế của
doanh nghiệp/ Tổng nguồn vốn chủ sở hữu; Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng vốn
chủ sở hữu dùng vào sản xuất kinh doanh trong kì thì nhà thầu thu được về bao
nhiêu đồng lợi nhuận. Chỉ tiêu này càng cao thì hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu
càng lớn, đặc biệt nếu vốn chỉ sở hữu càng lớn thì tỉ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở
hữu lại càng nhỏ.
+ Tỉ suất lợi nhuận trên vốn vay; tỉ suất = Tổng lợi nhuận sau thuế / Tổng
nguồn vốn vay. Chỉ tiêu này cho biết cứ mỗi đồng vốn vay để dùng cho hoạt động
9
sản xuất kinh doanh trong một kì thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận. Chỉ tiêu
càng cao phản ánh hiệu quả sử dụng vốn vay của nhà thầu càng lớn.
* Khả năng thanh toán của nhà thầu.
Đặc điểm trong quá trình sản xuất kinh doanh của ngành xây dựng luôn chiếm
dụng lượng vốn rất lớn và vòng quay của vốn diễn ra chậm chính vì vậy trong khía
cạnh phân tích khả năng thanh toán của doanh nghiệp không chỉ giúp nhà thầu tìm
ra nguyên nhân giải pháp cho sự đình trệ của nguồn vốn mà còn giúp các nhà đầu tư
có sự lựa chọn đúng đắn các nhà thầu có khả năng tài chính lành mạnh có khả năng
tốt. Tình hình tài chính lành mạnh được thể hiện qua kết quả sản xuất kinh doanh
cũng như sự hợp lý và linh hoạt trong cơ cấu tình chính của doanh nghiệp. Được
biểu hiện bởi các chỉ tiêu:
+ Tỉ suất nợ phải trả: tỉ suất = Tổng các khoản nợ phải trả / Tổng nguồn vốn
của nhà thầu; đây là chỉ tiêu được coi là tổng hợp phản ánh tình hình công nợ của
nhà thầu.
+ Tỉ trọng nợ ngắn hạn so với các khoản nợ phải trả của nhà thầu: tỉ trọng =
Tổng các khoản nợ ngắn hạn / Tổng các khoản nợ phải trả. Chỉ tiêu này phản ánh
100 đồng nợ phải trả của nhà thầu thì có bao nhiêu đồng nợ ngắn hạn, qua đó cho
thấy tình hình chiếm dụng vốn của nhà thầu với các doanh nghiệp khác.
khác đã từng thực hiện. Rõ ràng một nhà thầu với kinh nghiệm và chuyên môn
vững vàng sẽ có rất nhiều ưu thế trong buổi đầu cạnh tranh với các doanh nghiệp
khác. Chính vì lẽ đó mà hiện nay muốn nâng cao khả năng cạnh tranh với các doanh
nghiệp xây dựng trong lĩnh vực đấu thầu xây dựng thì trước tiên nhà thầu xây dựng
phải tạo cho mình một hồ sơ kinh nghiệm vững chắc, đủ sức thuyết phục các nhà
đầu tư ngay từ buổi ban đầu, có như vậy mới có thể đường hoàng tiến vào “vòng
trong” tiếp tục cuộc chiến với các doanh nghiệp khác. Theo luật đấu thầu, yêu cầu
kinh nghiệm của nhà thầu cần đáp ứng được các điều kiện về năng lực kinh nghiệm
thi công xây dựng cụ thể như sau:
* Đối với nhà thầu chính:
- Đã thực hiện thi công xây lắp ít nhất một công trình tương tự hoặc ba công
trình cùng loại cấp thấp hơn liền kề;
- Trực tiếp đảm nhận công việc chính và thực hiện 50% công việc theo hợp
đồng ký với chỉ đầu tư;
- Phải có đủ lực lượng chuyên môn, nghiệp vụ, công nhân kĩ thuật được đào
tạo đáp ứng yêu cầu công tác thi công xây dựng công trình;
- Phải có đủ só người đáp ứng các điều kiện năng lực để làm chỉ huy trưởng
thi công và phụ trách kỹ thuật thi công theo yêu cầu của công tác thi công công
trình;
11
- Chỉ huy trưởng thi công phải có trình độ đại học trở lên thuộc chuyên ngành
xây dựng phù hợp với công trình đảm nhận và đáp ứng một trong số các điều kiện
sau:
+ Đã có kinh nghiệm là chỉ huy trưởng của một công trình cùng loại, cùng
cấp.
