Câu 1. MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐỘC LẬP DÂN TỘC VÀ CNXH: Chủ tịch
HCM khẳng định: “Nếu nước độc lập mà dân không được hưởng hạnh
phúc, tự do thì độc lập chẳng có ý nghĩa gì”. Đ/c hãy phân tích rõ luận
điểm đó và kiên hệ với giai đoạn cách mạng hiện nay.
Bài làm
Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề độc lập dân tộc gắn liền với CNXH
chính là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mac-Lênin với phong trào
công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam; Tư tưởng Hồ Chí Minh về
vấn đề dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc vừa là sự kết hợp tinh
hoa dân tộc và trí tuệ thời đại, vừa thể hiện tinh thần độc lập, tự chủ,
sáng tạo của Người; Đó là lý luận về cách mạng giải phóng dân tộc,và
tiến lên CNXH ở các nước thuộc địa; là tư tưởng giải phóng dân tộc, giải
phóng xã hội, giải phóng con người, mà hạt nhân trung tâm là độc lập
gắn liền với CNXH. Đất nước được độc lập thống nhất, nhân dân được
tự do hạnh phúc là mục tiêu phấn đấu cả cuộc đời của Người. Vấn đề
độc lập dân tộc gắn liền với CNXH luôn là một trong những vấn đề
trung tâm và được thể hiện rõ ràng, xuyên suốt trong quá trình hoạt động
cách mạng của Người ở trong nước và trên thế giới. Ở Hồ Chí Minh,
Người không có ham muốn nào hơn là đất nước được độc lập, nhân dân
được ấm no, hạnh phúc; Điều đó càng được khẳng định rõ hơn khi
Người nói: Nếu nước độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc, tự
do thì độc lập chẳng có ý nghĩa gì. Để làm rõ luận điểm trên, Chúng ta
cùng phân tích mối quan hệ giữa độc lập dân tộc phải gắn với con
đường xây dựng chủ nghĩa xã hội theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
Mục tiêu độc lập – dân tộc gắn liền với CNXH trong tư tưởng
Hồ Chí Minh được hình thành từ hai cơ sở là: cơ sở lý luận và cơ sở
thực tiễn; Ngay từ đầu những năm 20 của thế kỷ XX; khi đất nước Việt
Nam bị thực dân Pháp xâm lược, dân tộc ta phải chịu khổ cực dưới hai
tầng áp bức của bọn thực dân đế quốc và bọn phong kiến; nhiều phong
trào yêu nước của nhân dân ta nổi lên đấu tranh chống bọn thực dân đế
quốc, bọn phong kiến nhưng tất cả đều bị thất bại; vì vậy, trong nhận
sống . Tóm lại là những con người”phải có đủ đức và tài, tong đó đức là gốc”.
Về XD lực lượng, HCM cho rằng phải tập chung cũng cố khói đại đoàn kết
toàn dân. Mặt trận dân tộc thống nhất có vai trò hết sức quan trọng, MT lấy CN,
ND trí thức làm nồng cốt. Tạo sức mạnh về mặt tổ chức, ý nghĩa của MT DT
thống nhất HCM nêu “ trong CM DTDC ND cũng như trong CM XHCN, MT
DT thông nhất vẫn là 1 trong những lực lượng to lớn của CM VN. “
Theo Hồ Chí Minh, Đối với các nước thuộc địa như nước Việt Nam
giai đoạn này, độc lập dân tộc trước nhất chỉ có được khi cách
3
2
kháng chiến rõ ràng, bất cập trước lịch sử, dựa trên ý thức hệ phong kiến
hoặc xu hướng dân chủ tư sản nên không tránh khỏi thất bại và bị thực
dân Pháp thẳng tay đàn áp các phong trào yêu nước của nhân dân ta. Từ
đó, HCM đã bắt đầu đi tìm con đường cứu nước mới. Trong quá trình bôn
ba ở nước ngoài, HCM đã khảo sát tất cả các điển hình thế giới từ nước
Pháp, các nước ở Châu phi, Mỹ, Anh, Nga nhằm tìm hiểu kẻ thù của dân
tộc, thế giới văn minh và tìm hiểu các cuộc cách mạng lớn trên thế giới,
khảo sát, tìm hiểu nghiên cứu các kiểu nhà nước và cuộc sống của nhân
dân các dân tộc bị áp bức. Từ đó, Người đã nêu ra hai phương diện và rút
ra kết luận: cách mạng tư sản không triệt để vì không giải phóng được
con người, không mang lại lợi ích cho toàn thể nhân dân lao động vì thế
Người cho rằng làm cách mạng không nên theo cách mạng tư sản. Cách
mạng tháng Mười Nga là cuộc cách mạng vô sản, là cuộc cách mạng triệt
để, đem lợi ích đến cho toàn thể nhân dân lao động và chế độ thuộc địa,
nhà nước thuộc địa Người kết luận đo ùlà chế độ dã man nên cần phải
đánh đổ nó đi. Đặc biệt, khi tiếp xúc với luận cương của Lênin về vấn
đề dân tộc và thuộc địa, HCM đã tìm thấy con đường chân chính cho sự
nghiệp cứu nước giải phóng dân tộc; đây chính là cơ sở lý luận hình
thành tư tưởng Hồ Chí Minh. Sự kiện đó đánh dấu bước nhảy vọt về chất
trong tư tưởng HCM, từ CN yêu nước đến CN Lênin, từ giác ngộ dân tộc
Độc lập dân tộc đòi hỏi trước hết phải đảm bảo cho dân tộc đó quyền
tự quyết dân tộc, quyền lựa chọn chế độ chính trị, lựa chọn con đuờng và
mô hình phát triển, độc lập cả về chính trị, kinh tế, văn hoá. Vì Vậy, chỉ
có thể tiến hành thành công cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, đất nước
giành được độc lập thì dân tộc ấy mới có thể tự chọn lựa con đường đi,
hướng phát triển của đất nước mình làtheo con đường CNXH. Nói cách
khác, giành được độc lập dân tộc là tiền đề cho việc xây dựng chế độ
mới- chế độ XHCN.
