1
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU Chương 1: NHỮNG CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC THẨM 1
ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ 1.1 1.1 KHÁI NIỆM, VAI TRÒ VÀ MỤC ĐÍCH THẨM ĐỊNH CÁC
DỰ ÁN ĐẦU TƯ
1
1.1.1.Khái niệm về đầu tư
1
1.1.2.Vai trò của thẩm đinh dự án đầu tư
1.1.3.Mục đích và khuôn khổ của thẩm định dự án đầu tư
1
2
1.2. CHIẾN LƯỢCTHẨM ĐỊNH CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ
3
1.2.1. Nghiên cứu tiền khả thi
3
1.2.2 Nghiên cứu khả thi
4
1.2.3 Thiết kế chi tiết
4
1.2.4 Thực hiện dự án
1.2.5 Đánh giá dự án
5
5
18
2
1.7.1 Phân tích độ nhạy
1.7.2. Phân tích các tình huống
18
19
1.7.3. Phương pháp phân tích rủi ro Monte Carlo
19
Chương 2: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VỀ CÔNG TÁC THẨM 21
ĐỊNH DỰ ÁN DẦU TƯ TẠI TỈNH BÌNH THUẬN 2.1. KHÁI QUÁT VỀ TÌNH HÌNH KINH TẾ XÃ HỘI TỈNH 21
BÌNH THUẬN
2.1.1 2.1.1 Vị trí địa lý
21
2.1.2 Nguồn tài nguyên
22
2.1.3 Dân số và nguồn nhân lực
24
2.1.4 Cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội
26
2.2. THỰC TRẠNG VỀ ĐẦU TƯ TẠI TỈNH BÌNH THUẬN 27
2.2.1. Khái quát về đầu tư tại Tỉnh Bình Thuận từ năm
27
2001 đến 2005
2.2.2. Phân tích cụ thể các dự án đầu tư tại Bình Thuận
29
3
Chương 3: CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG 46
TÁC THẨM ĐỊNH DỰ ÁN
3.1. QUY TRÌNH, THỦ TỤC CẤP PHÉP ĐẦU TƯ TẠI TỈNH
46
BÌNH THUẬN
3.2. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ-XÃ HỘI TỈNH BÌNH
46
THUẬN ĐẾN NĂM 2010:
3.2.1. Mục tiêu, nhiệm vụ, và các chỉ tiêu chủ yếu
46
3.2.2. Định hướng phát triển các lĩnh vực, các ngành, các vùng
47
3.3. NGUYÊN NHÂN HẠN CHẾ VỀ PHÁT TRIỂN CÁC DỰ ÁN 50
ĐẦU TƯ TẠI BÌNH THUẬN
3.3.1 Công tác qui hoạch và triển khai thực hiện qui hoạch
50
3.3.2 Phối hợp giữa các cơ quan
51
3.3.3 Nguyên nhân từ phía Nhà đầu tư
51
3.3.4 Nguyên nhân khác
52
3.4 MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ THU HÚT ĐẦU TƯ NĂM 2005
thẩm định dự án đầu tư cho cán bộ thẩm định.
3.5.7 Tiếp tục đổi mới công tác chuẩn bị đầu tư.
61
4
3.5.8 Đổi mới công tác thẩm định dự án đầu tư.
62
3.6. NHỮNG ĐIỀU KIỆN CẦN THIẾT ĐỂ THỰC HIỆN CÁC GIẢI
PHÁP
63
3.6.1 Đào tạo và sử dụng chuyên gia
63
3.6.2 Hoàn chỉnh hệ thống pháp lý trong lĩnh vực thẩ định dự án đầu tư.
63
3.6.3 Hoàn thiện và phát triển thị trường vốn.
64
3.6.4 Đẩy mạnh quá trình cải cách hành chính nhà nước.
64
3.6.5 Tranh thủ sự hỗ trợ của chính phủ.
65
3.7. CÁC GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ NHẰM THU HÚT ĐẦU TƯ VÀ
65
ĐẨY NHANH TIẾN ĐỘ TRIỂN KHAI XÂY DỰNG DỰ ÁN NĂM
2005 VÀ CÁC NĂM TIẾP THEO:
3.7.1 Về thu hút đầu tư:
65
3.7.2. Một số giải pháp nhằm đẩy nhanh tiến độ triển khai xây
66
một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh nhất thiết phải đầu tư thỏa đáng. Điều đó
càng đúng với các quốc gia có điểm xuất phát thấp, phát triển kinh tế từ nông
nghiệp, nghèo nàn, lạc hậu. Chúng ta còn thua kém các nước xung quanh về trình
độ phát triển kinh tế, công nghệ, về sức cạnh tranh. Mức tăng trưởng kinh tế còn
thấp hơn khả năng thực tế và chủ yếu dựa vào việc tăng đầu tư vốn, ít tiến bộ về
các nhân tố phát triển theo chiều sâu, năng suất lao động thấp, hiệu quả đầu tư kém,
chi phí sản xuất và lưu thông cao.
Trong những năm tới, đầu tư nhà nước tiếp tục tăng, chiếm gần một nửa tổng
đầu tư toàn xã hội, riêng vốn từ ngân sách và vốn tín dụng đầu tư nhà nước chiếm
khoảng 30%. Vì vậy “ Chấn chỉnh và nâng cao hiệu quả đầu tư của nhà nước có ý
nghĩa quyết định đến hiệu quả đầu tư chung của nền kinh tế ”, trích lời phát biểu
của Thủ tướng Phan văn Khải.
