Những rủi ro trong quá trình thực hiện hợp đồng xuất khẩu thủy sản sang thị trường mĩ của các doanh nghiệp việt nam - Pdf 25

LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bài thảo luận này, trước hết nhóm 04 chúng tôi gửi lời tới cô giáo-
giảng viên bộ môn Quản trị tác nghiệp Thương mại quốc tế trường Đại Học Thương Mại
lời chúc sức khỏe, lời chào trân trọng và lời cảm ơn sâu sắc nhất.
Với sự quan tâm dạy dỗ chỉ bảo tận tình chu đáo của cô, nhóm 04 chúng tôi có thể
hoàn thành bài thảo luận với đề tài: Những rủi ro trong quá trình thực hiện hợp đồng xuất
khẩu thủy sản sang thị trường Mỹ của các doanh nghiệp Việt Nam.
Do điều kiện thời gian có hạn cũng như kinh nghiệm còn hạn chế của nhóm sinh
viên nên bài thảo luận khó tránh khỏi những thiếu sót. Nhóm 04 chúng tôi rất mong nhận
được sự chỉ bảo, đóng góp ý kiến của cô và các bạn để nhóm có điều kiện bổ sung, nâng
cao kiến thức của mình, phục vụ tốt hơn công tác sau này và đạt thành tích tốt nhất trong
học tập.

Nhóm trưởng Thư kí
LỜI MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới và tự do hóa thương mại diễn ra
hết sức mạnh mẽ, chính đặc điểm này của nền kinh tế thế giới đã và đang làm cho các
nước đang phát triển gặp không ít khó khăn trong quá triình công nghiệp hóa-hiện đại hóa
đất nước là vì vốn, công nghệ và kĩ thuật… Và Việt Nam cũng là một trong số nước chịu
ảnh hưởng. Mặt khác, toàn cầu hóa và tự do hóa thương mại cũng tạo ra rất nhiều những
thuận lợi cho các nước đang phát triển nhất là về xuất nhập khẩu. Do đó, để thực hiện
mục tiêu trong chiến lược phát triển kinh tế đất nước, Đảng và nhà nước ta khẳng định
“Chiến lược phát triển Việt Nam trong giai đoạn này là xu hướng thay nhập khẩu bằng
xuất khẩu”.
Trong hơn một thập kỉ qua, thủy sản là một trong 14 mặt hàng xuất khẩu chủ lực
của Việt Nam. Thủy sản xuất khẩu của Việt Nam đã có mặt trên hơn 80 quốc gia trên Thế
giới và chinh phục được một số thị trường nhập khẩu lớn của Thế giới như: EU, Nhật
Bản, ASEAN, Mỹ, Trung Quốc,… Đặc biệt phải kể tới thị trường thủy sản Mỹ- một thị
trường thủy sản đầy tiềm năng. Tuy nhiên xuất khẩu thủy sản sang Mỹ trong thời gian vừa
qua xảy ra nhiều bất cập và khó khăn. Để góp phần giúp ngành thủy sản ngày càng phát
triển ra xa hơn nữa đặc biệt và thị trường Mỹ và để tháo gỡ những khó khăn đó nên nhóm