Độc lập dân tộc cũng đòi hỏi phải thực sự bảo đảm quyền làm chủ của
nhân dân, nhân dân có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, con người
được phát triển toàn diện, hạnh phúc, con người được làm chủ. Độc lập tự
do đòi hỏi phải xoá bỏ mọi tình trạng áp bức, bóc lột, nô dịch của dân tộc
này đối với dân tộc khác về kinh tế, chính trị và tinh thần. Sự trao đổi,
hợp tác kinh tế, văn hoá giữa các nước dựa trên nguyên tắc tôn trọng chủ
quyền của nhau, bình đẳng và cùng có lợi, vì một thế giới không có chiến
tranh, không có sự hoành hành của cái ác, của những sự tàn bạo và bất
công,bảo đảm cho con người sống trong an ninh và hạnh phúc. Vì vậy, để
đảm bảo độc lập dân tộc thực sự và giữ
3
vững thành quả ấy, cả nước phải tiến lên chủ nghĩa xã hội. Đó là quy luật
của thời đại, đáp ứng nguyện vọng ngàn đời của nhân dân talàđộc lập, tự
do, ấm no, hạnh phúc. Người nói: chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi
mà dân cứ chết đói, chết rét thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Để giữ
vững độc lập, tự chủ, để đảm bảo cho nhân dân một cuộc sống ấm no
hạnh phúc, chúng ta không có con đường nào khác là phải tiến lên chủ
nghĩa xã hội.
Với ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, cuộc cách mạng
giải phóng dân tộc không chỉ mang lại độc lập thống nhất cho tổ quốc,
mà trong từng bước phải mang lại tự do, hạnh phúc cho toàn dân.
Đối với chúng ta, kinh nghiệm lịch sử hiện đại chứng minh rằng,
biểu hiện trong mọi sinh hoạt đời sống tinh thần của xã hội. Phát triển
giáo dục nâng cao dân trí, phát triển văn hoá nghệ thuật và đào tạo con
người mới. Củng cố và mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất, phát huy
sức mạnh của dân tộc, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân vì xây dựng
CNXH cũng là nhiệm vụ của toàn thể nhân dân ta; đồng thời phải xây
dựng đội ngũ cán bộ đủ đức vàtài, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách
mạng XHCN. Về phương diện quốc tế, theo Hồ Chí Minh, sự nghệp xây
dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta buộc chúng ta phải có ý thức độc lập tự
chủ, tự lực, tự cường, tranh thủ các điều kiện quốc tế thuận lợi, hạn chế
những khó khăn để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Về bước đi
của thời kỳ quá độ, Người đã chỉ rõ: Ta xây dựng CNXH từ 2 bàn tay
trắng đi lên thì khó khăn còn nhiều và dài, phải làm dần dần, không thể
một sớm một chiều.Về phương pháp, biện pháp, cách thức tiến hành xây
dựng CNXH ở Việt Nam, Người luôn nhắc nhở phải nêu cao tinh thần
độc lập, tự chủ, sáng tạo, chống giáo điều rập khuôn kinh nghiệm nước
ngoài, phải suy nghĩ tìm tòi, sáng tạo ra cách làm phù hợp với thực tiễn
Việt Nam.
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn đi lên CNXH ở nước ta
giai đoạn hiện nay, trong điều kiện thế giới và trong nước ta có những
thụân lợi và khó khăn nhất định chính vì vậy, Đại hội lần thứ IX của
Đảng đã khẳng định: Trước tình hình hiện nay, mặc dù XHCN vẩn là sự
phát triển tất yếu của lịch sử xã hội loài người là sự lựa chọn đi theo con
đường CNXH của chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân là sự lựa chọn duy
nhất đúng đắn.đất nước đang đứng trước những thử thách lớn lao của thời
đại lịch sử Đảng và nhà nước ta phải kiên định con đường mục tiêu của
mình và phải lấy CN Mác- Lênin tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư
tưởng, kim chỉ nam cho hành động. Trong sự nghiệp đổi
5 7
4
mới hiện nay, chỉ có kiên định mục tiêu cao cả ấy chúng ta mới giải
điều đó để ra sức phấn đấu hết sức mình vì mục tiêu, lý tưởng cao cả ấy
mà Người và Đảng ta đã mang lại cho chúng ta ngày hôm nay./.
cấp tư sản bóc lột, mà còn muốn thoát khỏi mọi kiểu áp bức, bóc lột để
mọi người được sống trong ấm no, tự do và hạnh phúc. Muốn vậy, độc
lập dân tộc phải gắn liền với CNXH. Để thực hiện con đường, mục tiêu
độc lập dân tộc và CNXH như đã phân tích như trên; theo Hồ Chí Minh,
cách mạng giải phóng dân tộc muốn thắng lợi trước nhất phải đi theo con
đường cách mạng vô sản, tư tưởng này thể hiện rõ qua luận điểm:Chỉ có
giải phóng giai cấp vô sản thì mới giải phóng được dân tộc, cả hai cuộc
giải phóng này chỉ có thể là sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản và cuộc
cách mạng thế giới. Cách mạng giải phóng dân tộc muốn thắng lợi còn
phải do Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo. Bên cạnh đó, Người cũng
chỉ rõ cách mạng giải phóng dân tộc là sự nghiệp đoàn kết của toàn dân,
trên cơ sở liên minh công – nông. Hồ Chí Minh cũng chỉ rằng muốn giải
phóng dân tộc phải thực hiện con đường cách mạng bạo lực, song Hồ
Chí Minh luôn chủ động, tích cực đưa ra giải pháp để tranh thủ khả năng
hoà bình và phát triển của cách mạng.