Tuy vậy, hàng chục ngàn tỉ đồng đã bị lãng phí trong các dự án dầu khí, điện,
cầu đường …trong thời gian qua chỉ vì tiến độ thực hiện đầu tư chậm, giai đoạn
chuẩn bị đầu tư kéo dài. Điều này không chỉ thiệt hại gián tiếp do công trình chậm
đưa vào sử dụng, mà còn gây mất mát trực tiếp vì kinh phí đầu tư tăng lên và làm
sai lệch các kết quả tính toán về hiệu quả của dự án. Tình trạng này hiện khá phổ
biến ở những dự án của doanh nghiệp nhà nước và các công trình đầu tư bằng
nguồn ngân sách. Dự án càng lớn thì thiệt hại càng nhiều. Dự án nhà máy lọc dầu
Dung Quất là một điển hình, kinh phí đầu tư tăng tới 1 tỉ đô la Mỹ, chủ yếu là do
trượt giá.
Bên cạnh đó, sự hời hợt khi làm nghiên cứu khả thi cũng góp phần không nhỏ
vào việc kéo dài thời gian thực hiện dự án và tăng chi phí đầu tư. Dành nhiều thời
gian chuẩn bị kỹ dự án không có nghĩa là chấp nhận lãng phí thời gian vào các thủ
tục thẩm định, xét duyệt. Theo các nhà doanh nghiệp, hiện nay quy trình xét duyệt
thường kéo dài. Ngoài bản thân quy trình quá phức tạp còn có nguyên nhân do trình
độ của các cán bộ đảm nhiệm công tác thẩm định còn kém.Trên đây là những vấn
đề chung mà môn học “ Thẩm định dự án “ phải nghiên cứu. Riêng tại Bình thuận,
để đạt mục tiêu về tăng trưởng bình quân GDP đầu người, chuyển dịch cơ cấu kinh
tế theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa, để đạt nhịp độ tăng trưởng kinh tế như
việc áp dụng môn học thẩm định dự án, công tác thẩm định dự án sẽ hạn chế được
những rủi ro của dự án, đánh giá, so sánh các dự án để chọn ra các dự án có hiệu
quả nhất góp phần vào việc đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế tỉnh nhà một cách
hiệu quả nhất.
Xuất phát từ thực tiễn nêu trên , tôi đã chọn đề tài “ Một số giải pháp nâng
cao chất lượng thẩm định dự án đầu tư tại Bình Thuận “
7
II - Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở lý thuyết của môn học thẩm định dự án, xây dựng khung phân tích
và đánh giá dự án, hệ thống các chỉ tiêu thẩm định phục vụ cho cán bộ thẩm định
có chuẩn mực để đánh giá các dự án. Đồng thời, căn cứ vào thực trạng của công tác
thẩm dịnh dự án đầu tư hiện nay, xây dựng một số giải pháp góp phần hoàn thiện
công tác thẩm dịnh dự án đầu tư tại tỉnh Bình Thuận.
III - Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tình hình thực tế của công tác thẩm dịnh
dự án đầu tư tại tỉnh Bình Thuận.
- Phạm vi nghiên cứu :
* Nghiên cứu một số nội dung cơ bản của dự án đầu tư, các chỉ tiêu phân
tích trong thẩm dịnh dự án đầu tư tại tỉnh Bình Thuận. Bao gồm chỉ tiêu đánh giá
hiệu quả hoạt động của chủ đầu tư và chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động của dự
án đầu tư.
* Nghiên cứu thực trạng công tác thẩm dịnh dự án đầu tư tại tỉnh Bình
Thuận.
* Nghiên cứu các giải pháp góp phần hoàn thiện công tác thẩm dịnh dự án
đầu tư tại tỉnh Bình Thuận.
IV – Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở tổng hợp các phương pháp nghiên cứu
như: Phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê, phương
pháp đánh giá, phương pháp xác định độ rủi ro theo xác suất...Trên cơ sở lý luận
gia
1.1.2. Vai trò của thẩm định dự án đầu tư:
Ở nhiều nơi trên thế giới, những khái niệm cơ bản đằng sau việc phân tích
chi phí và lợi ích kinh tế và tài chính đang dần được chấp nhận. . Thứ nhất, tài liệu
chuyên môn về thẩm định dự án đã được tăng cường trong những năm gần đây.
Thứ hai, các lãnh đạo nhà nước, trong nỗ lực thúc đẩy những chương trình đầy
tham vọng về phát triển kinh tế và xã hội, đã cảm thấy nhu cầu phải thực hiện
những chọn lựa khó khăn giữa các chiến lược chi tiêu khác nhau nhằm đạt được
mục tiêu của họ. Thứ ba, các nước ngày càng có khả năng hơn trong việc thỏa mãn
yêu cầu cần có qui trình thẩm định dự án tốt hơn nhờ những khóa học và chương
trình đào tạo do các trường đại học, các cơ quan quốc tế và chính các cơ quan nhà
nước tổ chức. Một số nước đã đào tạo đủ lực lượng cán bộ để khởi sự một nỗ lực
cấp quốc gia nhằm phân tích một cách có hệ thống chi phí và lợi ích của những
hoạt động chi tiêu đầu tư sắp đến.