- Xét theo hình thức hợp đồng có các loại: Hình thức văn bản và hình
thức miệng.
- Theo hình thức hợp đồng: Bao gồm hợp đồng một văn bản, hợp đồng
nhiều văn bản
1.3 Nội dung của quy trình tổ chức thực hiện hợp đồng xuất khẩu
Thực hiện hợp đồng xuất khẩu bao gồm các nội dung cơ bản sau: Chuẩn bị hàng
hóa xuất khẩu; kiểm tra hàng xuất khẩu; thuê phương tiện vận tải; mua bảo hiểm cho hàng
hóa; làm thủ tục hải quan; khiếu nại và giải quyết khiếu nại (nếu có).
1.3.1. Chuẩn bị hàng hóa xuất khẩu
Chuẩn bị hàng hóa xuất khẩu là chuẩn bị hàng theo đúng tên hàng, số lượng,
phù hợp với chất lượng, bao bì kí mã hiệu và có thể giao hàng đúng thời gian quy định
trong hợp đồng laoTMQT. Chuẩn bị hàng xuất khẩu gồm các nội dung sau:
a. Tập trung hàng xuất khẩu và tạo nguồn hàng:
Tập trung hàng xuất khẩu là tập trung thành lô hàng đủ về số lượng phù hợp về
chất lượng và đúng thời điểm, tối ưu hóa được chi phí. Tạo nguồn hàng là toàn bộ biện
pháp, cách thức tác động đến nguồn hàng để tạo nguồn hàng có khả năng đáp ứng đầy đủ,
kịp thời hàng hóa cho doanh nghiệp xuất khẩu.
b. Bao gói hàng xuất khẩu:
Việc tổ chức đóng gói bao bì là khâu quan trọng trong trong việc chuẩn bị hàng
hóa. Yêu cầu đối với bao bì hàng hóa xuất khẩu:
+ Bao bì phải đảm bảo an toàn cho hàng hóa trong suốt quá trình vận chuyển
+ Bao bì phải phù hợp với các điều kiện bốc dỡ, vận chuyển, bảo quản
+ Bao bì phải phù hợp với các tiêu chuẩn, quy định và thị hiếu tiêu dùng của thị
trường xuất khẩu cũng như tập quán của ngành hàng.
+ Bao bì cần hấp dẫn thu hút khách hàng, hướng dẫn tiêu dung, thuận tiện khi
sử dụng.
+ Bao bì hàng xuất khẩu cần đảm bảo các chỉ tiêu kinh tế
Khi lựa chọn bao bì đóng gói cần căn cứ vào các cơ sở khoa học sau:
+ Căn cứ vào hợp đồng ký kết
+ Căn cứ vào loại hàng hóa cần đóng gói

-căn cứ vào điều kiện vận tải
b. Tổ chức thuê phương tiện vận tải
-phương thức thuê tầu chợ: Tầu chợ là tàu chạy theo 1 hành trình và thời gian xác
định
-phương thức thuê tầu chuyến: Thuê tầu chuyến là chủ tầu cho người thuê toàn bộ
chiếc tầu để chuyên chở hàng hóa giữa 2 hay nhiều cảng và nhận tiền cước thuê tầu do 2
bên thỏa thuận.
1.3.4. Mua bảo hiểm hàng hóa.
Trong kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hóa thường phải vận chuyển đi xa, trong
những điều kiện vận tải phức tạp, do đó hàng hóa dễ bị hư hỏng, mất mát, tổn thất trong
quá trình vận chuyển. Chính vì vậy, những người kinh doanh xuất nhập khẩu thường mua
bảo hiểm cho hàng hóa để giảm bớt các rủi ro có thể xảy ra.
a. Các căn cứ để mua bảo hiểm cho hàng hóa.
- Căn cứ vào điều kiện giao hàng trong hợp đồng TMQT.
- Căn cứ vào hàng hóa vận chuyển.
- Căn cứ váo điều kiện vận chuyển.
b. Tổ chức mua bảo hiểm cho hàng hóa.
- Xác định nhu cầu bảo hiểm.
- Xác định loại hình bảo hiểm.
- Lựa chọn công ty bảo hiểm.
- Đàm phán, ký kết hợp đồng bảo hiểm.
1.3.5. Làm thủ tục hải quan
Để làm thủ tục hải quan, doanh nghiệp có thể trực tiếp tiến hành hoặc ủy quyền
cho đại lý làm thủ tục hải quan. Quy trình làm thủ tục hải quan cho hàng hóa xuất nhập
khẩu theo luật hải quan Việt Nam bao gồm các bước chính sau đây:
a. Khai và nộp hồ sơ hải quan.
Người khai hải quan phải và nộp tờ khai hải quan đối với hàng hóa trong thời gian
quy định. Có 2 hình thức khai hải quan là khai thủ công và khai điện tử.
- Khai thủ công là người khai hải quan trực tiếp đến cơ quan để thực
hiện khai trên tờ khai hải quan, đây là hình thức khai truyền thống, nhưng tốn kém