Theo tư tưởng của Người, làm Cách mạng xã hội chủ nghĩa là để xây
dựng chế độ xã hội XHCN, là một XH tốt đẹp, một XH vì con người, là
chế độ do nhân dân lao động làm chủ, là một xã hội có nền kinh tế phát
triển cao dựa trên lực lượng sản xuất ngày càng hiện đại và chế độ công
hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu; nhằm không ngừng nâng cao đời sống
vật chất cho nhân dân; là một xã hội phát triển cao về văn hoá, đạo đức,
trong đó, người với người là bạn bè, là đồng chí là anh em, con người
được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, có cuộc sống tinh thần phong phú;
là một xã hội công bằng và hợp lý, các dân tộc đều bình đẳng; là công
trình tập thể của nhân dân, do nhân dân tự xây dựng lấy dưới sự lãnh đạo
của Đảng. Đó là bản chất của CNXH và cũng là mục tiêu mà Đảng và
nhân dân ta đang ra sức phấn đấu để đạt tới. Theo TTHCM, hệ thống
động lực của chủ nghĩa xã hội rất phong phú, trong đó bao trùm lên tất
Vậy tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá có những nội
dung như thế nào? Chúng ta sẽ lần lượt trình bày và làm rõ
các vấn đề như sau:
Nói đến VH trong tư tưởng HCM, đó là sự hài hòa của tinh hoa
VH dân tộc và VH nhân loại. HCM là biểu hiện cao nhất của
1
để giải phóng chính trị, giải phóng XH, từ đó giải phóng VH,
mở đường cho VH phát triển. Xây dựng KT để tạo điều kiện cho việc
xây dựng và phát triển VH. HCM đã chỉ rõ: KT thuộc về cơ sở hạ
tầng, còn VH thuộc về kiến trúc thượng tầng. Từ đó Người nêu ra
luận điểm phải xây dựng KT, xây dựng cơ sở hạ tầng để có điều kiện
xây dựng và phát triển VH. Tục ngữ ta có câu: Có thực mới vực
được đạo, vì thế phải phát triển KT trước mới có điều kiện và cơ sở
để phát triển nền VH. VH không thể đứng ngòai, mà phải ở trong
KT và CT. Điều này có nghĩa là VH phải phục vụ nhiệm vụ CT, thúc
đẩy xây dựng và phát triển KT, tác động tích cực trở lại đối với KT
và CT, như một động lực hết sức quan trọng. Chủ tịch HCM đã
khẳng định: "VH, nghệ thuật cũng như mọi họat động khác, không
thể đứng ngòai, mà phải ở trong KT và CT". Quan điểm này của
HCM đã định hướng cho mọi họat động VH, động viên giới VH văn
nghệ trong suốt hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc ta, cũng
như trong sự nghiệp xây dựng CNXH hiện nay ở nước ta.
Theo HCM, VH còn là động lực, mục tiêu của sự nghiệp cách
mạng. Độc lập dân tộc mang lại giá trị đích thực cho VH, xây dựng
CNXH là phải có nền VH tiên tiến, “VH soi đường cho quốc dân
đi”, phải đem VH lãnh đạo quốc dân để thực hiện độc lập, tự cường,
tự chủ.
Trong lĩnh vực VH, Người là người chiến sĩ tiên phong, đặt nền tảng
cho nền văn học - nghệ thuật, báo chí cách mạng, đấu tranh cho độc
lập dân tộc và lẽ phải trên trái đất, sự đóng góp của Người về VH rất
hành CM chính trị trước
2
làm, từng cử chỉ, từng mối quan hệ với đồng chí, đồng bào
và bạn bè quốc tế. Người còn là nhà nhà giáo dục vĩ đại, Người đã
sáng lập và rèn luyện đảng cộng sản VN trở thành một đảng cách
mạng chân chính, là người thầy, người cha thân yêu của lực lượng
vũ trang. Người đã đào tạo nhiều thế hệ cán bộ cách mạng, xả thân
vì độc lập dân tộc, tự do, hạnh phúc cho nhân dân, đào tạo ra nhiều
nhà hoạt động chính trị lỗi lạc, nhiều nhà quân sự tài ba. HCM là
người đặt nền tảng cho nền giáo dục mới VN, đưa nó đi theo
phương châm dân tộc, khoa học và đại chúng, kết hợp khoa học với
thực tiễn.
Một trong những nội dung cơ bản của tư tưởng HCM về VH là xây
dựng nền VH mới VN. Bởi vì, Người xác định, VH có vị trí quan
trọng trong cuộc sống của con người. Đó là toàn bộ những giá trị về
vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong hoạt động thực
tiễn lịch sử của mình. Theo tư tưởng HCM, yêu nước là nấc thang
giá trị cao nhất của dân tộc VN và của nền VH VN. Kế tục phẩm
chất bền vững đó của VH dân tộc trong quá khứ, nền VH mới phải
tiếp tục phát triển với những đặc trưng mới. Đó chính là sự gắn bó
mật thiết và trở thành một bộ phận của sự nghiệp CM, là sự hài hòa
giữa lý tưởng độc lập dân tộc với lý tưởng XHCN trong nền VH đó,
trở thành nội dung cốt lõi của nó trong thời đại mới. Như vậy, chứa
đựng trong nền VH mới của VN ta, theo tư tưởng HCM là những
giá trị bền vững, cao quý và những tinh hoa của VH và truyền thống
dân tộc cùng với những giá trị mới được xây đắp và phát triển trong
thời kỳ hiện đại của dân tộc ta. Có nghĩa là xây dựng một nền VH
tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Về phẩm chất dân tộc, đậm đà
bản sắc dân tộc
7
mặt trận, xây dựng văn hoá là sự nghiệp cách mạng lâu dài cần phải
có ý chí cách mạng đồng thời phải kiên định và thận trọng, kết hợp
giữa xây với chống và lấy xây làm chính
Trên cơ sở thực trạng VH nước ta mà Hội nghị TW5 (khóa VIII) đã
đánh giá, Hội nghị TW10 (khóa IX) tiếp tục khẳng định giá: VH đã
gắn kết chặt chẽ hơn với các lĩnh vực của đời sống XH, đã góp phần
quan trọng vào việc giữ vững ổn định chính trị và tạo nên những
thành tựu về KT, XH, an ninh, quốc phòng, đối ngoại… của đất
nước. Đã có sự tham gia tích cực, tự giác của nhân dân vào các hoạt
động VH, đặc biệt là cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng
đời sống VH” đã tạo được chuyển biến bước đầu và tiền đề rất quan
trọng để VH nước nhà tiế tục phát triển đúng hướng và vững chắc.
Các giá trị VH ngày càng thể hiện rõ hơn vai trò tích cực và khả
năng tác động mạnh vào các lĩnh vực của đời sống. Những nét mới
trong chuẩn mực VH và trong nhân cách con người VN thời kỳ
CNH, HĐH từng bước được hình thành. Tuy nhiên, những thành
tựu và tiến bộ đạt được trong lĩnh vực VH còn chưa tương xứng và
chưa vững chắc, chưa đủ để tác động có hiệu quả đối với các lĩnh
vực của đời sống XH, đặc biệt là lĩnh vực tư tưởng, đạo đức, lối
sống. Nhiệm vụ xây dựng con người VN trong thời kỳ CNH, HĐH
chưa tạo được chuyển biến rõ rệt. Môi trường VH còn bị ô nhiễm
bởi các tệ nạn XH, còn sự lan tràn các sản phẩm và dịch vụ mê tín
dị đoan, độc hại, thấp
5 7
8
kém, lai căng… Sản phẩm VH và các dịch vụ VH ngày càng
phong phú nhưng vẫn rất thiếu những tác phẩm văn học, nghệ thuật
có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật, có ảnh hưởng tích cực và
sâu sắc trong đời sống XH. Trong một bộ phận đội ngũ trí thức, văn
nghệ sĩ, những người hoạt động trên lĩnh vực VH, thông tin, báo chí
cần được học tập, đào tạo để có trình độ nhất định về chuyên môn,
khoa học, đạo đức, pháp luật, Hồ Chủ tịch đã từng dạy chúng ta
“Vì lợi ích 10 năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người”.