Việc nhận thức được bản chất của bối cảnh lựa chọn dự án cho chúng ta thấy
nhu cầu cần phải thực hiện chức năng kiểm tra hoặc kiểm toán trong suốt giai đoạn
thẩm định dự án. Ngay cả phương pháp phân tích tinh vi nhất về lợi ích và chi phí
của dự án cũng có thể dẫn tới sai lầm nếu sử dụng những ước tính căn bản sai lầm
về chi phí và lợi ích của dự án. Vì vậy, chúng ta phải hết sức lưu ý để đảm bảo rằng
mọi số liệu ban đầu phải được cân nhắc thỏa đáng. Những ai còn nghi ngờ tầm
quan trọng của vấn đề này chỉ cần nhìn lại lịch sử thực hiện các dự án thực tế.
Trong hầu hết các trường hợp, kinh nghiệm cho thấy chi phí của dự án bao giờ
cũng cao hơn con số dự liệu ban đầu một cách đáng kể, và cũng trong rất nhiều
trường hợp việc tính toán chi phí ở mức quá thấp lại thường đi đôi với việc tính
toán lợi ích ở mức quá cao.
Thông tin tốt hơn và không thiên lệch chỉ có thể có được khi cơ quan thẩm
định dự án chịu tốn kém về thời gian và tiền của. Những chi phí này sẽ được bù đắp
lại bởi những nguồn lực tiết kiệm được do có thông tin tốt hơn và nhờ đó tránh
được việc thực hiện những dự án tồi hoặc những dự án mà việc thiết kế và hoạt
động nhằm để đáp ứng các mục tiêu của quốc gia.
i
Trong quá trình phát triển những kỹ thuật thẩm định kinh tế dự án sử dụng
các định đề (a), (b) và (c) điều quan trọng là nhận biết mức độ tinh tế và phức tạp
của các khái niệm về cung và cầu liên quan. Khi đường cầu của người tiêu dùng chỉ
ra số lượng tối đa mà anh ta sẵn lòng chi trả thì nó cũng cho thấy thái độ trung dung
của người tiêu dùng, nghĩa là việc có trong tay đơn vị sản phẩm đó với mức giá đó
hay dùng số tiền này để mua bất cứ hàng hóa và dịch vụ khác sẵn có với giá tương
đương, đều là như nhau. Tương tự, đường cung của một hoạt động phản ánh giá cả
mà tại đó nhà cung cấp món hàng xem việc bán một số đơn vị hàng ở địa điểm và
thời gian nhất định với việc dùng những sản phẩm và dịch vụ này hoặc các nhập
lượng để sản xuất ra chúng vào mục đích khác là không có gì khác biệt. Hơn nữa,
các phương án lựa chọn liên quan đến vấn đề này có thể rất phức tạp. Sự sẵn lòng
chi trả để mua một chiếc xe hơi mới có thể được quyết định bằng việc đánh đổi khả
năng mua một ngôi nhà mới hoặc cho con đi học đại học. Tất cả những lựa chọn
này được phản ảnh trong giá cầu hay mức sẵn lòng chi trả của một người để mua
chiếc xe. Đối với một cá nhân, chi phí cơ hội của các khoản chi tiêu bị hoãn lại hay
từ bỏ để mua một món đồ nào đó được phản ánh bằng giá cầu hoặc mức sẵn lòng
chi trả của anh ta để mua sản phẩm đó.
10
Tương tự, những chọn lựa có vai trò quyết định giá cung của một đơn vị
hàng hóa hay dịch vụ cũng có thể rất phức tạp. Giá cung một lao động có tay nghề
ở nông thôn sẽ phản ảnh loại công việc và thu nhập mà anh ta sẽ từ bỏ để làm công
việc này, tiện nghi sinh hoạt mất đi khi sống ở nông thôn so với thành thị, điều kiện
làm việc ở nông thôn và các lựa chọn khác, chi phí sinh hoạt thấp ở vùng quê, chi
phí đi lại tăng thêm để thăm viếng gia đình và bạn bè ở thành phố, chi phí vận
chuyển thấp hơn khi làm việc ở vùng nông thôn, và tất cả những nhân tố khác tác
động đến quyết định của một người về nơi sinh sống và làm việc. Đối với hàng
công nghiệp, sự phức tạp của những mối quan hệ đằng sau việc xác định giá cung
của nó còn lớn hơn. Giá cung của xuất lượng không chỉ phản ảnh giá cung hay phí
dựa trên các ước tính quá lạc quan về chi phí và lợi ích, chúng ta nên sử dụng
những ước tính có xu hướng giảm bớt lợi ích của dự án và làm tăng mức ước tính
về chi phí. Nếu dự án vẫn hấp dẫn sau khi đã tiến hành thẩm định như vậy, thì có
rất nhiều khả năng dự án sẽ qua được khâu thẩm định chính xác hơn.
11
Nghiên cứu tiền khả thi của các dự án đầu tư thường bao gồm sáu lãnh vực
được tóm tắt như sau:
(a) Phân tích thị trường hay sức cầu. Nhằm ước tính, định lượng hóa và
lýgiải chứng minh sức cầu hàng hóa và dịch vụ, giá cả hay các nhu cầu tương đối
về dịch vụ xã hội.
(b) Phân tích kỹ thuật. Xác định một cách chi tiết các thông số đầu vào của
dự án và xây dựng các ước tính về chi phí.
(c) Phân tích nhân lực và quản lý. Định rõ chi tiết nhu cầu về nhân lực cần
thiết cho việc thực hiện cũng như vận hành dự án, xác định và định lượng cụ thể
nguồn nhân lực.
(d) Phân tích tài chính hay ngân sách. Phân tích chi và thu tài chính cùng với
việc đánh giá các phương án tài trợ khác nhau.
(e) Phân tích hiệu quả kinh tế. Điều chỉnh các dữ liệu tài chính theo ý nghĩa
kinh tế, thẩm định chi phí và lợi ích của dự án trên quan điểm của cả nền kinh tế.
(f) Phân tích hiệu quả xã hội. Thẩm định dự án theo quan điểm của những
đối tượng hưởng lợi từ dự án và những đối tượng phải chịu chi phí cho dự án. Khi
có thể được, cần lượng hóa lợi ích thụ hưởng và chi phí phải chịu của các nhóm
này.
1.2.2. Nghiên cứu khả thi
Sau khi đã hoàn tất xong tất cả các khâu phân tích trong giai đoạn nghiên cứu
tiền khả thi, chúng ta cần nghiên cứu khả năng dự án có thể đáp ứng các tiêu chí về
tài chính, kinh tế và xã hội mà nhà đầu tư đề ra cho các khoản đầu tư hay không.
Cần phân tích độ nhạy của dự án để xác định các biến số chủ chốt quyết định kết
quả của dự án.
Chức năng giai đoạn nghiên cứu khả thi trong thẩm định dự án là nhằm tăng
dự án bao gồm các nhà chuyên môn và chuyên gia kỹ thuật. Tập thể này phải tiến
hành điều phối các chuyên gia tư vấn, nhà thầu, nhà cung cấp vật tư thiết bị, cũng
như những đơn vị có liên quan khác. Trách nhiệm và quyền hạn trong việc thực
hiện dự án phải được phân định rõ ràng, kể cả ủy quyền ra quyết định trong các
lãnh vực liên quan đến nhân sự, pháp lý, tài chính, tổ chức và hành chánh. Một kế
hoạch đúng đắn ở giai đoạn này là rất quan trọng để bảo đảm dự án không bị trì
hoãn một cách không cần thiết, cũng như hình thành các qui trình hành chánh phù
hợp để điều phối hài hòa mọi hoạt động cần thiết để thực hiện dự án.
Khi dự án sắp được hoàn thành, cần chuẩn bị để từng bước hoàn tất hoạt
động thi công xây dựng và trao dự án cho ban quản lý mới. Khâu hoàn thành dự án
đòi hỏi phải rút dần và giải thể tổ chức thực hiện dự án. Đây là lúc đòi hỏi chuyển
giao nhân sự cũng như thiết bị sang các khâu vận hành khác. Những hoạt động này
có thể sẽ diễn ra trong khoảng thời gian tương đối dài. Tuy nhiên, khi dự án đi vào
hoạt động, cần bảo đảm có đủ kỹ năng, kế hoạch và tổ chức kiểm soát để thực hiện
chức năng của dự án nhằm tránh những chi phí khởi động quá lớn, mà điều này dễ
dàng quyết định sự thành bại chung của dự án.
1.2.5 Đánh giá dự án
Trong lịch sử ngắn ngủi của công tác thẩm định tài chính - kinh tế - xã hội
của dự án, người ta thường chú trọng vào khâu đánh giá tiền dự án hơn là sau khi
dự án đã được thực hiện. Để phát triển kỹ năng tiến hành thẩm định dự án cũng như
cải thiện độ chính xác của các đánh giá, chúng ta cần so sánh kết quả dự đoán với
kết quả thực tế của dự án. Để việc đánh giá lại các điểm mạnh và điểm yếu của dự
án đã triển khai mang lại giá trị tối đa cho các nhà làm chính sách và các nhà phân
tích dự án, hoạt động của một số nhân sự nhất định trong các nhóm thẩm định dự
án của chính quyền cần được duy trì theo thời gian.
Để thực hiện được phần đánh giá này, cần tiến hành đánh giá các khâu quản
lý hành chính của dự án ngay sau khi đã hoạt động. Các cán bộ quản lý giai đoạn
vận hành phải được thông báo rõ là việc đánh giá chi tiết kết quả dự án sẽ được tiến
hành suốt thời gian hoạt động của nó. Cách này cho phép xây dựng những dữ liệu
cần thiết thông qua các hoạt động tài chính và kiểm soát thông thường, tạo điều
khoản chi phí về lao động trong khâu xây dựng dự án phải được xác định theo năm
và theo kỹ năng.
(b) Kế hoạch đầu tư phác thảo cách thức huy động những chi phí này. Nguồn huy
động có thể là vốn cổ phần hay tài trợ không hoàn lại, vốn vay trong nước ngắn hạn
và dài hạn, vốn vay nước ngoài, và viện trợ nước ngoài. Khoản nào trong các hình
thức nêu trên được coi là ngân lưu vào (nguồn thu) cho dự án là tùy thuộc vào quan
điểm phân tích dự án. Ví dụ, theo quan điểm của chủ đầu tư, vốn cổ phần không
phải là ngân lưu vào vì đó là số vốn mà anh ta phải tự bỏ ra.