-Cho hàng qua biên giới có điều kiện như phải sửa chữa khắc phục lại, phải nộp bổ
sung thuế XNK.
-Không được phép XK.
1.3.6. Tổ chức giao nộp hàng với phương tiên vận tải.
a. Giao hàng XK.
 Giao nhận khi chuyên chở bằng container
 Giao hàng đủ 1 container
 Giao hàng cho người vận tải đường sắt.
 Giao hàng cho người vận tải đường bộ
 Giao hàng cho người vận tải đường hàng không.
b. Nhận hàng từ phương tiện vận tải
 Nhận hàng từ tầu biển
 Nhận hàng chuyên chở bằng container.
 Nhận hàng chuyên chở bằng đường sắt
 Nhận hàng chuyên chở bằng đường bộ
 Nhận hàng chuyên chở bằng đường hàng không.
1.3.7. Thanh toán hàng hóa xuất khẩu.
a. Thanh toán bằng phương thức tín dụng.
 Thực hiện hợp đồng XK
- Nhắc nhở mở L/c.
- Kiểm tra L/c.
- Sửa L/C.
- Giao hàng và chuận bị chứng từ thanh toán.
 Thực hiện hợp đồng nhập khẩu.
- Mở L/C.
- Kiểm tra chứng từ.
b. Thanh toán bằng phương thức nhờ thu.
c. Phương thức chuyển tiền.
d. Thanh toán bằng phương thức giao chứng từ trả tiền.
1.3.8. Khiếu nại và giải quyết khiếu nại.

của Công ty Nghiên cứu thị trường Mintel, năm 2010, tổng doanh số bán lẻ của thị trường
cá và thủy sản Hoa Kỳ đạt 15,8 tỷ USD.
Hoa Kỳ là nước thuần nhập khẩu thủy sản và chỉ có ngành nuôi trồng thủy sản rất
nhỏ so với các nước khác. Do đó, kim ngạch nhập khẩu các mặt hàng thủy sản nuôi của
Hoa Kỳ rất lớn. Theo Cơ quan Quản trị Khí quyển và Đại dương Quốc gia Hoa Kỳ
(National Oceanic and Atmospheric Administration – NOAA), người Mỹ tiêu thụ khoảng
từ 6 triệu đến 7 triệu tấn thủy sản tự nhiên và nuôi trồng hàng năm, trong số đó 84% được
nhập khẩu và một nửa là thủy sản nuôi. Tổng sản lượng thủy sản của Hoa Kỳ chỉ chiếm
khoảng 2% tổng tiêu thụ của cả nước. Do đó, thâm hụt thương mại thủy sản của Hoa Kỳ
năm 2011 ước tính khoảng 9 tỷ USD.
Bảng 1: Nhập khẩu thủy sản của Hoa Kỳ năm 2011 - 2013
Chỉ tiêu Năm
2011
Năm
2012
Năm
2013
Kim ngạch nhập khẩu (tỷ
USD)
16,891 16,897 18,298
Khối lượng nhập khẩu (triệu
tấn)
2,505 2,520 2,560
(Nguồn: Tổng hợp từ nguồn VASEP)
Năm 2012, kim ngạch nhập khẩu thủy sản của Hoa Kỳ đạt 16,9 tỷ USD,
tương đương với năm 2011. Khối lượng nhập khẩu đạt 2,52 triệu tấn, tăng 14.648 tấn
(tương đương 0,6%) so với khối lượng nhập khẩu năm 2011. Năm 2012, tổng khối lượng
nhập khẩu các loại thủy sản làm thực phẩm gồm 2.052.008 tấn sản phẩm tươi sống và
đông lạnh đạt giá trị 14,3 tỷ USD; 310.964 tấn sản phẩm đóng hộp đạt giá trị 1,9 tỷ USD;
42.502 tấn sản phẩm đã qua xử lý đạt giá trị 300 triệu USD; 2.610 tấn sản phẩm trứng cá

ăm
2008
N
ăm
2009
N
ăm
2010
N
ăm
2011
N
ăm
2012
N
ăm
2013
Kim ngạch
xuất khẩu hàng thủy
sản sang Hoa Kỳ (tỷ
USD)
A
0,665

0,729

0,739

0,711


C=
(A/B)*100 1
9,80
1
9,39
1
6,39
1
6,73
1
9,04
1
8,97
1
9,15
2
2,69
nước (%)
(Nguồn: Tổng cục Hải quan Việt Nam)
Kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang Mỹ tăng dần qua mỗi năm trừ
năm 2009 do chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế. Nhưng kim ngạch xuất khẩu
thủy sản sang Mỹ vẫn ở mức cao trong tổng số kim ngạch xuất khẩu thủy sản của cả
nước. Từ năm 2006 đến năm 2012, kim ngạch xuất khẩu thủy sản sang Mỹ đã tăng 0,501
tỷ USD. Kể từ thời điểm Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới
(WTO), xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang Mỹ liên tục đạt được mức kim ngạch và
tốc độ tăng khả quan, duy chỉ có năm 2009 là tụt giảm. Cụ thể, khởi điểm năm 2006, xuất
khẩu thủy sản sang Mỹ đạt 0,665 tỷ USD chiếm 19,80% trong tổng kim ngạch xuất khẩu
thủy sản cả nước. Sang năm 2007, con số này đạt 0,729 tỷ USD, tăng gần 9,63% so với
năm trước. Đến năm 2009, do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới, xuất khẩu
nhóm hàng này bị suy giảm (giảm 3,79%) với mức kim ngạch là 0,711 tỷ USD. Trong

sang thị trường Mĩ của các doanh nghiệp Việt Nam
2.2.1.1. Những rủi ro trong lựa chọn đối tác, đàm phán và kí kết hợp đồng
Thông tin thị trường, hiểu biết về hệ thống luật lệ và quy định trên thị trường Mỹ
của các nhà sản xuất và xuất khẩu thủy sản của Việt Nam còn hạn chế. Vì vậy, họ lúng
túng trong việc tìm kiếm các đối tác làm ăn, ký kết hợp đồng và thỏa thuận giá cả. Mặc dù
đã có khá nhiều doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Mỹ tuy nhiên hầu như
chưa có doanh nghiệp nào mở được văn phòng đại diện tại Mỹ. Do vậy các doanh nghiệp
Việt Nam ít có cơ hội giao thương với các nhà phân phối Mỹ, nhất là để tìm hiểu luật tại
thị trường này. Nếu không nghiên cứu kĩ trước khi ký hợp đồng sẽ phải gánh chịu những
thua thiệt trong kinh doanh và gặp phải một số rủi ro như:
 Rủi ro do mạo danh:
Đó là việc một cá nhân hay tổ chức sử dụng trái phép danh nghĩa một cá nhân hay
tổ chức khác trong quá trình giao dịch với khách hàng. Đại bộ phận các trường hợp mạo
danh đều là hành vi lừa đảo, nhưng cũng có một số ít trường hợp là các bên thiều kiến
thức pháp lý. Cùng với hành vi mạo danh, không ít thương nhân trong quá trình giao dịch
còn cung cấp cho đối tác những thông tin sai lệch về năng lực kinh doanh của mình, về
thông tin sản phẩm,… để thực hiện hành vi lừa đảo trong đàm phán, mưu lợi cho mình.
 Rủi ro do đối tác không đủ năng lực thực hiện hợp đồng và do hợp
đồng soạn thảo thiếu chặt chẽ, có nhiều sơ hở:
Đây là rủi ro chiếm một tỉ lệ không nhỏ trong số các rủi ro trong lựa chọn đối tác
và đàm phán hợp đồng. Các nội dung về hàng hóa và giá cả không chặt chẽ, không tính
hết các yếu tố biến động của thị trường và khu vực. Ngoài ra còn có các trường hợp do
chủ quan, các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản Việt Nam xem nhẹ vai trò của hợp đồng,
thiết lập hợp đồng mang tính chiếu lệ sẽ dẫn đến hợp đồng bị hủy bỏ, hoặc bị kéo dài, mất
đi cơ hội kinh doanh, phát sinh nhiều chi phí để giải quyết sự cố dẫn đến những thiệt hại
cả về tài chính và uy tín của doanh nghiệp.
2.2.1.2. Những rủi ro trong quá trình chuẩn bị hàng xuất khẩu
 Rủi ro do khan hiếm nguồn hàng cung ứng cho xuất khấu.
Nguyên nhân dẫn tới khan hiếm nguồn hàng xuất khẩu thủy sản có thế là khách
quan (ảnh hưởng của thời tiết dịch bệnh, cạn kiệt nguồn nguyên liệu…) và cũng có thể là

