BÁO CÁO THỰC TRẠNG VIỆC LÀM, ĐỜI SỐNG CỦA LAO ĐỘNG DI CƯ TỪ NÔNG THÔN RA THÀNH THỊ VÀ KHU CÔNG NGHIỆP - Pdf 25


CHƯƠNG TRÌNH HỖ TRỢ KỸ THUẬT HẬU GIA NHẬP WTO

DỰ ÁN
TÌNH HÌNH DI CHUYỂN LAO ĐỘNG TỪ NÔNG THÔN RA THÀNH THỊ VÀ CÁC
KHU CÔNG NGHIỆP TRONG BỐI CẢNH VIỆT NAM GIA NHẬP WTO
BÁO CÁO

THỰC TRẠNG VIỆC LÀM, ĐỜI SỐNG CỦA LAO ĐỘNG DI CƯ TỪ
NÔNG THÔN RA THÀNH THỊ VÀ KHU CÔNG NGHIỆP

CƠ QUAN THỰC HIỆN
CỤC VIỆC LÀM – BỘ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI
HÀ NỘI, 2013
LỜI CẢM ƠN
Được sự tài trợ của Chương trình Hỗ trợ kỹ thuật hậu gia nhập WTO và Văn phòng Ban
chỉ đạo Chương trình Hỗ trợ kỹ thuật hậu gia nhập WTO, Cục Việc làm- Bộ Lao động-
Thương binh và Xã hội thực hiện Dự án “Tình hình di chuyển lao động từ nông thôn ra
thành thị và các khu công nghiệp trong bối cảnh Việt Nam gia nhập WTO” (Dự án), với

Hanh, ông Đỗ Tuấn Sơn, ông Trần Tuấn Tú, ông Vũ Phạm Dũng Hà, ông Phùng Quốc
Vương, ông Lê Văn Dụy, bà Bùi Thu Anh, bà Nguyễn Việt Nga, bà Lê Phương Hòa, bà
ii Nguyễn Thị Thanh Huyền, bà Phạm Thị Thanh Huyền, ông Nguyễn Thanh Bình, bà
Nguyễn Thị Hiền, ông Phạm Hồng Trung, bà Đỗ Thị Vân Anh, ông Phí Hải Nam, ông
Nguyễn Văn Thắng, ông Phạm Hải Bình, bà Nguyễn Thị Ái, ông Đào Duy Nam, bà Trần
Thị Thanh Bình, bà Lương Thu Hà và bà Phạm Thị Thùy Linh.
Trong quá trình thực hiện xây dựng bản báo cáo, những khiếm khuyết chắc chắn là điều
không thể tránh khỏi, chúng tôi rất mong muốn tiếp tục nhận được ý kiến đóng góp từ các
tổ chức và cá nhân quan tâm.
Trân trọng cảm ơn!

Cục trưởng Cục Việc làm
Trưởng Ban Quản lý Dự án Nguyễn Đại Đồng
34

2.1. Lý do dẫn đến di cư 34
2.2. Những khó khăn mà lao động di cư ra thành thị và các khu công nghiệp phải đối mặt
35
2.3. Lựa chọn hình thức cư trú 40
2.4. Dự định về công việc và cuộc sống 42
V. VẤN ĐỀ VIỆC LÀM CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG DI CƯ RA THÀNH THỊ VÀ CÁC
KHU CÔNG NGHIỆP 43
1. Tình trạng việc làm của người lao động trước khi di cư 43
2. Quá trình chuyển đổi công việc 44
3. Đặc điểm công việc hiện tại 52
3.1. Số giờ làm việc trung bình mỗi tuần 52
3.2. Yêu cầu chuyên môn kỹ thuật của công việc 54
3.3. Tính chất công việc 55
3.4. Thu nhập và sử dụng thu nhập 56
3.5. Vấn đề hợp đồng lao động 60
3.6. Tham gia các loại bảo hiểm 61
3.7. Dự định của người lao động đối với công việc hiện tại 63
4. Việc làm thêm ngoài công việc chính 64
5. Khác biệt trong sử dụng lao động thường trú và lao động di cư 65
iv VI. THỰC TRẠNG ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG DI CƯ RA THÀNH THỊ
VÀ CÁC KHU CÔNG NGHIỆP 66
1. Điều kiện nhà ở và chi phí sinh hoạt 66
2. Chi tiêu và tích lũy 69
3. Vấn đề chăm sóc sức khỏe 71
4. Tiếp cận giáo dục của con em người lao động di cư 72