1.3.1.2 Xử lý chi phí khấu hao
Chi phí khấu hao hay chi phí hao mòn vốn là một công cụ kế toán nhằm dàn
trải chi phí của các hạng mục đầu tư ra hết chiều dài hoạt động của những khoản
đầu tư này, mục tiêu là nhằm phản ánh tất cả chi phí vào thu nhập ròng của một
năm bất kỳ, kể cả chi phí đầu tư cần thiết để tạo ra sản lượng dự án. Tuy nhiên, chi
phí khấu hao không phải là ngân lưu xuất và do đó không nên đưa vào biên dạng
ngân lưu tài chính của dự án. Đồng thời, toàn bộ chí phí vốn đầu tư đều được tính
trong biên dạng ngân lưu tài chính kể từ khi toàn bộ các khoản chi tiêu đầu tư được
khấu trừ trong năm phát sinh. Nếu có thêm các khoản chi phí vốn nào khác bị khấu
trừ khỏi biên dạng ngân lưu, chẳng hạn chi phí khấu hao, thì có nghĩa là chi phí đã
bị hạch toán hai lần.
14
1.3.1.3 Xử lý kế hoạch hoạt động
Thành quả dự kiến trong tương lai của một dự án đầu tư thương mại được
tóm tắt trong tập hợp các báo cáo tài chính hoạch định hay triển vọng, trong đó bao
gồm các bảng cân đối kế toán, các báo cáo lỗ lãi và báo cáo ngân lưu cho từng năm
trong toàn bộ thời gian hiện hữu của dự án. Dựa theo mục đích thẩm định đầu tư thì
báo cáo ngân lưu là liên quan trực tiếp; tuy nhiên, báo cáo ngân lưu có thể được xây
dựng từ những thông tin có được trong bảng cân đối kế toán và những báo cáo thu
nhập trong nhiều năm.
Bảng cân đối kế toán liệt kê tất cả tài sản có giá trị cũng như các khoản vay
nợ của công ty. Phần khác biệt giữa giá trị tổng tài sản thuộc sở hữu của công ty và
xuống ngay cả khi không có thay đổi gì trong các hạng mục doanh thu, khoản mua,
khoản phải thu hay phải trả. Việc này có thể xảy ra, chẳng hạn, khi công ty huy
động thêm vốn cổ phần hay vốn vay hoặc khi công ty phải trả lãi suất hoặc chi cổ
tức. Khi một lượng tiền mặt được dành riêng để tạo thuận lợi cho các giao dịch, thì
có nghĩa là đang sử dụng tiền mặt nên cũng là ngân lưu ra. Tương tự, lượng tiền
mặt dành riêng cho giao dịch giảm đi chính là một nguồn cung cấp tiền mặt cho các
15
mục đích sử dụng khác của dự án nên đó là một ngân lưu vào. Do đó, nếu lượng
tiền mặt dành riêng cho công việc giao dịch trong một thời kỳ nào đó tăng lên, phần
tăng này là một ngân lưu ra; nếu lượng tiền mặt đó giảm đi, phần giảm đó là một
ngân lưu vào.
1.3.1.6 Chi phí cơ hội
Một khái niệm quan trọng rất có ích cho việc hình thành ngân lưu là chi phí
cơ hội. Chi phí cơ hội của việc sử dụng một nguồn lực trong dự án là những lợi ích
bị bỏ qua khi không sử dụng nguồn lực này vào một hoạt động khác. Ví dụ, chi phí
cơ hội của một ngư dân nghèo khi tham gia dự án tăng trọng gia súc do chính phủ
tài trợ là khoản thu nhập mất đi từ nghề cá. Chi phí cơ hội này phải được đưa vào
khi hình thành ngân lưu của các dự án tăng trọng gia súc.
1.3.1.7 Chi phí chìm và chi phí tăng thêm
Nhiều dự án đầu tư là phần mở rộng thêm từ những hoạt động hiện hữu đang
diễn ra, và vì thế lợi ích và chi phí liên quan đến dự án mới chỉ là phần tăng thêm
ngoài những gì sẽ vẫn diễn ra nếu không có thêm dự án mới. Những chi tiêu trước
đây tạo ra các trách nhiệm tài chính trong tương lai không được đưa vào khâu thẩm
định dự án mới, cũng như những trách nhiệm tài chính trong tương lai đối với các
khoản chi tiêu trước đây (hay các khoản thanh toán tương lai trên cơ sở những chi
tiêu này) không được tính đến khi lập kế hoạch thanh toán tài chính của dự án mới.
Những chi tiêu đã thực hiện trước đây được gọi là “chi phí lịch sử” hay “chi phí
chìm” và không được tính tới nữa khi thẩm định các khoản đầu tư tăng thêm.
Trường hợp duy nhất mà tài sản từ những khoản chi tiêu trước đây được cân
nhắc trong lúc thẩm định dự án mới là khi các tài sản này lẽ ra có thể được đem bán
được cộng vào giá trị thực của mảnh đất như đã được xác định vào lúc bắt đầu dự
án, từ đó tính giá trị thanh lý của đất nhằm phục vụ cho mục tiêu phân tích khi dự
án kết thúc.
1.3.2 Công thức báo cáo ngân lưu hoạch định
Trong khi không có một công thức trình bày tiêu chuẩn nào cho báo cáo ngân
lưu hoạch định của một dự án đầu tư, điều quan trọng là những dữ liệu đưa ra phải
được chi tiết hóa đầy đủ, tạo điều kiện dễ dàng để phần thẩm định kinh tế và phân
phối thu nhập có thể đưa ra những điều chỉnh cần thiết đối với ngân lưu tài chính.