Sự biến động giá cả hàng hóa diễn ra một cách thường xuyên dưới tác động của
hàng loại yếu tố từ môi trường kinh tế vĩ mô và những điều chỉnh trong chính sách vĩ mô
của quốc gia. Rủi ro thường xảy đến do giá cả tăng dẫn tới việc thu mua khó khăn hơn, lợi
nhuận suy giảm thậm chí đến mức thua lỗ. Nguy cơ hàng giao không đủ số lượng hoặc
chậm giao hàng hoặc từ chối giao hàng là rất cao.
Gần đây ở cảng cá Vĩnh Lương, Thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa, thị trường
thủy sản rối loạn vì thương nhân Trung Quốc. Cá hố - mặt hàng thủy sản thường có ở
cảng Vĩnh Lương có những thời điểm giá tăng cao bất thường, hơn 30%, thậm chí gấp đôi
so với giá bán thông thường do thương nhân Trung Quốc mua gom cá hố. Tất nhiên,
những đầu mối thu mua thủy sản trong nước, trong đó có thị trường Mỹ không thể đẩy giá
cao lên được, chấp nhận không mua được thủy sản.
Thương nhân nước ngoài tranh mua thủy sản đã khiến các doanh nghiệp chế biến
thủy sản xuất khẩu rơi vào cảnh khó khăn. Nhà máy chế biến tôm của Công ty Cổ phần
Thủy sản Thông Thuận - Cam Ranh từ mỗi ngày mua vào 60 tấn tôm nguyên liệu, những
tháng qua chỉ còn từ 10-15 tấn. Nguyên nhân không gì khác là các thương nhân nước ngoài
hoặc trực tiếp lộ diện, hoặc thông qua các đầu mối trung gian ở trong nước tranh nhau mua
tôm, đẩy giá tôm nguyên liệu cao hơn từ 15-20%. Trong khi đó, từ doanh nghiệp nhỏ đến
doanh nghiệp lớn ở trong nước đều khó có thể đưa ra mức giá thu mua tôm cao hơn so với
các thương nhân nước ngoài ảnh hưởng đến công tác xuất khẩu thủy sản sang thị trường
Mỹ.
 Rủi ro mất khả năng kiểm soát về chất lượng và số lượng hàng hóa xuất khẩu.
Mất kiểm soát về chất lượng và số lượng có thể là hàng hóa được chuẩn bị không
đủ số lượng, không đúng chất lượng, bị lẫn chủng loại, bị sai quy cách, bao bì thiếu hoặc
không phù hợp dẫn đến nguy cơ suy giảm chất lượng trong vận chuyển và bảo quản…
Khi đó người xuất khẩu có thể phải thay thế hàng hóa, tiến hành bổ sung thay thế bao bì.
Mức độ thiệt hại phụ thuộc nhiều vào mức độ vi phạm về số lượng và chất lượng so với
hoạt động hoặc thỏa thuận.
Nguyên nhân có thể do doanh nghiệp không thể kiểm tra được số lượng và
chất lượng lô hàng do tập kết số lượng lớn, thiếu phương tiện kiểm tra chất lượng, do điều
kiện thời tiết bất lợi… Thủy sản Việt Nam đã gặp nhiều rắc rối với các rào cản kỹ thuật,