Bảng 6. Những khó khăn người lao động di cư ra thành thị và khu công nghiệp gặp (%) 36
Bảng 7. Những khó khăn người di cư gặp phải sau khi chuyển đến nơi cư trú hiện tại (%) 37
Bảng 8. Những khó khăn lao động di cư gặp phải chia theo địa bàn khảo sát (%) 39
Bảng 9. Cách thức khắc phục khó khăn trong quá trình di cư của người lao động (%) 40
Bảng 10. Những khó khăn lao động di cư gặp phải khi chưa/không đăng ký thường trú (%) 41
Bảng 11. Tình trạng việc làm trước khi di cư (%) 44
Bảng 12. Loại hình công việc ở lần di cư đầu so với hiện tại (%) 47
Bảng 13. Loại hình công việc hiện tại của lao động di cư chia theo địa bàn (%) 47
Bảng 14. Loại hình cơ quan/tổ chức đã làm việc của lao động di cư ở lần di cư đầu so với
hiện tại (%) 49
Bảng 15. Cơ cấu số giờ làm việc trung bình/tuần (%) 53

Bảng 16. Số giờ làm việc trung bình theo tuần của lao động di cư theo địa bàn (giờ/tuần) 53
Bảng 17. Cách thức sử dụng các khoản thu nhập theo giới (%) 59
Bảng 18. Thực trạng tham gia các loại bảo hiểm của lao động di cư từ nông thôn ra thành thị
và các khu công nghiệp (%) 62
Bảng 19. Ý định gắn bó với công việc hiện tại của người lao động (%) 63
Bảng 20. Đánh giá sự phân biệt giữa lao động thường trú và lao động di cư (%) 66
Bảng 21. Loại hình nhà ở của lao động di cư ra thành thị và các khu công nghiệp (%) 67
Bảng 22. Người ở cùng nhà của lao động di cư ra thành thị và các khu công nghiệp (%) 68
Bảng 23. Một số khoản chi của lao động di cư từ nông thôn ra thành thị và các khu công
nghiệp (nghìn đồng/tháng) 69
Bảng 24. Lựa chọn nơi khám, chữa bệnh (%) 71
Bảng 25. Lý do không đến các cơ sở khám chữa bệnh công lập (%) 72
Bảng 26. Tình trạng đi học của con em lao động di cư (%) 72
Bảng 27. Mong muốn được hỗ trợ từ chính quyền địa phương (%) 77
Bảng 28. Các hỗ trợ người lao động mong muốn khi tham gia học nghề (%) 78

loại hình công việc (%) 57
Hình 16. Thu nhập bình quân theo tháng của lao động di cư từ nông thôn ra thành thị và các
khu công nghiệp chia theo địa phương (triệu đồng/người/tháng) 58
Hình 17. Những nguồn thu nhập thông thường hàng tháng người lao động di cư nhận
được (%) 58
Hình 18. Nguồn vay tiền của lao động di cư ra thành thị và khu công nghiệp (%) 60
Hình 19. Lý do lao động di cư không có hợp đồng lao động (%) 61
Hình 20. Lý do muốn/không muốn gắn bó với công việc hiện tại (%) 64
Hình 21. Việc làm thêm ngoài công việc chính (%) 65
Hình 22. Tình trạng sở hữu nhà của lao động di cư từ nông thôn ra thành thị và các khu công
nghiệp (%) 68
Hình 23. Cách thức ứng xử của người lao động khi bị đau ốm (%) 71
Hình 24. Những khó khăn lao động di cư gặp phải khi có con trong độ tuổi đi học (%) 73
Hình 25. Nguyên nhân người lao động di cư không tham gia sinh hoạt cộng đồng (%) 75
Hình 26. Các hỗ trợ tìm việc làm được người lao động mong muốn (%) 78