+ Đã có kinh nghiệm là chỉ huy trưởng thi công 2 công trình cùng loại, có cấp
thấp hơn liền kề.
+ Đã phụ trách kỹ thuật thi công xây dựng của 2 công trình tương tự.
- Người phụ trách kỹ thuật thi công phải có trình độ đại học trở lên thuộc
chuyên ngành xây dựng phù hợp với chuyên môn kỹ thuật đảm nhiệm và đáp ứng
nhân tham gia thi công công trình. Đó là lý do tại sao bên mời thầu cũng rất chú ý
tới chỉ tiêu này khi xét thầu. Bên cạnh đó, thì điều này còn được thể hiện thông qua
quá trình tạo lập Hồ sơ dự thầu; việc tiên lượng lắp giá chính xác, sát thực tế; việc
đưa ra một bản thuyết trình tổ chức thi công và đưa ra các biện pháp kỹ thuật hợp
lý để tạo ra một bộ Hồ sơ dự thầu có chất lượng đều do cán bộ tham gia đấu thầu
lập lên. Có thể nói trình độ năng lực của cán bộ tham gia đấu thầu có ảnh hưởng
trực tiếp đến chất lượng của Hồ sơ dự thầu. Trong khi đó yêu cầu đòi hỏi của những
gói thầu ngày càng cao. Muốn trúng thầu phải có những cán bộ có kiến thức sâu
rộng trong lập Hồ sơ dự thầu và những cán bộ, chuyên viên kỹ thuật giỏi có năng lực,
trình độ chuyên môn tham gia vào ban lập dự án công trình và đảm trách các vị trí quan
trọng như thuyết minh giải pháp kỹ thuật, biện pháp thi công và chỉ huy công trình. Do
đó nâng cao trình độ cho các cán bộ tham gia đấu thầu cũng chính là nâng cao chất
lượng của Hồ sơ dự thầu và nâng cao khả năng trúng thầu của công ty.
Nhìn chung, khi đề cập tới mối quan hệ này có thể xem xét trên các phương
diện khác nhau nhưng chung quy lại phải thấy rõ vai trò hết sức quan trọng của việc
nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công nhân viên đối với công tác dự thầu trong
xây dựng và ngược lại.
Khi đánh giá về chất lượng nguồn nhân lực của một doanh nghiệp xây dựng
chúng ta chủ yếu phân tích 2 mặt chính sau: Quy mô, cơ cấu nguồn nhân lực và
chính sách đào tạo, tuyển dụng của doanh nghiệp:
* Sự biến động quy mô, cơ cấu nguồn nhân lực theo thời gian:
Quy mô nguồn nhân lực là chỉ tiêu khái quát chung giúp chủ đầu tư đưa ra
nhận định ban đầu về năng lực của nhà thầu, sự lớn mạnh về nguồn nhân lực là một
minh chứng cho sự lớn mạnh của công ty. Tuy nhiên, để làm rõ chất lượng nguồn
nhân lực của nhà thầu, chúng ta cần phải phân tích được cơ cấu nguồn nhân lực đó
như thế nào. Đối với nhà thầu xây dựng nguồn nhân lực gồm 3 bộ phận chính:
+ Công nhân kĩ thuật: Là lực lượng lao động trực tiếp, được đào tạo để có một
nghề thi công chuyên sâu nhất định, góp phần quyết định tới năng suất và chất
13
lượng thi công của các công trình. Công nhân kĩ thuật trực tiếp thi công công trình
có thể tham gia nhiều công trình khác nhau cùng một lúc. Tuy vậy, nhiều xe máy,
thiết bị chưa hẳn đã tốt mà điều quan trọng nhất là hiệu quả sử dụng chúng. Yếu tố
hiệu quả chỉ có thể đạt được khi nhà thầu biết đầu tư và sử dụng đúng, đủ, kịp thời
14
máy móc thiết bị của mình. Một nhà thầu với lực lượng xe máy, thiết bị đồng bộ
chắc chắn sẽ làm việc hiệu quả hơn là huy động thật nhiều thiết bị nhưng không ăn
khớp với nhau trong hoạt động.