thủy sản ở nước ta còn rất lớn, ước tính hàng năm từ 20 - 30% tổng sản lượng khai thác.
Thành phố Đà Nẵng có 1.368 chiếc tàu cá, trong đó số tàu đánh bắt xa bờ công suất từ
90cv trở lên là 201 chiếc, sản lượng khai thác hàng năm vào khoảng 35.000 tấn. Hiện nay,
khai thác xa bờ và dài ngày trên biển đóng góp một phần rất quan trọng trong tổng sản
lượng thủy sản hàng năm của cả nước. Tuy nhiên, khâu bảo quản sau khai thác còn nhiều
yếu kém, nên thất thoát nhiều. Những năm qua, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
thành phố đã chỉ đạo các cơ quan chuyên môn thường xuyên tuyên truyền tập huấn kiến
thức và hỗ trợ nhiều mô hình bảo quản sản phẩm cho bà con ngư dân, nhưng tình hình tổn
thất sau khai thác vẫn còn. Một số phương tiện tàu cá xa bờ, sản phẩm sau khai thác chưa
được bảo quản đúng cách làm giảm chất lượng sản phẩm dẫn đến thiệt hại về kinh tế.
2.2.1.3 Những rủi ro trong quá trình giao nhận hàng hóa
 Rủi ro do người bán không giao đúng số lượng, chất lượng và chủng
loại hàng hóa
Trong thực tiễn kinh doanh, có thể vì rất nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó
phần nhiều là do những nguyên nhân chủ quan của doanh nghiệp xuất khẩu, hàng hóa đã
không được cung cấp đúng như quy định trong hợp đồng hoặc trong L/C (về số lượng,
chất lượng và chủng loại) mặc dù người nhập khẩu đã mở L/C hoặc thực hiện kí quỹ tại
ngân hàng. Sự chủ quan của doanh nghiệp xuất khẩu trong chuẩn bị hàng hóa, giá cả hàng
hóa biến động tăng gây bất lợi cho doanh nghiệp xuất khẩu, doanh nghiệp xuất khẩu tìm
kiếm được hợp đồng xuất khẩu có lợi hơn, doanh nghiệp xuất khẩu không tin tưởng khả
năng nhận hàng và thanh toán của doanh nghiệp nhập khẩu, sự thỏa thuận không rõ ràng
trong hợp đồng về số lượng, chất lượng và chủng loại, sự suy giảm chất lượng hàng hóa
trong quá trình chuẩn bị hàng xuất khẩu, mất khả năng kiểm soát về số và chất lượng của
doanh nghiệp xuất khẩu, các hạn chế xuất khẩu của chính phủ thường là những nguyên
nhân được nhắc đến nhiều hơn khi đề cập đến nhóm rủi ro này. Những sai lệch nay
thường không phải ít gặp khi các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu thủy sản sang thị
trường Mỹ. Đối với hàng thủy sản nhập khẩu vào thị trường Mỹ, tiêu chuẩn về vệ sinh an
toàn thực phẩm là tiêu chuẩn hàng đầu vì vậy các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản Việt
Nam cần kiểm soát chặt chẽ chất lượng thủy sản để tạo uy tín trên thị trường Mỹ.
 Rủi ro do chậm giao hàng hoặc không giao hàng

phép khai thác.
 Rủi ro do người mua không nhận hàng
Trong trường hợp này, thiệt hại mà người bán phải gánh chịu thường là chi phí
khiếu kiện, thời gian lưu tàu, lưu kho và đôi khi là rất lớn do phải tái nhập khẩu hoặc
chuyển bán lô hàng sang một khu vực thị trường khác.
Hàng hóa xuất khẩu sang Mỹ cần chú trọng về cả tên hàng hóa và nhãn hiệu, điều
này tuy nhỏ nhưng nếu không làm đúng ngay từ đầu sẽ gây khó khăn khi xuất khẩu sang
thị trường Mỹ. Rất nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã mắc lỗi về ghi nhãn dẫn đến hàng
hóa không xuất khẩu vào được Hoa Kỳ. Điển hình là việc cố gắng tránh sự cố về nhãn,
các doanh nghiệp đã sao chép nhãn của người khác hoặc chỉ tuân theo một phần của luật.
Hầu hết các doanh nghiệp thủy sản nước ta chỉ cần bán được sản phẩm cho các đối tác ở
Mỹ, mà không quan tâm đến việc sau đó sản phẩm đến với người tiêu dùng với nhãn mác
nào. Thị trường Mỹ vốn rất đa dạng và đôi khi xảy ra những việc rất kỳ cục, chỉ riêng việc
đặt tên cho cá tra, cá basa cũng đã gây rất nhiều phiền nhiễu cho xuất khẩu thủy sản của
nước ta vào năm 2010. Lúc đó, xuất khẩu cá tra, cá basa của Việt Nam vào Mỹ vẫn đang
phấp phỏng chờ cơ quan chức năng của Mỹ kết luận xem sản phẩm này có phải là cá da
trơn hay không. Bộ Nông nghiệp Mỹ thì cố tình thúc cơ quan chức năng phải gọi những
loài cá này là cá da trơn vì cá da trơn ở Mỹ được bán rất đắt do đó e ngại cá tra, cá ba sa
của Việt Nam với mức giá rẻ hơn rất nhiều sẽ cạnh tranh với mặt hàng này .
Việt Nam mỗi năm thiệt hại hơn 14 triệu đô la Mỹ do các thị trường nhập khẩu trả
về từ các thị trường chính như châu Âu, Hoa Kỳ, Nhật Bản và Úc. Nghiên cứu dữ liệu từ
chối nhập khẩu sản phẩm thủy sản của Việt Nam, ông Spencer Henson từ Viện nghiên
cứu phát triển (IDS) cho hay, có nhiều nguyên nhân khiến thủy sản của Việt Nam bị trả
về, song nguyên nhân chủ yếu là do nhiễm khuẩn. Ông Henson cho hay ở bốn thị trường
lớn EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản và Úc thì Việt Nam là một trong ba nước đứng đầu về số vụ bị
từ chối nhập khẩu sản phẩm thủy sản, cao hơn so với các nước nhập khẩu khác, ngoại trừ
thị trường Úc. Cụ thể, Việt Nam đứng đầu trong số các nước xuất khẩu sang EU và Hoa
Kỳ về số vụ từ chối nhập khẩu sản phẩm thủy sản trên 1 triệu đô la Mỹ trong giai đoạn
2002 đến 2010, lần lượt khoảng 160 và 380 vụ.
Trước tình hình trên, thì đây sẽ là rủi ro lớn, gây ảnh hưởng đến uy tín khi xuất