vii

1
NHỮNG KẾT QUẢ CHÍNH
Sự thay đổi tất yếu trong xu hướng di cư
Di cư nói chung và di cư lao động nói riêng là xu hướng tất yếu của tiến trình phát triển kinh tế -
xã hội của mọi quốc gia. Tại Việt Nam, di cư cũng bắt đầu từ rất sớm và mang những sắc thái
riêng biệt ở mỗi giai đoạn phát triển. Cho đến trước những năm 1990, chủ yếu là di cư có tổ chức
đến các vùng kinh tế mới. Giai đoạn sau này, hình thức di cư có tổ chức của Nhà nước chuyển
dần sang di cư theo kế hoạch bố trí, sắp xếp lại dân cư. Trong toàn bộ tiến trình đó, di cư tự do
vẫn song hành nhưng quan điểm của Nhà nước trong các chính sách là hạn chế tiến tới chấm dứt.
Di cư giai đoạn này chủ yếu là di cư nông thôn – nông thôn, sinh kế tại thời điểm trước và sau di
cư không mấy khác biệt do gắn chặt với nông nghiệp. Người di cư thường mang theo cả gia
đình.
Trong khoảng hơn 20 năm sau Đổi Mới, Việt Nam đã có những thay đổi mạnh mẽ trong phát
triển kinh tế - xã hội, thu hút đầu tư nước ngoài. Quá trình đô thị hóa và sự phát triển nhanh
chóng của các khu công nghiệp, khu chế xuất một mặt giảm bớt một lượng đáng kể diện tích đất
đai sản xuất, mặt khác đồng thời tạo ra một lượng lớn việc làm phi nông nghiệp, thúc đẩy quá
trình chuyển dịch lao động từ khu vực nông nghiệp. Điều này đã tạo ra xu hướng di cư mới từ
nông thôn ra thành thị và các khu công nghiệp. Đây cũng là một xu hướng di cư tất yếu nhằm
đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động, góp phần đáng kể vào sự phát triển kinh tế - xã hội của

các khu đô thị, trung tâm thương mại, các khu công nghiệp, khu chế xuất, càng làm gia tăng
tình trạng thiếu việc làm, thất nghiệp. Có khoảng 50% lao động đang có việc vẫn quyết định di
cư, trong đó tỷ lệ lao động làm nông nghiệp chiếm tới 38,0%. Có thể nói, nguyên nhân di cư
không chỉ liên quan đến tình trạng thất nghiệp hoặc thiếu việc làm mà còn bởi tính chất thiếu ổn
định, thu nhập thấp của công việc ở khu vực nông thôn.
Quá trình chuyển đổi công việc của lao động di cư
Người lao động di cư nhằm cải thiện tình trạng việc làm hiện tại của họ. Điều này giải thích tại
sao những tiêu chí lựa chọn công việc của họ thường xoay quanh các vấn đề như thu nhập cao,
tính ổn định và công việc không đòi hỏi chuyên môn kỹ thuật. Thực tế cho thấy, thật khó để cho
người lao động có thể thỏa mãn các tiêu chí mâu thuẫn nhau như vậy. Không dễ gì tìm được một
công việc có thu nhập cao nếu họ không chấp nhận dành thời gian cho việc học và nâng cao kỹ
năng nghề hoặc phải chấp nhận bỏ sức lao động nhiều hơn so với người khác. Và ở thời điểm
hiện tại, phần lớn lao động di cư phải chấp nhận đánh đổi sức lao động bởi không có chuyên
môn kỹ thuật.
Những người lao động di cư không quá khó khăn để có được công việc tại nơi di cư. Nhiều
doanh nghiệp cho rằng, hiện nay và ngay cả trong một vài năm tới họ vẫn phải làm quen, chấp
nhận với việc tuyển dụng lao động phổ thông và tự đào tạo. Để giải quyết tình trạng này, một số
trường nghề và doanh nghiệp đã liên kết với nhau để đào tạo theo đơn đặt hàng, hoặc các trường
nghề gửi học viên tới làm việc tại các doanh nghiệp. Rõ ràng việc kết hợp như vậy giúp nâng cao
hiệu quả hoạt động của các bên và bản thân người lao động cũng được hưởng lợi nhiều từ hình
thức hợp tác đó. