TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN CHĂM SÓC – ĐIỀU TRỊ
CHO NGƯỜI TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO
VÀ CÁCH PHÒNG BỆNH MỤC LỤC
Phần 1: Tìm hiểu về bệnh Tai biến mạch máu não
1. Tai biến mạch máu não là gì 1
2. Nguyên nhân 1
3. Dấu hiệu bị tai biến MMN 4
4. Xử trí khi bạn – người thân bị tai biến MMN 5
Phần 2: Phục hồi sau Tai biến mạch máu não
1. Di chứng có thể phục hồi được không? 8
2. Người thân phải làm gì để giúp cho bệnh nhân 8
3. Ngăn ngừa tái phát 9
4. Làm gì sau khi xuất viện 10
5. Hướng dẫn chăm sóc người tai biến MMN tại nhà 10
6. Luyện tập phục hồi chức năng sau tai biến MMN 12
Bài tập PHCN cho người tai biến MMN 14
Bài tập PHCN cho người bị liệt nửa người 16
Phần 3: Phòng ngừa Tai biến mạch máu não
1. Ai dễ bị tai biến MMN 20
2. Phòng ngừa tai biến MMN 20
vào não làm não bị hư hại.
Tăng huyết áp: là nguyên nhân chính gây vỡ mạch máu não, xảy ra khi tăng
huyết áp lâu ngày không chữa trị tốt. Huyết áp, tức là áp lực máu chảy trong
mạch máu, tăng cao lâu ngày làm mạch máu thường xuyên bị căng, dẫn tới rạn
nứt, tổn thương thành mạch máu, tạo ra các chỗ phình nhỏ, đến một lúc nào đó
sẽ vỡ ra.
Các nguyên nhân khác: dị dạng mạch máu não, thoái hoá mạch máu não, u não,
bệnh máu khó đông…
3. Dấu hiệu bị tai biến mạch máu não
Làm sao nhận biết tai biến mạch máu não khi nó xảy ra?
Các triệu chứng thường gặp của tai biến mạch máu não gồm:
Méo miệng, yếu, liệt tay chân một bên.
Tê hoặc mất cảm giác ở một nửa bên thân thể
Nói đớ hoặc không nói được
Mù một mắt hoặc không nhìn được một bên
Lú lẫn, hôn mê.
Ngoài ra có thể có nhức đầu, nôn ói, hoặc co giật.
Phải nghĩ đến tai biến mạch máu não nếu một hoặc nhiều triệu chứng kể trên xuất
hiện đột ngột, bất ngờ ở một người đang có vẻ rất khỏe mạnh, khi họ đang nghỉ ngơi,
đang ngủ, hoặc đang làm việc bình thường.
4. Xử trí khi bạn – người thân bị tai biến mạch máu não
Phải làm gì khi gặp người bị tai biến mạch máu não?
Đỡ người bệnh để không bị té ngã chấn thương.
Để người bệnh nằm xuống chỗ thoáng, nghiêng qua một bên nếu nôn ói, móc
hết đàm nhớt cho bệnh nhân dễ thở.
Gọi xe đưa ngay người bệnh đến cơ sở y tế gần nhất.
Nếu bệnh viện gần nhà có đủ điều kiện chữa trị thì không nên chuyển viện đi xa,
trừ khi bác sĩ có chỉ định, vì càng di chuyển xa càng có thể làm bệnh nặng hơn.
Không tự ý cho uống hoặc nhỏ thuốc hạ huyết áp hay bất kỳ loại thuốc nào
khác.
điều trị thích hợp. Thời gian để hồi phục: từ một vài ngày đến vài tháng, tùy theo
mức độ bệnh. Thời gian hồi phục nhanh và nhiều nhất là ba tháng đầu tiên sau
đột quỵ.
Trường hợp nặng có thể để lại di chứng tàn phế nặng nề, không thể tự sinh hoạt
được.
Các trường hợp nặng nhất sẽ tử vong, hầu hết tử vong xảy ra trong tuần đầu tiên.
Các trường hợp nặng là những người bị nhồi máu não hoặc xuất huyết não với
kích thước quá lớn hoặc xảy ra ở các vị trí quan trọng.