khiếu kiện vì sẽ không tìm được chủ tầu của những con tầu.
 Các rủi ro do xếp hàng không đúng quy cách, chuyên chở không
đúng lịch trình, chuyển tải hàng hóa.
Đây là những rủi ro chủ yếu do hành vi của con người gây ra, có thể là xếp hàng
trong khoang tầu không đúng quy định và không phù hợp với đặc tính của hàng hóa gây
lẫn mùi… nguyên nhân của tình trạng này có thể do chủ hàng không cung cấp đầy đủ
thông tin về hàng hóa và những yêu cầu đối với việc chấp xếp hàng hóa tên tầu, hoặc do
sơ suất, chủ quan, sự thiếu trách nhiệm của người chuyên chở cũng như bên xếp hàng
trong quá trình xếp hàng trên tầu. Bên cạnh đó cũng có những nguyên nhân khách qua
khác như chiến tranh, bạo động, thiên tai… hoặc cấm vận buộc tầu thay đổi lịch trình và
tuyến đường để đảm bảo an toàn cho hành trình.
Chuyên chở không đúng lịch trình cũng dễ dàng gây ra những tổn thất cho hàng
hóa vận chuyển như biến dạng, suy giảm chất lượng do thời gian vận chuyển có thể bị
kéo dài, tầu đi vào vùng biển có nguy hiểm, độ ẩm quá cao. Hậu quả có thể không dừng
lại ở chất lượng hàng hóa bị suy giảm mà còn chậm thời gian cung ứng, dẫn đến những
thiệt hại liên đới trong thỏa thuận kế tiếp, bỏ lỡ cơ hội kinh doanh. Những tổn thất này
khó đo lường 1 cách chính xác như những tổn thất hàng hóa thông thường khác.
Một số rủi ro do vận chuyển không đúng lịch trình và chất xếp không đúng quy
cách có thể dẫn đến phải chuyển tải hàng hóa như trong trường hợp tầu bị sự cố, hàng bị
đổ vỡ buộc phải chuyển sang phương tiện khác hoặc xếp dỡ hàng hàng lên bờ thường kéo
theo thiệt hại không chỉ cho chủ hàng mà còn cho người vận chuyển. chi phí khắc phục sự
cố có thể bao gồm rất nhiều bao gồm chi phí kéo tầu, phí sửa chữa, phí dỡ hàng và chuyển
tải, lệ phí qua cảng và hàng loạt thiệt hại từ sự suy giảm chất lượng, đổ vỡ, thay thế hàng
hóa.
 Các rủi ro do những tai họa tiềm ẩn trong quá trình vận chuyển.
Thủy sản được xuất khẩu chủ yếu qua vận chuyển qua đường biển, đây được coi là
nhóm những rủi ro phức tạp nhất nên các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản cần chú ý đặc
biệt. Vận chuyển bằng đường biển luôn tiềm ẩn những tai họa cả trên mặt và dưới mặt
biển, các va chạm phải những vật thể không phải là nước, sự khắc nghiệt và bất thường
của những hiện tượng tự nhiên gió bão, động đất băng tan, băng trôi…các hiện tượng do


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status