Các khoản thu và chi phải được phân loại như đã phác họa trong phần thảo luận về
kế hoạch đầu tư và vận hành của dự án. Các khoản thu phải được xác định tùy theo
chúng là doanh thu từ hàng ngoại thương hay phi ngoại thương. Những khoản chi
thanh toán cũng phải được trình bày theo cách thức tương tự trong đó phân định
riêng biệt tất cả các loại thuế, thuế quan và trợ giá. Chi phí lao động phải được phân
loại theo kỹ năng sử dụng. Cuối cùng, mọi chi phí tài chính, ví dụ như tiền lãi, phải
được tách thành một hạng mục riêng mà không được tính chung vào chi phí của
nhập lượng.
Để minh họa việc xây dựng báo cáo ngân lưu tài chính, chúng ta xét ví dụ
mỏ khoáng sản ( Xem
Phụ lục 1
: Gồm có kế hoạch đầu tư dự án , những thông tin
hoạt động cơ bản cần thiết để xây dựng được các báo cáo ngân lưu hoạch định cho
dự án này và minh họa rõ bản chất của các thông tin cần có cũng như trình bày một
báo cáo ngân lưu phục vụ cho thẩm định tài chính.Báo cáo ngân lưu này làm cơ sở
cho phân tích tài chính và kinh tế của dự án ).
1.4. CHIẾT KHẤU VÀ CÁC TIÊU CHUẨN ĐỂ ĐÁNH GIÁ ĐẦU TƯ
Tiêu chuẩn giá trị hiện tại ròng hay hiện giá ròng (NPV) của một dự án
thường được các nhà phân tích tài chính và kinh tế chấp nhận rộng rãi vì nó cho kết
quả đánh giá tốt hơn so với các tiêu chuẩn hiện hữu khác. Tuy nhiên, một số nhà
đầu tư tư nhân cũng dựa vào những tiêu chuẩn khác như suất sinh lợi nội tại của dự
án (IRR), tỉ số lợi ích - chi phí, và tiêu chuẩn về thời gian thu hồi vốn. Chúng ta sẽ
( )
()
n
nn
o
oo
r
CB
r
CB
r
CB
+
−
++
+
−
+
+
−
1
...
11
1
11(1.4.2) NPV =
o
r
()
()
()
( )
()( )
( )
()( )(
)
321
33
21
22
1
11
00
111111 rrr
CB
rr
CB
r
CB
CB
+++
−
+
++
−
+
+
−
r
CB
CB
1
0
00
1
Cũng như trong trường hợp suất chiết khấu không đổi, giai đoạn thực tế để
tính chiết khấu các dự án là không quan trọng với điều kiện là NPV của các dự án
đang được so sánh phải được chiết khấu về cùng thời điểm.
18
1.4.2 Các tiêu chuẩn đánh giá đầu tư khác nhau
1.4.2.1 Tiêu chuẩn hiện giá ròng (NPV)
(i) Khi nào thì bác bỏ dự án
Bước đầu tiên để tính hiện giá của dự án đầu tư là phải trừ tất cả các chi phí
ra khỏi tổng lợi ích của mỗi giai đoạn để có được lợi ích ròng. Thứ hai là chọn một
suất chiết khấu thể hiện được chi phí cơ hội của vốn khi dùng vào mục đích khác
trong nền kinh tế, từ đó hình thành một loại chi phí vốn cho mỗi dự án tương đương
với lợi ích phải từ bỏ. Khi hiện giá ròng của một dự án được tính theo các tiêu
chuẩn kinh tế, thì hiện giá ròng dương có nghĩa là dự án này sẽ làm cho nền kinh tế
tốt hơn, ngược lại hiện giá ròng âm có nghĩa là dự án sẽ làm cho nền kinh tế tệ hơn.
Chính ý nghĩa này của tiêu chuẩn hiện giá ròng sẽ đưa chúng ta đến phiên bản thứ
nhất của nó, là cách diễn tả luôn luôn đúng trong mọi hoàn cảnh.
Quy tắc:
“Không chấp nhận một dự án nào trừ khi dự án đó có hiện giá ròng
dương khi được chiết khấu bằng chi phí cơ hội của vốn.”
(ii) Ràng buộc về ngân sách
được tính bằng cách đem chia hiện giá các lợi ích cho hiện giá chi phí, sử dụng chi
phí cơ hội của vốn làm suất chiết khấu.
19
Tỷ số lợi ích-chi phí (R) =
Hiện giá của các lợi ích
Hiện giá của các chi phí
Sử dụng tiêu chuẩn này, ta sẽ yêu cầu một dự án muốn được chấp nhận phải
có giá trị tỷ số R lớn hơn 1. Đối với các dự án loại trừ lẫn nhau, quy tắc lựa chọn là
lấy dự án có tỷ số lợi ích-chi phí lớn nhất.
Tuy nhiên, có thể dễ dàng nhìn thấy rằng tiêu chuẩn này có khả năng khiến
chúng ta xếp hạng sai các dự án, nếu chúng khác nhau về qui mô
Vấn đề thứ hai liên quan đến việc sử dụng tỷ số lợi ích-chi phí, và có thể đây
là khiếm khuyết nghiêm trọng nhất của tiêu chuẩn này, là tỷ số lợi ích-chi phí nhạy
cảm với cách thức định nghĩa chi phí để tính ngân lưu của các kế toán viên.