Năng lực về xe máy, thiết bị thi công sẽ được các nhà thầu giới thiệu trong
hồ sơ dự thầu của mình, nó chứng minh cho bên mời thầu biết khả năng huy động
nguồn lực về xe máy thi công công trình đáp ứng yêu câù của chủ đầu tư. Năng lực
về thiết bị sẽ được đánh giá qua các nội dung sau:
+ Nguồn lực về máy móc thiết bị và xe máy thi công của doanh nghiệp thể
hiện thông qua tổng giá trị các tài sản là máy móc thiết bị và xe máy thi công hiện
có của doanh nghiệp về số lượng, chủng loại của các máy móc thiết bị đó. Nếu
nguồn lực này không đảm bảo doanh nghiệp phải đi thuê phục vụ cho thi công sẽ
ảnh hưởng đến khả năng tranh thầu.
+ Trình độ hiện đại của công nghệ sản xuất, tức là các máy móc thiết bị công
nghệ của doanh nghiệp sử dụng có hiện đại so với trình độ công nghệ hiện tại trong
ngành xây dựng hay không.Trình độ hiện đại của công nghệ được thể hiện qua các
thông số kỹ thuật về đặc tính sử dụng, công suất và phương pháp sản xuất của công
nghệ hoặc có thể đánh giá qua thông số về năm sản xuất, quốc gia sản xuất và giá trị
còn lại của máy móc thiết bị .
+ Mức độ hợp lý của thiết bị xe máy và công nghệ hiện có, tức là tính đồng bộ
trong sử dụng máy móc thiết bị và công nghệ và sự phù hợp trong điều kiện đặc thù
về địa lý, khí hậu, địa chất, nguyên vật liệu sự phù hợp giữa giá cả và chất lượng
của sản phẩm do công nghệ đó sản xuất ra.
Bên cạnh năng lực máy móc thiết bị, yếu tố quan trọng giúp nhà thầu giảm
giá thành, rút ngắn thời gian thi công mà vẫn đảm bảo chất lượng công trình đó là
việc ứng dụng KHCN hiện đại vào hoạt động xản suất kinh doanh. Ứng dụng
KHCN có thể được triển khai trên nhiều khía cạnh như: Ứng dụng KHCN vào trong
+ Năng lực cung ứng máy móc thiết bị: Đối với doanh nghiệp xây dựng thì
máy móc thiết bị là vấn đề tối quan trọng trong quá trình thi công. Chính vì vậy việc
cung ứng đầy đủ nhanh chóng, kịp thời các thiết bị máy móc phục vụ thi công là
điều mà các doanh nghiệp cần chú trọng. Để làm được điều này thì các nhà thầu nên
tìm cho mình những hợp đồng kinh doanh, xây dựng mối liên kết chặt chẽ với các
nhà sản xuất, các doanh nghiệp cho thuê máy để đáp ứng kịp thời nhu cầu của mình.
+ Năng lực cung ứng nguyên, nhiên vật liệu: Trong thi công xây dựng công
trình thì yếu tố đầu vào nguyên, nhiên vật liệu luôn có ý nghĩa quyết định đến tiến
độ và chất lượng công trình. Mặt khác, nguyên nhiên vật liệu cung cấp luôn chiếm
lượng vốn rất lớn trong quá trình xây dựng nên khả năng cung ứng của doanh
nghiệp chủ yếu phụ thuộc vào khả năng tài chính của nhà thầu và các mối quan hệ
giữa nhà thầu với các nhà cung ứng.
16
+ Năng lực cung ứng dịch vụ: Cũng như các lĩnh vực kinh doanh khác, trong
lĩnh vực xây dựng cũng không thể thiếu được các dịch vụ kèm theo như: dịch vụ
vận tải, tư vấn, thiết kế, giám sát Tuy không trực tiếp tham gia vào thi công
nhưng các dịch vụ này cũng góp phân không nhỏ vào tiến độ và chất lượng của các
công trình. Với doanh nghiệp mạnh, hoạt động rộng trên nhiều lĩnh vực trong ngành
xây dựng thì việc cung cấp các dịch vụ này dường như là một lợi thế cho doanh
nghiệp trong cạnh tranh đấu thầu.
2.6. Năng lực dự báo giá trong đấu thầu
Khác với các loại sản phẩm khác, giá cả sản phẩm xây dựng được xác định
trước khi nó ra đời và đem ra tiêu dùng. Khi được định giá thông qua dự thầu, giá
cả sản phẩm xây dựng chính là giá bỏ thầu hay giá dự thầu của các nhà thầu được
ghi trong hồ sơ dự thầu. Vậy “giá dự thầu là giá do các nhà thầu ghi trong hồ sơ dự
thầu sau khi đã trừ phần giảm giá (nếu có) bao gồm toàn bộ các chi phí cần thiết để
thực hiện gói thầu”. Giá dự thầu sẽ là cố định chọn gói để thực hiện toàn bộ khối
lượng công việc xây dựng theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu. Giá dự thầu bao gồm
các nội dung sau:
+ Tổng giá: Bao gồm tổng giá các hạng mục công trình.
cạnh tranh với các doanh nghiệp khác. Nhân tố này có tác động không nhỏ tới kết
quả đánh giá chung của bên mời thầu đối với nhà thầu cũng bởi vì sản phẩm xây
dựng được tiêu thụ trước khi tiến hành việc xây lắp tạo ra các sản phẩm này và tài
liệu quá khứ của nhà thầu chính là bằng chứng thực tế để nhà thầu khẳng định khả
năng và năng lực thi công của mình có thể xây lắp và hoàn thành các công trình có
tính chất và qui mô tương tự với công trình đang được đấu thầu với chất lượng đảm
bảo. Đối với những công trình có qui mô lớn, yêu cầu kỹ thuật phức tạp thì nhân tố
này được nhà thầu khá coi trọng và sẽ chiếm một tỉ lệ khá cao trong tổng số điểm
đánh giá nhà thầu của bên mời thầu. Mặt khác, khi doanh nghiệp đã nâng cao khả
năng cạnh tranh của mình, tức là có điều kiện thi công các công trình và như vậy
kinh nghiệm trong ngành xây dựng của doanh nghiệp cũng được nâng lên.
Kinh nghiệm nhà thầu cũng được thể hiện qua tỉ lệ thắng thầu trên tổng số
các công trình mà công ty tham gia dự thầu:
Số công trình thắng thầu
Tỷ lệ thắng thầu =
Tổng số công trình tham gia dự thầu
Số lượng công trình, dự án mà công ty đã tham gia thực hiện là tiêu chí cơ bản
và sát thực nhất đảm bảo với nhà đầu tư về uy tín, kinh nghiệm cũng như độ thành
công và những đảm bảo khác kèm theo khi doanh nghiệp được thực hiện công trình,
chính vì thế, một doanh nghiệp phát triển và làm ăn có hiệu quả là doanh nghiệp
18
“chiếm” được nhiều công trình hơn so với các doanh nghiệp khác, điều đó cũng
đông nghĩa một điều rằng: doanh nghiệp đó có sức cạnh tranh trên thị trường.