2. Người thân phải làm gì để giúp cho bệnh nhân?
Trong giai đoạn đầu mắc bệnh, cần phối hợp với y bác sĩ để chăm sóc điều trị cho
bệnh nhân:
Cho nằm với đầu giường cao 30 độ với đầu, cổ và thân người thẳng nhau, tránh
gối cao gập cổ làm khó thở.
Xoay trở đổi tư thế nằm của bệnh nhân thường xuyên mỗi giờ để chống loét
(luân phiên giữa nằm ngửa, nghiêng trái, và nghiêng phải).
Giữ quần áo, tấm trải, giường, nệm, và da bệnh nhân khô ráo, sạch sẽ để tránh
loét và nhiễm trùng.
Làm vệ sinh răng miệng mỗi ngày 2 đến 3 lần.
Cho ăn theo hướng dẫn tránh bị sặc, tránh ọc thức ăn: cho ăn tư thế ngồi (nếu
bác sĩ cho phép) hoặc nằm đầu cao 30 độ; dùng muỗng đút từng phần nhỏ thức
ăn, đợi bệnh nhân nhai nuốt được rồi mới cho tiếp; nếu ăn bằng ống thông thì
phải để điều dưỡng (y tá) thử ống, cho ăn, cho uống nước và thuốc.
Xoa bóp bắp cơ, vận động các khớp tay chân cho bệnh nhân cho máu lưu thông
và tránh cứng khớp, teo cơ. Phối hợp với nhân viên vật lý trị liệu tập cho bệnh
nhân.
Trong giai đoạn hồi phục trong bệnh viện và sau khi xuất viện, người nhà có vai trò
chính trong việc chăm sóc bệnh nhân, tập luyện để hồi phục sức cơ, và tập cho bệnh
nhân thích nghi với các sinh hoạt trong điều kiện còn yếu một nửa người.
3. Ngăn ngừa tái phát
Người đã bị tai biến mạch máu não sẽ có nhiều nguy cơ tái phát ngay từ những
giúp của thân nhân để có thể hồi phục sớm và sống độc lập. Không nên làm thay
hoàn toàn cho bệnh nhân.
Cho bệnh nhân ăn uống theo đúng chế độ được hướng dẫn, ví dụ ăn lạt, cữ mỡ
với người tăng huyết áp, cữ đường giảm bột với người đái tháo đường…
Động viên, khuyến khích bệnh nhân tập luyện.
Một số bệnh lý phải điều trị liên tục suốt đời như: tăng huyết áp, đái tháo đường,
xơ vữa động mạch, bệnh tim mạch…
Tránh một sai lầm thường mắc là tự ý ngưng điều trị khi thấy trong người khỏe
khoắn và cho là đã hết bệnh.
5. Hướng dẫn chăm sóc người tai biến mạch máu não tại nhà
Tai biến mạch máu não là một hình thức rối loạn tuần hoàn não cấp tính, có thể gây
đột tử hoặc liệt nửa người, thất ngôn, rối loạn tâm thần Để giảm bớt các di chứng và
phòng tái phát, khi trở về nhà sau giai đoạn cấp cứu, bệnh nhân vẫn phải được chăm
sóc và điều trị theo chế độ đặc biệt.
Sau đây là các hướng dẫn cụ thể:
1. Sinh hoạt, tập luyện
Trong trường hợp bệnh nặng, bệnh nhân chưa tự vận động được, người nhà phải
giúp họ thay đổi tư thế 3 giờ một lần để tránh loét. Mỗi lần lật người, cần xoa rượu,
cồn hoặc phấn rôm vào lưng, mông và các vị trí bị tì đè khác. Khi cho ăn uống, nên kê
gối sau lưng bệnh nhân để giữ họ ở tư thế nửa nằm, nửa ngồi.
Đối với trường hợp nhẹ hơn, tùy mức độ di chứng liệt, cần đề ra một kế hoạch cụ
thể cho bệnh nhân tập luyện hằng ngày. Cố gắng để cho họ tự làm ở mức tối đa, người
nhà chỉ hỗ trợ hoặc giúp đỡ khi bệnh nhân không thể tự làm được. Quá trình tập luyện
đòi hỏi sự kiên trì của cả bệnh nhân và người hướng dẫn. Nên duy trì việc này cả khi
các di chứng đã được phục hồi.
2. Chế độ ăn
Cần đảm bảo chế độ ăn đủ chất và cân đối. Nên dùng dạng thức ăn mềm, dễ tiêu như
cháo, súp, sữa, nước hoa quả tươi. Kiêng sử dụng các chất béo và chất kích thích
(rượu, bia, chè đặc, cà phê); hạn chế dùng muối.
cho đến khi bệnh nhân có thể tự làm được động tác này. Nếu bệnh nhân không
thể tự làm, có thể dùng các dụng cụ trợ giúp tay hoặc chân. Cho bệnh nhân tập
theo các dụng cụ này.
Ngoài 6 tháng: Tăng cường đi bộ. Nếu bệnh nhân mất tiếng nói, nên cho nghe
và đọc các câu chuyện trên báo chí, truyền hình, rồi ngay lập tức cho bệnh nhân
tập kể lại câu chuyện. Tập những kỹ năng này với mức độ khó tăng dần, khoảng
20 giờ mỗi tuần.
Khoảng 20% bệnh nhân có mất tiếng nói sau tai biến mạch máu não. Việc
điều trị cho bệnh nhân mất tiếng nên bắt đầu từ sớm, ngay trong 3 tháng đầu
tiên. Các chuyên gia tiếng nói khi tập luyện cho bệnh nhân trong giai đoạn đầu
cần có sự tham gia của những người thân trong gia đình hoặc những người tình
nguyện. Họ chính là những người sẽ tiếp tục giúp đỡ cho bệnh nhân ở giai đoạn
sau. Thời gian cho tập luyện tiếng nói phải là 40-100 giờ trong 3 tháng đầu tiên.
Sự hồi phục thường cơ thể chỉ có ở những bệnh nhân có tổn thương mức
độ trung bình. Với những bệnh nhân bị tổn thương mức độ nặng thì sự hồi phục
gần như là không có. Với những bệnh nhân bị liệt nửa người, phải tập luyện
những động tác hỗ trợ, như tự chuyển từ giường qua xe lăn hoặc tự di chuyển
bằng kỹ năng dùng một tay. Sự tập luyện tích cực với cường độ cao 16 giờ hoặc
hơn mỗi tuần có tác dụng hồi phục tốt hơn hẳn những bệnh nhân chỉ tập luyện
vài giờ mỗi tuần.
Nên tập luyện sớm tay ngay khi tay có thể tự di chuyển được chút ít. Nếu
như tay không di chuyển được trong vòng 6 tuần đầu thì hầu như sẽ không thể
hồi phục được. Nên tập tay 3-6 giờ một ngày trong khoảng 3-6 tuần sau tai biến.
Việc dùng điện châm có thể giúp cho bệnh nhân tăng được lực co cơ, hỗ trợ
động tác duỗi và gấp tay. Tuy nhiên, nếu chỉ châm cứu đơn thuần thì khả năng
cải thiện ít hơn.
Trong tai biến mạch máu não, liệt được chia ra liệt cứng và liệt mềm. Đa
phần các bệnh nhân là liệt cứng, chỉ một số nhỏ bệnh nhân có liệt mềm. Những
bệnh nhân liệt mềm thường bị tàn tật nhiều hơn do tay liệt mềm khó sử dụng
được. Trong khi đó, những bệnh nhân liệt cứng có thể sử dụng được tay và chân
trạng co cứng cơ.
- Phòng ngừa co rút khớp vai: BN nằm ngửa, cài các ngón tay 2 bên vào nhau,
ngón cái bên liệt ở ngoài ngón cái bên lành. Duỗi thẳng 2 tay ra trước, đưa 2 tay
lên quá đầu cho đến khi 2 tay chạm vào mặt giường rồi đưa tay xuống phía chân.
- Phòng ngừa khuỷu tay, cổ tay và ngón tay bị co rút:
+ Bài tập 1: Giúp BN đứng cạnh bàn, cài các ngón tay 2 bên vào nhau. Xoay
ngửa lòng bàn tay và áp lòng bàn tay xuống mặt bàn. Duỗi thẳng 2 tay, ngả
người về phía trước để dồn trọng lượng lên 2 tay cho tới khi khớp cổ tay duỗi tối
đa.
+ Bài tập 2: BN ngồi. Dùng tay lành làm duỗi các ngón tay bên liệt và làm duỗi
cổ tay rồi đặt xuống mặt giường cạnh thân. Dùng tay lành giữ khớp khuỷu bên
liệt duỗi thẳng và nghiêng người sang bên liệt để dồn trọng lượng lên tay liệt.
+ Bài tập 3: Cài các ngón tay 2 bên vào nhau. Đưa 2 bàn tay lên sát cằm, dùng
lực của bàn tay làm duỗi tối đa cổ tay bên liệt. Có thể tựa vào má và cằm rồi giữ
yên trong thời gian lâu.
- Phòng ngừa co cứng chân ở tư thế duỗi: BN nằm ngửa, cài các ngón tay 2 bên
vào nhau. Co 2 gối lại và vòng 2 tay qua 2 gối. Kéo 2 gối về phía ngực và nâng
đầu lên. Sau đó, trở về vị trí ban đầu.
- Phòng ngừa co rút gân gót và gấp ngón chân: dùng một cuộn băng thun đặt
dưới ngón chân bên liệt. Đứng lên, bước chân lành ra phía trước, phía sau. BN
có thể vịn vào một chỗ nếu đứng chưa vững.
BÀI TẬP CHO NGƯỜI BỊ LIỆT NỬA NGƯỜI
Mục tiêu cuối cùng của phục hồi chức năng cho bệnh nhân liệt nửa người do tai
biến mạch máu não là giúp bệnh nhân tái hoà nhập với cuộc sống của gia đình và cộng
đồng. Muốn tái hoà nhập bệnh nhân phải tự thực hiện được các loại vận động và chức
năng tương ứng ở các vị thế, đặc biệt là vị thế đứng vì có nhiều động tác vận động
bệnh nhân có thể làm được khi nằm hoặc ngồi nhưng chưa chắc đã làm được khi đứng.
1. Tập đứng lên từ vị thế ngồi
Người tập trợ giúp đứng lên từ phía trước:
Người bệnh ngồi trên ghế hoặc trên giường có chiều cao phù hợp, hai tay duỗi
nhau, đặt giữa hai đùi.Người tập hướng dẫn bệnh nhân duỗi thẳng hai tay ra
trước, cúi người để dồn trọng lượng cơ thể về phía trước đều trên hai mông và
hai chân. Lưu ý bệnh nhân để hai bàn chân ngang nhau, hoặc bàn chân bên liệt ở
phía sau, không kéo bàn chân bên lành ra sau bàn chân bên liệt. Khi bệnh nhân
đã cúi và trọng lượng đã dồn về phía trước đầy đủ, người tập yêu cầu bệnh nhân
tự đứng lên. Lưu ý bệnh nhân đề phòng khuỵu khớp gối, khớp háng và ngã về
phía bên liệt.
2. Tập vận động ở tư thế đứng
2.1 Tập đứng thăng bằng
Bệnh nhân đứng thẳng, cân xứng hai bên, trọng lượng cơ thể dồn đều lên hai
chân (thăng bằng tĩnh), nếu cần trợ giúp người tập đứng về phía bên liệt. Hướng dẫn
bệnh nhân tập quay đầu nhìn ra sau qua vai bên liệt và vai bên lành; đứng và vận động
thân mình: cúi, ngửa, nghiêng, xoay; đứng và vận động tay: đưa tay lên trên, xuống
dưới, sang phải, sang trái (thăng bằng động).
2.2 Tập dồn trọng lượng lên chân liệt
Bệnh nhân đứng thẳng, trọng lượng cơ thể dồn đều lên hai chân. Người tập đứng về
phía bên liệt của bệnh nhân, giúp bệnh nhân duỗi thẳng tay sang ngang, khớp vai
vuông góc. Yêu cầu bệnh nhân chuyển và dồn trọng lượng sang bên chân liệt, bước
chân lành lên một vật gì đó bên cạnh, cao 15-20cm. Có thể hướng dẫn bệnh nhân tự
tập bằng cách đứng trong thanh song song, hai tay vị nhẹ lên hai bên, trọng lượng cơ
thể dồn đều trên hai chân. Yêu cầu bệnh nhân chuyển và dồn trọng lượng sang bên
chân liệt, bước chân lành lên một vật gì đó phía trước cao 15-20 cm. Khi khả năng
thăng bằng và vận động của bệnh nhân đã tốt hơn, có thể hướng dẫn bệnh nhân tự tập
bằng cách đứng thẳng, sau đó chuyển trọng lượng sang bên chân liệt, bước chân lành
lên một vật gì đó cao 20- 30cm ở phía trước mặt để dồn trọng lượng cơ thể lên chân
bên liệt. Cũng có thể hướng dẫn bệnh nhân đứng, bước và đặt bàn chân liệt lên một
bục tập (hoặc vật gì đó cố định vững chắc) cao 15-20 cm ở phía trước. Sau đó nhấc
chân lành lên rồi đặt xuống như cũ, hoặc đặt bàn chân lành lên bục tập cùng với chân
liệt, hoặc bước chân lành qua bục tập sang phía bên kia.
2.3 Tập đứng, dồn trọng lượng lần lượt lên hai chân
Hoặc người tập hướng dẫn bệnh nhân đứng vịn nhẹ tay vào một vật nào đó bên
cạnh, hai bàn chân cách nhau khoảng 15-20 cm, chân lành ở trước chân liệt ở sau. Sau
đó bệnh nhân chuyển trọng lượng ra trước, dồn trọng lượng lên chân bên lành.Khi toàn
bộ trọng lượng cơ thể đã dồn lên chân lành ở phía trước, người tập yêu cầu bệnh nhân
tập gấp và duỗi khớp háng và khớp gối bên chân liệt. Lưu ý khi gấp khớp háng và
khớp gối chỉ nâng gót chân bên liệt (không nhấc cả bàn chân) lên khỏi sàn nhà.Hoặc
người tập hướng dẫn bệnh nhân đứng vịn nhẹ tay vào một vật nào đó bên cạnh, hai bàn
chân ngang nhau cách nhau khoảng 15-20 cm ,sau đó dồn trọng lượng lên chân bên
lành rồi tập gấp, duỗi khớp gối và khớp háng bên liệt
PHẦN 3: PHÒNG NGỪA TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO
1. Ai dễ bị tai biến mạch máu não?
- Càng lớn tuổi càng dễ bị tai biến mạch máu não.
- Đàn ông dễ bị tai biến mạch máu não hơn phụ nữ một chút.
Một số bệnh và thói quen làm tăng nguy cơ bị tai biến mạch máu não:
- Tăng huyết áp
- Đái tháo đường (tiểu đường)
- Xơ mỡ động mạch
- Tăng mỡ (cholesterol) trong máu
- Bệnh tim
- Hút thuốc lá, nghiện rượu
- Béo phì, ít vận động
2. Phòng ngừa tai biến mạch máu não
Mặc dù tai biến mạch máu não là bệnh nguy hiểm song hoàn toàn có thể giảm được
nguy cơ bệnh nếu biết cách phòng ngừa, đó là:
Liệu pháp thay đổi lối sống (thực hiện chế độ ăn kiêng và hoạt động thể lực) là
biện pháp quan trọng làm giảm nguy cơ bị vữa xơ động mạch nói chung và tai
biến mạch máu não nói riêng. Liệu pháp thay đổi lối sống bao gồm: Cai thuốc
lá; có chế độ dinh dưỡng giàu vitamin, khoáng chất, hạn chế ăn quá nhiều chất
béo và các thực phẩm giàu calo, liệu pháp dinh dưỡng còn nhằm làm giảm lượng