Ngoài ra Người còn chỉ rõ “VH phải gắn liền với lao động sản xuất,
VH xà đời sống, xa lao động là VH suông” và “phải làm thế nào
cho VH vào sâu trong tâm lý của quốc dân, nghĩa là VH phải sửa
đổi được tham nhũng, được lười biếng, phù hoa, xa xỉ”. Tức, VH
phải gắn liền đời sống XH, phải có tác dụng cải tạo những thói hư
tật xấu của XH; đồng thời VH tạo được sức mạnh vật chất, tinh thần
thắng ngoại xâm theo tinh thần “văn minh thắng bạo tàn”.
Trong công cuộc đổi mới Đảng ta chủ trương “xây dựng nền
VH VN tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” (NQ TW5, khóa VIII,
năm 1998). Nền VH đó được xây dựng trên cơ sở kiên định CN
Mác-Lênin và tư tưởng HCM với tinh thần chủ đạo là CN yêu nước
VN. Nhấn mạnh vai trò, chức năng quan trọng của VH đối với sự
tồn tại và phát triển XH ngày nay; VH vừa là nền tảng tinh thần,
vừa là mục tiêu và động lực của sự phát triển KTXH. Phải nhận
thức rõ nền văn hoá VN là nền văn hoá thống nhất và đa
8 6
9
điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội
nhập kinh tế quốc tế. Bảo đảm sự gắn kết giữa nhiệm vụ phát triển
kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt với phát triển văn
hoá - nền tảng tinh thần của xã hội. Xây dựng đời sống văn hoá
tiên tiến, thúc đẩy sáng tạo văn hoá và xây dựng thiết chế văn hoá.
Đặc biệt coi trọng nâng cao văn hoá lãnh đạo và quản lý, văn hoá
trong kinh doanh và văn hoá trong nhân cách của thanh niên, thiếu
niên; chống những hiện tượng phản văn hoá, phi văn hoá.
Đẩy mạnh việc xây dựng đời sống văn hoá đại chúng, xây
dựng môi trường văn hoá lành mạnh, đi đôi với bồi dưỡng các tài
mà Người để lại cho dân tộc chúng ta và cho nhân loại. Do đó trách
nhiệm của mỗi chúng ta cần phải nghiên cứu, khai thác, vận dụng
những di sản tư tưởng của Người về văn hoá vào nhiệm vụ cụ thể
trên từng lĩnh vực góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu “Dân giàu,
nước mạnh xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”, tiến tới xây dựng
thành công CNXH và bảo vệ vững chắt nền độc lập của Tổ quốc,
hạnh phúc của nhân dân./.
10
Câu số 4: Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh:
“Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết.
Thành công, thành công, đại thành công.”
Phân tích và chứng minh luận điểm ấy của người. Vận
dụng vào giai đoạn hiện nay và nêu rõ những quan điểm của Đảng
trong xây dựng củng cố khối đại đoàn kết dân tộc trong thời kỳ
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Bài làm
Đảng lãnh đạo nhân dân làm cách mạng nhưng cách mạng
là sự nghiệp của quần chúng, không phải là công việc của một số
người, của riêng Đảng Cộng Sản. Đảng lãng đạo để nhân dân đứng
lên đấu tranh tự giải phóng và xây dựng xã hội mới do mình làm
chủ. Sự nghiệp ấy chỉ có thể được thực hiện bằng sức mạnh của cả
dân tộc, bằng đại đoàn kết dân tộc. Theo quan điểm của Hồ Chí
Minh, đại đoàn kết dân tộc là một trong những nhân tố quan trọng
nhất bảo đảm thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Người nhấn
mạnh:
“Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết.
Thành công, thành công, đại thành công.”
Tư tưởng HCM về ĐĐK là một hệ thống những luận
điểm, những nguyên tắc, những phương pháp giáo dục và tập
hợp tổ chức lực lượng cách mạng, nhằm phát huy đến mức cao
vững chắc của khối ĐĐK dân tộc.
Khối ĐĐK của chúng ta là một tập hợp các lực lượng XH có định
hướng chính trị rõ rệt và có tổ chức chặt chẽ, tổ
ĐĐK. Thành công, thành công, đại thành công”, ở đây
muốn nói lên phạm vi và đối tượng ĐĐK rất rộng, nhiều tầng,
nhiều lớp.
Đối với Đảng, thì việc đoàn kết trong Đảng là nhân tố hạt
nhân của mọi sự đoàn kết, vì Đảng là người lãnh đạo toàn diện,
chỉ có đoàn kết nhất trí cao trong Đảng thì mới có thể tập hợp
đoàn kết các tầng lớp khác. Đây là một quan điểm luôn được
HCM quan tâm và đã khắc ghi trong di chúc thiêng liêng của
Người “Đoàn kết là cực kỳ quí báu của Đảng ta. Các đồng chí từ
TW đến cơ sở phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ
gìn con ngươi của mắt mình”.
Đoàn kết trong nước (toàn dân) là nhân tố quyết định thắng
lợi của cách mạng, đoàn kết toàn dân là đoàn kết tất cả những
người Việt Nam yêu nước, không phân biệt tôn giáo, sắc tộc, đảng
phái, lứa tuổi… thể hiện trong đường lối tập hợp lực lượng, xác
định lực lượng cách mạng rất rộng rãi, bao gồm không chỉ nhân
dân, công nhân, nông dân mà còn cả tiểu tư sản, trí thức, trung
nông, phú nông, trung địa chủ, tiểu địa chủ, tư sản dân tộc được
biểu hiện thông qua lời kêu gọi toàn dân (đặc biệt là lời kêu gọi
toàn quốc kháng chiến).
Tư tưởng đoàn kết quốc tế được HCM rất coi trọng, mặc dù yếu tố
nội lực là chính, nhưng cũng phải đoàn kết với phong trào cộng
sản và công nhân quốc tế, phong trào giải phóng dân tộc và đoàn
kết với phong trào hòa bình, dân chủ thế giới. Bởi vì trong thời
đại mới, kẻ thù mang tính quốc tế, cách mạng mỗi nước là một bộ
phận hữu cơ của cách mạng thế giới, cho nên
3
đạo của Đảng CS Việt Nam, nó vừa là vấn đề lâu dài và chiến
lược, nhưng cũng không được tuyệt đối hóa vai trò liên minh và
mặt trận.