3.2. Khả năng tài chính
Qua được “vòng loại” tức là đánh giá hồ sơ sơ tuyển, các nhà thầu bây giờ
mới thực sự bước vào cuộc cạnh tranh khốc liệt khi bên mời thầu tiến hành đánh giá
chi tiết hồ sơ dự thầu, mà trong đó năng lực tài chính là yếu tố được xem xét hàng
đầu và cũng là yếu tố chủ đạo tạo ra sự khác biệt giữa các nhà thầu, còn năng lực kĩ
thuật, thật ra đã vào đến vòng này thì hầu hết các nhà thầu đều đảm bảo rất tốt về
trở thành nhân tố quan trọng bậc nhất trong cạnh tranh về đấu thầu giữa các doanh
nghiệp xây dựng. Có rất nhiều nhà thầu trong cuộc cạnh tranh đó có những điều
kiện tương đồng về kinh nghiệm, tài chính và năng lực kĩ thuật, tuy nhiên nhà thầu
giành phần thắng chính là nhà thầu bỏ thầu với mức giá thấp nhất trong số đó và đó
là mức giá hợp lí. Nói hợp lí bởi vì, để tránh tình trạng móc ngoặc giữa nhà thầu và
bên mời thầu trong một số trường hợp (như các công trình của nhà nước) thì pháp
luật về đấu thầu đã quy định mức giá bỏ thầu thấp nhất cũng không chênh lệch quá
15% so với mức giá mà chủ đầu tư đưa ra, nêu vượt quá con số đó sẽ bị loại trực
tiếp hồ sơ dự thầu. Điều này đòi hỏi các nhà thầu phải tính toán chi tiết và cặn kẽ
các loại chi phí phát sinh, để có thể có được mức giá dự thầu tốt nhất.
3.4. Mức độ đáp ứng các mục tiêu của chủ đầu tư
Các yêu cầu mà chủ đầu tư đưa ra trong hồ sơ mời thầu đòi hỏi các nhà thầu
khi tham gia đấu thầu phải tuân thủ nghiêm ngặt các nội dung cũng như thứ tự sắp
xếp các nội dung trong đó, đặc biệt bên mời thầu quan tâm nhiều đến mục tiêu quan
trọng đó là: Hiệu quả. Với mục tiêu này yêu cầu chủ đầu tư phải đảm bảo cả về mặt
chi phí hợp lí lẫn thời gian hoàn thành công việc. Bên cạnh đó nhà thầu cũng cần
phải tham dự đấu thầu một cách trong sáng, cạnh tranh lành mạnh và đảm bảo
không có gì thiên vị hay khuất tất. Tóm lại bốn mục tiêu mà cả bên mời thầu lẫn
nhà thầu đều quan tâm , đó là làm sao đảm bảo tính hiệu quả, cạnh tranh, công bằng
và minh bạch. Ngoài ra vì là khách hàng nên bên mời thầu có quyền bỏ tiền ra mua
sản phẩm hợp ý mình, cho nên nhà thầu vì thế phải đảm bảo những yêu cầu mà bên
mời thầu đưa ra. Nếu không thể làm được hoặc không làm đúng theo những yêu cầu
đó nhà thầu có thể không tham gia dự thầu hoặc sẽ bị loại khỏi cuộc chơi đó.
Như vậy bên cạnh việc xem xét những yếu tố về giá, kinh nghiệm và tài
chính, việc đưa ra những mục tiêu tối cần thiết và bắt buộc đối với các nhà thầu
nhằm tạo ra một sân chơi lành mạnh cho các nhà thầu khi tham dự vào cuộc đấu
thầu cũng là một trong số những tiêu chí có tầm quan trọng ảnh hưởng lớn tới sức
cạnh tranh trong đấu thầu của các nhà thầu.
20
III. SỰ CÂN THIẾT PHẢI NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH
nghiệp phải chi phí đến hàng trăm triệu đồng cho đấu thầu một dự án.