Khi đã có chi phí hiện hành của dự án, có nhiều cách khác nhau để ghi nhận
những chi phí này. Tỷ số lợi ích-chi phí cũng sẽ bị thay đổi theo cách thức ghi nhận
những chi phí này. Do đó chúng ta thấy rằng việc xếp hạng hai dự án có thể trái
ngược nhau tùy theo cách xử lý chi phí hiện hành. Ngược lại, hiện giá ròng của một
dự án không nhạy cảm với cách xử lý chi phí của các kế toán viên. Tiếc thay, trong
thẩm định dự án có rất nhiều quyết định tùy tiện về cách cân đối lợi ích với chi phí
và mỗi quyết định như vậy đều ảnh hưởng đến tỷ số lợi ích-chi phí. Vì thế, hiện giá
ròng là một tiêu chuẩn lựa chọn dự án đáng tin cậy hơn nhiều so với tỷ số lợi ích-
chi phí.
1.4.2.3 Thời gian hoàn vốn
Ở hình thức đơn giản nhất, thời gian hoàn vốn đo lường số năm cần thiết để
lợi ích ròng chưa chiết khấu (ngân lưu ròng dương) hoàn lại vốn đầu tư. Người ta
thường ấn định một cách tùy tiện giới hạn số năm tối đa được phép hoàn vốn và chỉ
những khoản đầu tư có đủ lợi ích để bù lại chi phí đầu tư trong thời gian này mới
t
t
tt
K
CB
0
1
=
0
Suất sinh lợi nội tại có một lợi thế lớn là có thể được tính toán chỉ dựa vào
các số liệu của dự án mà thôi. Đặc biệt, tính toán này không đòi hỏi số liệu về chi
phí cơ hội của vốn. Tuy nhiên, những điểm bất lợi của suất sinh lợi nội tại là rất
lớn, đòi hỏi chúng ta phải vô cùng thận trọng khi sử dụng nó. Đối với một dự án
điển hình mà sau giai đoạn đầu tư ban đầu (trong thời gian đó giá trị B
t
- C
t
là âm)
là một giai đoạn có lợi ích ròng luôn luôn dương, thì chỉ có một lời giải duy nhất
cho suất sinh lợi nội tại.
Mặt khác, nếu ta có một dự án mà biên dạng các lợi ích ròng theo thời gian
cắt trục hoành qua mức zero nhiều hơn một lần, ta có thể không xác định được một
suất sinh lợi nội tại duy nhất.
Ngay cả khi suất sinh lợi nội tại được tính toán một cách rõ ràng cho từng dự
án đang được xem xét, việc sử dụng nó như một tiêu chuẩn quyết định đầu vẫn tư
gây ra nhiều khó khăn khi một số dự án đang xét mang tính loại trừ nhau. Điều này
có thể xảy ra theo 3 hướng: (i) Các dự án loại trừ nhau nhưng đòi hỏi quy mô đầu
tư khác nhau; (ii) Các dự án loại trừ nhau nhưng có tuổi thọ khác nhau; (iii) Các dự
Mối quan hệ giữa IRR, nội suất thu hồi vốn biên MIRR, và NPV của một dự án
được trình bày ở hình 1.5.1 Hình 1.5.1: Mối quan hệ giữa MIRR, IRR và NPV Nguyên tắc:
“Luôn luôn gia tăng qui mô dự án đến khi nội suất thu hồi vốn trên
phần đầu tư tăng thêm cần để tăng qui mô dự án (MIRR) vừa bằng suất chiết khấu
dùng để tính toán NPV của dự án”.
(d) Khi một dự án bị hoãn lại, cả chi phí đầu tư và các hình thức lợi ích mà dự án
tạo ra đều có thể thay đổi.
1.6. SỬ DỤNG GIÁ CẢ TRONG THẨM ĐỊNH TÀI CHÍNH
1.6.1. Định nghĩa giá cả và chỉ số giá
1.6.1.1 Giá danh nghĩa
Giá danh nghĩa của hàng hóa và dịch vụ là các mức giá mà chúng ta thấy
trên thị trường mỗi ngày, và thường được gọi là giá cả hiện hành.
1.6.1.2 Mặt bằng giá và chỉ số giá
Mặt bằng giá của một nền kinh tế (P
t
) được tính như số trung bình trọng số
của một tập hợp chọn lọc các mức giá danh nghĩa.
L
P
t
1
, P , P , … P
t
n
t
2
t
3
Mặt bằng giá (P
t
) có thể được tính cho bất kỳ thời gian (t) nào như sau:
L
thời điểm. Chúng diễn đạt giá hàng hóa và dịch vụ so với mặt bằng giá chung. Điều
này được trình bày qua đẳng thức (1.8.3).
P
t
iR
= P
/ P
Trong đó:
t
i
t
I
P
= giá danh nghĩa của hàng hóa và dịch vụ tại thời điểm (t)
t
i
23
P
t
= chỉ số mặt bằng giá tại thời kỳ (t) .