Tư tưởng HCM về ĐĐK được xây dựng trên các ph.pháp
cụ thể sau:
Một là, Phương pháp tuyên truyền giáo dục và vận động
quần chúng: yêu cầu phương pháp này là nội dung, cách thức
tuyên truyền, giáo dục và vận động quần chúng phải thật sự khoa
học nhằm mục đích làm cho mọi người tự nhận thức được sự cần
thiết phải tập hợp lại, đoàn kết lại để tự giác tham gia gánh vác
công việc của cách mạng. Vì muốn cho dân làm cách mạng phải
cho dân hiểu, dân tin và vận động quần chúng thì phải nói đi, nói
lại nhiều lần. Nội dung tuyên truyền phải cụ thể hóa đường lối
chính sách của Đảng và của Nhà nước thành những mục tiêu
chính trị cụ thể để đáp ứng nguyện vọng của nhân dân, nội dung
phải sát hợp đối tượng nhằm đánh vào tâm lý thói quen, công
việc tuyên truyền phải thích hợp, cách nói và cách viết phải cụ
thể làm cho nhân dân dễ hiểu.
Hai là, Phương pháp XD và kiện toàn hệ thống chính trị tức là
xây dựng mặt trận dân tộc thống nhất từ thấp đến cao phù hợp
với trình độ của quần chúng nhân dân. Mặt trận là tổ chức rộng
rãi liên quan đến việc tập hợp, đoàn kết dân tộc. Do vậy mặt trận
dân tộc càng rộng rãi, chặt chẽ, thống nhất bao nhiêu thì khối
ĐĐK mạnh mẽ và bền chặt bấy nhiêu, mặt trận và các đoàn thể
phải có cương lĩnh, có ch.trình hành động rõ ràng đáp ứng yêu
cầu và nguyện vọng của nh.dân, cán bộ đoàn
5
13
HCM về ĐĐK thì khi đó, nơi đó cách mạng gặp nhiều khó
khăn, tổn thất. Đại hội X của Đảng ta nhận định:
thống nhân nghĩa, khoan dung, xây dựng tinh thần cởi mở, tin cậy
lẫn nhau, giữ gìn sự ổn định chính trị và đồng thuận xã hội vì
tương lai tươi sáng của dân tộc.
Đại đoàn kết là sự nghiệp của toàn dân tộc, của cả hệ thống
chính trị mà hạt nhân lãnh đạo là các tổ chức đảng, được thực hiện
bằng nhiều biện pháp, hình thức, trong đó các chủ trương của
Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước có ý nghĩa quan trọng
hàng đầu. Các chính sách và pháp luật của Nhà nước phải nhằm
phát huy mạnh mẽ hơn nữa dân chủ (dân chủ đại diện, dân chủ trực
tiếp và chế độ tự quản của cộng đồng dân cư) đồng thời giữ vững
kỷ cương xã hội và đạo lý dân tộc.
Cần tiếp tục đổi mới và hoàn thiện các chính sách cụ thể đối
với các giai cấp, các tầng lớp, các dân tộc, các tôn giáo; chú trọng
chính sách đối với giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, đội ngũ
trí thức, các doanh nhân, thế hệ trẻ, phụ nữ, cựu chiến binh, người
cao tuổi, đồng bào định cư ở nước ngoài.
…
Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân có vai trò rất quan
trọng trong việc tập hợp, vận động, đoàn kết rộng rãi các tầng lớp
nhân dân; đại diện cho quyền lợi hợp pháp và nguyện
8
14
thể phải gương mẫu, phải yêu dân, tin dân, học hỏi nhân
dân và kính trọng nhân dân.
Ba là, Phương pháp kế hoạch đồng bộ các giải pháp ứng
xử nhằm mở rộng tối đa lực lượng cách mạng và thu hẹp tối đa
lực lượng đối địch. Theo HCM, chia lực lượng thành ba tuyến
(tuyến cách mạng, tuyến trung gian và tuyến phản cách mạng).
Đối với lực lượng cách mạng phải phát huy điểm tương đồng để
tập hợp lực lượng; đối với lực lượng trung gian phải khơi gợi
cho phù hợp với sự vận động, biến đổi của đời sống KT XH trong
nước và thế giới. Kế thừa, phát triển tư tưởng HCM về ĐĐK trong
sự nghiệp đổi mới đòi hỏi phải có sự nghiên cứu sâu sắc toàn diện
tất cả các vấn đề chính trị, KT, XH và quốc tế. Trong thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước cần luôn luôn quán
triệt và vận dụng sáng tạo tư tưởng HCM về ĐĐK.
9
15
Câu số 3: Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ:
“Nước ta là nước dân chủ
Bao nhiêu lợi ích đều vì dân
Bao nhiêu quyền hạn đều của dân
Công việc đổi mới, xây dựng là công việc của dân
…
Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi
dân.”
Đồng chí hãy phân tích luận điểm ấy của Người và liên hệ
với việc xây dựng Nhà nước ta hiện nay.
Bài làm
Vấn đề chính quyền là vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách
mạng. Trong quá trình tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã phải
tìm tòi, giải quyết hàng loạt vấn đề về đường lối chiến lược của
cách mạng, về giành chính quyền và giữ chính quyền. Vấn đề dặt
ra là sau khi lật đổ được ách thống trị của thực dân và phong kiến
tay sai, lập nên chính quyền của dân, chính quyền đó cần được
xây dựng như thế nào để thực sự là chính quyền của dân, do dân
và vì dân ? Tư tưởng Hồ Chí Minh về một nhà nước pháp quyền
của dân, do dân, vì dân là một trong những nội dung tư tưởng cơ
bản, hình thành khó sớm trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh,
ngay cả trước khi người tiếp thu được chủ nghĩa Mác-Lênin và trở
thể hiện là cơ quan quyền lực của dân và nhân dân tham gia xây
dựng Nhà nước của mình.
ấm no, tự do, hạnh phúc, dân chủ, công bằng cho mọi người
thì phải đi theo con đường của Cách mạng Tháng Mười Nga.
Như vậy trong tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà
nước – pháp luật của dân, do dân, vì dân có những nội dung cơ
bản như thế nào?