21
1.2. Đặc điểm đấu thầu trong lĩnh vực xây dựng
Đấu thầu có thể được xem như công việc thường ngày của doanh nghiệp xây
dựng. Tuy nhiên, một trong những quyết định quan trọng nhất mà doanh nghiệp đưa
ra, là có tham gia hay không khi xuất hiện cơ hội tranh thầu. Khi xuất hiện một gói
thầu cụ thể, doanh nghiệp cần phải nghiên cứu hồ sơ mời thầu, nghiên cứu gói thầu,
phân tích môi trường đấu thầu, đánh giá khả năng của mình với gói thầu và dự đoán
các đối thủ cạnh tranh, để xác định trạng thái của từng chỉ tiêu trong bảng danh mục
và số điểm tương ứng với trạng thái đó. Cuối cùng tính toán ra chỉ tiêu tổng hợp
theo công thức sau:
TH=
∑
=
N
i
Aipi
1
(1) Trong đó:
TH: Chỉ tiêu tổng hợp.
N: Số các chỉ tiêu trong danh mục
Ai: điểm số của chỉ tiêu số i ứng với trạng thái của nó
Pi: Trong số các chỉ tiêu i.
Khả năng thắng thầu được đo bằng tỷ lệ % theo công thức sau:
K=
100x
M
TH
(2) Trong đó:
K: khả năng thắng thầu tính bằng %
của nó đến đâu còn tùy thuộc vào nỗ lực vươn lên của chúng ta. Khi tất cả các ngành,
các nghề đều phát triển thì ngành xây dựng cũng không thể nằm ngoài quy luật phát
triển đó được. Ngành xây dựng phát triển tỉ lệ thuận với toàn ngành kinh tế. Bởi, khi
kinh tế phát triển đòi hỏi con người phải phát triển, cơ sở vật chất cũng phải được cải
thiện để phục vụ cho sự phát triển chung của toàn xã hội. Điều đó đồng nghĩa với nhiều
công trình cũ được sửa chữa, tu bổ và rất nhiều công trình mới ra đời. Và như vậy, xây
dựng cũng đòi hỏi phát triển theo. Khi đó ngành xây dựng cũng đặt ra nhiều yêu cầu
cao hơn để đáp ứng được với nhu cầu phát triển của nền kinh tế.
Đối với lĩnh vực xây dựng thì năng lực của nhà thầu hết sức quan trọng, nó không
chỉ là điều kiện để chủ đầu tư xét duyệt hồ sơ dự thầu mà còn là cơ sở để nhà thầu đứng
vững trong lĩnh vực xây dựng; một lĩnh vực mà đòi hỏi ở đó có sự kết hợp của rất nhiều
yếu tố và một môi trường làm việc khắc nghiệt. Trong bất cứ hồ sơ dự thầu nào của nhà
thầu tham gia đầu thầu không thể thiếu được bản thuyết minh năng lực của công ty mình,
trong đó có thiết kế kỹ thuật và thiết kế bản vẽ thi công, các phụ lục mô tả đặc điểm kỹ
thuật, quy cách, chất lượng và bản thuyết minh kỹ thuật và giá cả của công trình. Để làm
được điều này đòi hỏi nhà thầu cần có các phòng ban chuyên nghiệp để làm công tác
thiết kế, định giá dự án để tham gia đấu thầu. Trong quá trình tham gia đấu thầu, năng
lực của nhà thầu là yếu tố để chủ đầu tư xem xét để ra quyết định xem nhà thầu nào sẽ
thắng thầu. Do vậy năng lực của nhà thầu là rất quan trọng.
Thị trường xây dựng Việt Nam, quy chế đấu thầu ngày càng hoàn thiện điều
này buộc các doanh nghiệp xây dựng muốn tồn tại hay đồng nghĩa với việc giành
thắng lợi trong đấu thầu, thì phải tự hoàn thiện mình.
23