I
1.6.1.4 Giá cố định
Như tên gọi, giá cố định không thay đổi theo thời gian. Chúng đơn giản là
một tập hợp giá danh nghĩa quan sát được vào một thời điểm, được sử dụng cho
mỗi thời kỳ tiếp theo trong thẩm định dự án. Trong khi giá danh nghĩa chịu ảnh
hưởng bởi những thay đổi trong giá thực cũng như thay đổi trong mặt bằng giá, giá
cố định không phản ánh bất kỳ xung lực kinh tế nào.
vào thẩm định dự án là phải đảm bảo những kỳ vọng này là nhất quán với
những dự báo về lãi suất danh nghĩa (i). Trong trường hợp không có những thỏa
thuận vay nợ với lãi suất danh nghĩa cố định, bên cho vay sẽ tăng lãi suất danh
nghĩa trên vốn vay để bù cho những mất mát dự kiến đối với giá trị thực của khoản
vay do lạm phát gây ra. Khi tỷ lệ lạm phát gia tăng, lãi suất danh nghĩa sẽ được gia
tăng để đảm bảo hiện giá của các khoản thanh toán tiền lãi và vốn gốc sẽ không
giảm xuống thấp hơn giá trị ban đầu của khoản vay.
Lãi suất danh nghĩa (i), như được xác định bởi các thị trường tài chính, được
tạo nên bởi 3 thành phần chính: a) lãi suất thực (r) phản ánh giá trị thực về mặt thời
gian của tiền tệ mà bên cho vay đòi hỏi phải có để sẵn lòng bỏ qua việc tiêu thụ và
các cơ hội đầu tư khác, b) hệ số rủi ro (R) đo lường mức đền bù mà bên cho vay
đòi hỏi để đề phòng khả năng vỡ nợ của bên đi vay, và c) thừa số (1+r+R)gP là
khoản đền bù cho do tổn thất dự kiến trong sức mua mà nguyên nhân được quy cho
lạm phát. Tỉ lệ lạm phát kỳ vọng gP làm giảm giá trị tương lai của cả các khoản
trả nợ vay lẫn các khoản thanh toán lãi suất thực. Kết hợp các yếu tố này, lãi suất
danh nghĩa (thị trường) (i) có thể diễn đạt như sau:
e
e
(1.6.6)
i = r + R + (1 + r + R) gP
eNhìn chung, lãi suất thực sẽ là một giá trị tương đối cố định bởi vì nó được
xác định chủ yếu bởi năng suất của đầu tư và mong muốn tiêu thụ và tiết kiệm
trong nền kinh tế. Ngoài ra, giá trị của khoản phí rủi ro đối với các ngành và nhà
đầu tư khác nhau cũng thường được biết trước. Trong điều kiện lãi suất thực, phí
24
đền bù rủi ro và lãi suất danh nghĩa được cho trước, thì tỷ lệ lạm phát kỳ vọng
ngầm ẩn trong lãi suất danh nghĩa có thể được ước tính bằng cách biến đổi phương
Khi chuẩn bị báo cáo ngân lưu, một số biến số nhất định như nợ thuế, yêu
cầu tiền mặt, các khoản trả lãi và và nợ vay cần phải được ước tính theo giá hiện
hành của năm mà chúng phát sinh. Sự xử lý lạm phát một cách chính xác đòi hỏi
phải chuẩn bị các bảng biểu sử dụng giá danh nghĩa, sau đó khử lạm phát các báo
cáo ngân lưu danh nghĩa để đạt được báo cáo ngân lưu thể hiện giá thực. Xây dựng
phân tích tài chính theo cách này, chúng ta đảm bảo rằng tất cả những tác động
thay đổi giá thực cũng như lạm phát sẽ được phản ảnh một cách nhất quán trong
các biến số dự báo.
Khi phân tích tài chính được thực hiện theo giá thực, điều thiết yếu là các chi
phí cơ hội của vốn tư nhân hay tỉ suất lợi nhuận tài chính được sử dụng làm suất
chiết khấu phải được thể hiện theo giá trị ròng, có nghĩa là đã bỏ đi bất kỳ khoản
bù đắp nào cho tỷ lệ lạm phát kỳ vọng. Nói cách khác, các suất chiết khấu này phải
là biến số thực chứ không phải danh nghĩa. Nếu lãi suất hay tỉ suất lợi nhuận danh
25
nghĩa được sử dụng, sẽ đưa đến kết quả điều chỉnh hai lần cho những thay đổi dự
kiến trong mặt bằng giá chung. Cách làm như vậy sẽ bóp méo đáng kể các kết quả
phân tích liên quan đến tính khả thi về tài chính của dự án.
Cần chu ý rằng giá cả tài chính thực đối với các biến số đầu vào và đầu ra
được hình thành ở trên được sử dụng như là cơ sở để ước tính các giá trị kinh tế
của lợi ích và chi phí dự án. Một khi các chi phí và lợi ích kinh tế này đã được ước
tính, ta sẽ xây dựng một báo cáo lưu chuyển nguồn lực kinh tế (economic resource
flow statement). Cấu trúc của báo cáo này phải tương tự như cấu trúc của báo cáo
ngân lưu tài chính. Cuối cùng, chênh lệch giữa hai báo cáo này sẽ được phân tích
để xác định những tác động phân phối của dự án đang xem xét.
1.7. PHÂN TÍCH RỦI RO
Các khoản lợi nhuận của dự án rải ra theo thời gian. Mỗi biến số có ảnh hưởng
tới hiện giá thuần ( NPV ) đều có mức độ không chắc chắn cao. Việc thu nhập
thông tin và số liệu cần thiết cho các dự báo chính xác đều rất tốn kém. Cần giảm
bớt xu hướng thực hiện một dự án “tồi” trong khi không bác bỏ một dự án “tốt”.
Do đó việc xảy ra các rủi ro cho dự án là khó tránh khỏi, vì vậy chúng ta phải tìm