Qua khảo sát, rút kinh nghiệm các kiểu Nhà nước tiêu biểu
trên thế giới và căn cứ vào thực tiễn Việt Nam, Hồ Chí Minh đã điều
chỉnh và hoàn thiện tư duy về sự lựa chọn một hình thức Nhà nước
phù hợp với hoàn cảnh nước ta. Từ mô hình phác họa lúc theo kiểu
Nhà nước Xô viết công-nông-binh (trong tác phẩm Đường cách
mệnh, Chính cương vắn tắt, … ), Hồ Chí Minh chính thức xác lập
Nhà nước dân chủ nhân dân sau thắng lợi của Cách mạng Tháng
Tám 1945. Thực chất, đó là Nhà nước của dân, do dân, vì dân.
Nhà nước của dân được thể hiện :Cơ quan quyền lực Nhà
nước từ Trung ương cho đến địa phương đều do nhân dân trực tiếp
hay gián tiếp bầu ra. Mọi quyền lực, quyền hành đều thuộc về nhân
dân. Đội ngũ công chức trong bộ máy Nhà nước là con em của nhân
dân, do nhân dân lựa chọn cử ra và toàn bộ hệ thống Nhà nước cũng
như mọi hoạt động của công chức đều phải chịu sự kiểm tra và giám
sát của nhân dân. Đồng thời « Nhân dân có quyền bãi miễn đại biểu
quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân nếu những đại biểu ấy tỏ ra
không xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân ».
Cho nên muốn làm được như vậy, từ cơ quan Nhà nước cho đến
từng công chức, viên chức phải hết sức lắng nghe ý kiến, nguyện
vọng của nhân dân; đi sâu, đi sát quần chúng nhân dân và chịu sự
kiểm tra, giám sát của nhân dân, thật sự là những công
3
17
ích của nhân dân. Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Chúng ta tranh được tự
do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng
không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà
dân được ăn no, mặc đủ”. Và Người nhấn mạnh: “Chúng ta phải
thực hiện ngay:
Làm cho dân có ăn.
Làm cho dân có mặc.
Làm cho dân có chỗ ở.
Làm cho dân có học hành”.
Để làm được những việc to lớn, nặng nề và đầy khó khăn ấy,
Hồ Chí Minh đòi hỏi Đảng, Nhà nước và các đoàn thể nhân dân cho
đến các công chức, những nhà lãnh đạo của dân không chỉ lo toan
những vấn đề quốc gia đại sự, lo đối nội và đối ngoại vì mục tiêu
ích quốc, lợi dân mà còn phải chăm lo cho dân từ cái kim sợi chỉ
đến chuyện tương, cà, mắm, muối hàng ngày của nhân dân. Vì vậy,
Hồ Chí Minh đòi hỏi: “… chính sách của Đảng và Chính phủ là
phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân. Nếu dân đói,
Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có
lỗi”. Từ đó Hồ Chí Minh yêu cầu:
“… Đảng và chính quyền từ trên xuống dưới, đều phải hết sức quan
tâm đến đời sống của nhân dân. Phải lãnh đạo tổ chức
5
18
phải luôn luôn nêu cao và thực hành cần – kiệm – liêm –
chính, chí công vô tư.
Công chức cách mạng khác với các loại công chức xưa kia là
họ có vốn lý luận chính trị của chủ nghĩa Mác-Lênin và đường lối,
chính sách của Đảng Cộng sản làm nền tảng. Họ không chỉ cần
vững vàng về chính trị, tư tưởng mà còn phải giỏi về chuyên môn,
nghiệp vụ, dùng được ngoại ngữ (thành thạo một vài thứ tiếng như
và nhân dân thì nhất định thành công. Ngược lại, nơi nào để mất
dân chủ, gây ra sự bất mãn trong quần chúng thì nơi đó không tránh
khỏi khó khăn và dẫn tới những hậu quả đáng tiếc. Do đó để thoát
khỏi tình trạng kém phát triển của nền kinh tế trong điều kiện cạnh
tranh quốc tế quyết liệt hiện nay, chúng ta phải « phát huy cao độ
nội lực của dân tộc », mà một trong những nhân tố cơ bản làm nên
nội lực là phát huy dân chủ thật sự.
Muốn vậy, phải thật sự tôn trọng quyền làm chủ của nhân
dân. Phải tạo điều kiện vật chât và văn hoá để người dân nâng cao
năng lực làm chủ. Phát huy dân chủ phải kết hợp chặt chẽ với tăng
cường pháp chế, thực hiện quản lý xã hội bằng pháp luật, theo pháp
luật.
Hoàn thiện thể chế hoá bằng pháp luật các quyền dân chủ của người
dân trên các lĩnh vực nhất là hoạt động kinh tế. Đồng thời đẩy mạnh
cuộc đấu tranh phòng chống vi phạm pháp luật, đảm bảo thực thi
pháp luật nghiêm minh đem lại niềm tin cho
8
19
giáo dục nhân dân tăng gia sản xuất và tiết kiệm. Dân đủ ăn
đủ mặc thì những chính sách của Đảng và Chính phủ đưa ra sẽ dễ
dàng thực hiện. Nếu dân đói, rét, dốt, bệnh thì chính sách của ta dù
hay mấy cũng khơng thực hiện được”.
Quan điểm của Nhà nước vì dân của Hồ Chí Minh đặt ra một
trọng trách cực kỳ to lớn và nặng nề đối với hệ thống Nhà nước và
đội ngũ cơng chức, viên chức của ta. Khơng hồn thành được trọng
trách đó, chẳng những Nhà nước ta khơng giữ được các danh hiệu
vẻ vang của dân, do dân, vì dân, mà còn sẽ khơng được sự đồng
tình, ủng hộ của chính những người chủ đã bầu ra nó là nhân dân.
Mọi hoạt động của cơ quan Nhà nước cũng như của đội ngũ cơng
chức đều phải vì lợi ích của nhân dân. Ngồi lợi ích của nhân dân,
hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa và yêu cầu mở cửa hội nhập
quốc tế. Vì thế, tiếp tục xây dựng, công bố các đạo luật mới để
ngày càng hoàn thiện hệ thống luật pháp là đòi hỏi khẩn trương
không thể chậm trễ.
Nhưng điều có ý nghóa quyết đònh nhất là khi đã có luật pháp thì
việc tổ chức, hướng dẫn thi hành, vận động, giáo dục
9
Trong thực tế hiện nay, tuy ở các cấp trên, nhiều nơi còn
bộc lộ không ít mặt yếu kém, bất cập, nhưng nhìn chung cấp cơ
sở xã, phường đang bộc lộ nhiều yếu kém nhất. Không quan
tâm củng cố, tăng cường thích đáng sức mạnh của chính quyền
cơ sở sẽ làm cho cái “nền” của Nhà nước ta thiếu vững chắc.
Tình trạng một bộ phận công chức, viên chức yếu kém,
bất cập, thậm chí thoái hóa, biến chất, tiêu cực, mắc vào các tệ
nạn tham nhũng, tham ô, buôn lậu, quan liêu, hách dòch, mất
dân chủ, ăn chơi trác táng, sống sa đọa … cần phải được kiên
quyết đấu tranh, ngăn chặn và xóa bỏ.
Tóm lại, kể từ sau khi cách mạng Tháng Tám thành cơng,
chính quyền về tay nhân dân đến nay, đảng ta đã có kinh nghiệm
hơn nửa thế kỷ xây dựng và lãnh đạo nhà nuớc. Tuy nhiên sự
nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta đang đứng trước
những cơ hội và thách thức chưa từng có. Trước tình hình đó nếu
khơng có một nhà nuớc thực sự trong sạch vững mạnh, hoạt động
có hiệu quả, hiêu lực, tranh thủ nắm lấy vận hội, đưa dất nước
vựot qua nguy cơ, thách thức thì chủ nghĩa xã hội sẽ khơng có mà
độc lập dân tộc dân tộc cũng khó giữ vững được. Những chỉ dẫn
trên đây của Hồ Chí Minh, trong bối cảnh và tình hình hiện nay
càng trở nên có ý nghóa nóng hổi hơn bao giờ hết. Vì chỉ khi
nào đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, vững vàng (cả về
phẩm chất, năng lực và tác phong làm việc) thì mới tạo nên
chỉ rõ: “Đảng ta là một đảng cầm quyền, mỗi đảng viên và cán
bộ … phải xứng đáng là một người lãnh đạo, là người đầy tớ
trung thành của nhân dân”.
Đồng chí hãy phân tích luận điểm ấy của Người và liên hệ
với việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay.
Bài làm
Sau khi lãnh đạo nhân dân ta thực hiện thành cơng cuộc
cách mạng tháng Tám năm 1945, chủ tịch Hồ Chí Minh đã hết sức
quan tâm đến việc xây dựng Đảng ta với tư cách là một Đảng cầm
quyền. Người coi đó là một nhiệm vụ quyết định thắng lợi của
cách mạng, sự tồn tại và phát triển của chế độ xã hội mới, xã hội
xã hội chủ nghĩa. Trong Tun ngơn của đảng Cộng sản, C. Mac
và Ph. Ăngghen nói rằng: Giai cấp vơ sản mỗi nước, trước hết phải
giành lấy chính quyền, phải tự vươn lên thành dân tộc. Phát triển
sáng tạo tư tưởng này, chủ tịch Hồ Chí Minh là người mác-xít đầu
tiên đã kết hợp việc tăng cường bản chất giai cấp cơng nhân với
việc nâng cao tính nhân dân, tính dân tộc trong cơng tác xây dựng
Đảng Cộng sản Việt Nam. Người đã chỉ ra, để CM thành cơng phải
có một Đảng chân chính lãnh đạo. Để Đảng vững mạnh thì “ cán
bộ, Đảng viên vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ của nhân
dân”. Trên cơ sở đó, Người đã giáo dục đội ngũ Đảng viên phải
ln trau dồi đạo đức cách mạng, xây dựng đội ngũ của Đảng
trong sạch, vững mạnh để nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ và mục
tiêu mà Đảng ta đã xác định ngay từ khi được thành lập đến nay.
HCM đã vận dụng một cách sáng tạo quy luật về Đảng cộng sản
- Đảng cầm quyền. Bởi vì tư tưởng HCM về Đảng cộng sản
1
22
người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. ( Hồ Chí Minh,
toàn tập, Nxb CTQG, HN 1996, t12 tr 510).
thường xuyên chăm lo bản chất giai cấp công nhân và nêu cao lý
tưởng của Đảng. Người nói: “Người cộng sản chúng ta không được
phút nào quên lý tưởng cao cả của mình là: suốt đời làm cách mạng
phấn đấu cho tổ quốc hoàn toàn độc lập, làm cho CNXH và CNCS
thắng lợi hoàn toàn trên tổ quốc ta và trên thế giới” (Hồ Chí Minh:
toàn tập, Nxb CTQG, HN 1995t12 tr 93). Do đó, theo Người, Đảng
cầm quyền là Đảng tiếp tục lãnh đạo sự nghiệp cách mạng trong điều
kiện Đảng đã lãnh đạo quần chúng nhân dân giành được quyền lực
NN và Đảng trực tiếp lãnh đạo bộ máy NN đó để tiếp tục hoàn thành
sự nghiệp độc lập dân tộc, dân chủ và CNXN. Vai trò chức năng cốt
lõi nhất, quan trọng nhất của Đảng cầm quyền là Đảng lãnh đạo
chính quyền. Đảng cầm quyền để đảm bảo giữ vững và tăng cường
bản chất giai cấp công nhân của chính quyền NN. NN do Đảng lãnh
đạo phải mang tính chất nhân dân, là công bộc, là đầy tớ của dân,
chăm lo cho dân về mọi mặt. Đảng lãnh đạo NN bằng đường lối chủ
trương được thể chế hóa thành hiến pháp, pháp luật, chính sách,
bằng quy hoacïh bố trí sử dụng cán bộ, bằng kiểm tra giám sát việc
thực hiện đường lối của Đảng với chính quyền.
Một chức năng khác rất quan trọng của Đảng cầm quyền là Đảng
lãnh đạo mặt trận và các tổ chức chính trị-XH. HCM chỉ ra rằng yếu
tố làm cho Đảng nắm vững quyền lãnh đạo là “Chính sách đúng
đắn” và “Năng lực lãnh đạo” của Đảng. Đảng vạch ra chủ trương và
đường lối lãnh đạo thuyết phục các tổ chức chính trị XH tham gia
hoạt động công tác phong trào CM.
Như vậy” Đảng cầm quyền” không những Đảng lãnh đạo chính
quyền NN mà còn lãnh đạo toàn XH. HCM đã từng nhấn mạnh điều
này trong di chúc của Người: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền, mỗi
Đảng viên và cán bộ phải thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự
cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật sự
trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là
lao động đến thắng lợi hoàn toàn. Trong quá trình xây dựng và củng
cố Đảng, chủ tịch HCM
2
phải làm gương đi đầu trong việc thực hiện mọi chủ trương
đường lối của Đảng. Nói đến năng lực lãnh đạo quần chúng của
Đảng viên, HCM chú trọng không chỉ trình độ, năng lực lãnh đạo
quần chúng mà còn cả phương pháp khoa học và thực thi dân chủ;
không chỉ trí tuệ mà còn cả kinh nghiệm và bản lĩnh chính trị, đạo
đức cách mạng, lối sống gương mẫu, tận tuỵ hy sinh phục vụ dân
chúng làm công bộc đầy tớ trung thành của dân. Người đòi hỏi rất
cao thái độ dũng cảm và sự thành thật trong tự phê bình, phê bình
của Đảng, của cán bộ, Đảng viên. Người nói “ Phê bình cũng như
uống thuốc. Sợ phê bình, cũng như có bệnh mà giấu bệnh . không
giám uống thuốc. Để đến nỗi bệnh ngày càng nặng, không chết
cũng la lết quả dưa” (Hồ Chí Minh, toàn tập, Nxb, CTQG, HN,
1995, t5, tr 260.) và Người còn nói: “ Một đảng mà giấu giếm
khuyết điểm của mình là một đảng hỏng. Một đảng có gan thừa
nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ nhửng cái đó, vì đâu mà có
khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sữa chữa khuyết điểm đó.
Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”
(Hồ Chí Minh: Sđd tr 261). Có như vậy, Đảng mới được dân tin
cậy, dân phục, dân yêu mến, dân giúp đỡ, ủng hộ và bảo vệ, chỉ như
vậy Đảng mới là một Đảng tiến bộ, mạnh dạng, chắc chắn và chân
chính.
Song song với việc thực hiện tốt vai trò lãnh đạo thì đảng viên của
Đảng cầm quyền lại càng phải ý thức thật sâu sắc mình là đầy tớ
nhân dân chứ không phải người chủ của nhân dân. cần phải xác
định rõ ràng Đảng lãnh đạo nhà nước là nhằm xây dựng một nước
thật sự của dân, do dân và vì dân để nhân dân làm chủ nhà nước,
điều mà trước khi cách mạng thành công không thể có được. Đảng
chính trị chính trị, đạo đức, lối sống, bệnh cơ hội, chủ nghĩa cá nhân
và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong một bộ phận cán bộ,
công chức diễn ra nghiêm trọng. Nhiều tổ chức cơ sở đảng thiếu sức
chiến đấu và không đủ năng lực giải quyết những vấn đề phức tạp
nảy sinh. Công tác lý luận chưa làm sáng tỏ được một số vấn đề
quan trọng trong công cuộc đổi mới. Công tác tổ
5
7
24
của dân tộc. Đảng ta không có lợi ích gì khác” ( Hồ Chí Minh:
Sđd, t 10, tr 4).Vì vậy, Đảng phải thường xuyên chăm lo cũng cố
mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân. Đảng không ở trên
nhân dân, cũng không ở ngoài dân, mà ở trong dân; trong lòng dân.
Không phải chỉ có nhà nước mới lấy dân làm gốc mà Đảng cũng
phải lấy dân làm gốc. Chính cái gốc này tiếp tục đem lại nguồn sinh
lực vô tận cho Đảng để tiếp tục giúp Đảng thực hịên công cuộc xây
dựng và bảo vệ tổ quốc .Là đầy tớ trung thành của nhân dân, theo
Người, Đảng ta còn phải biết nêu cao tinh thần phục vụ, tinh thần
trách nhiệm trước nhân dân, chăm lo nâng cao đời sống vật chất,
văn hóa lẫn tinh thần cho nhân dân việc gì có lợi cho dân ta phải hết
sức làm. Việc gì có hại cho dân ta phải hết sức tránh… cùng với
những điều kiện trên Đảng còn phải ra sức bồi dưỡng nâng cao trí
tuệ, sức mạnh của nhân dân, phát huy dân chủ một cách sâu rộng,
song không đựơc mị dân, mơn trớn, lợi dụng hoặc theo đuôi quần
chúng.
Do vậy để thực hiện được vai trò vừa là người lãnh đạo vừa là
đài tớ trung thành của nhân dân mọi cán bộ đảng viên và Đảng
phải đề phòng nguy cơ tha hoá quyền lực, không ngừng nâng cao
đạo đức cách mạng.
Từ chưa cầm quyền sang cầm quyền, đó là một sự thay đổi cơ bản
Củng cố hoàn thiện một số vấn đề về tổ chức: Thực hiện nghiêm
túc các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng, sắp xếp lại bộ máy
Đảng theo khuynh hướng tinh gọn, hoạt động có hiệu quả. Nâng
cao năng lực trí tuệ của Đảng, không ngừng hoàn thiện về đường lối
chủ trương chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước. Thực
hiện việc quản lý, kiểm tra chặt chẻ đối với cán bộ, Đảng viên. Bên
cạnh đó Đảng viên viên luôn phải có ý thức cảnh giác, chống các
âm mưu phá hoại Đảng của kẻ thù trong và ngoài nước.
Tóm lại, Với kinh nghiệm, tri thức cổ kim đông tây phong phú,
uyên bác trong lĩnh vực dùng người, đào tạo và sử dụng can bộ cách
mạng, chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu cho chúng ta những
9
25
nguyên tắc căn bản trong phương thức lãnh đạo của Đảng và cho
mỗi cán bộ, đảng viên. Có thể nói, đây là kho tàng tri thức quý giá
đối với sự tu dưỡng, rèn luyện năng lực lãnh đạo và phẩm đạo đức
của mỗi cán bộ, đảng viên. Đồng thời đây cũng là cơ sở lý luận cho
việc đổi mới và hoàn thiện phương thức lãnh đạo của Đảng ta trong
sự nghiệp đổi mới hiện nay. Bước vào thời kỳ CNH, HĐH hiện nay,
luận điểm: Đảng vừa là người lãnh đạo, vừa là đầy tớ trung thành
của nhân dân của Hồ Chí Minh vẫn còn nguyên gía trị. Do đó, tăng
cường vai trò lãnh đạo của Đảng phải tiếp thu và vận dụng đúng
đắn tư tưởng của Người về Đảng cầm quyền trong giai đoạn hiện
nay, cần phải có sự thống nhất cao trong Đảng để nhận thức và
quan điểm trong các vấn đề đặc biệt là những vấn đề có tính nguyên
tắc đi đôi với phát huy dân chủ rộng rãi thông qua các hình thức dân
chủ trực tiếp và dân chủ đại diện. Tuy nhiên, mở rộng dân chủ phải
gắn với tăng cường kỷ cương, chống tình trạng vô chính phủ, tuỳ
tiện, nhất là các biểu hiện lợi dụng dân chủ để chống Đảng, chống
nhân dân, chống chế độ. Tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động học tập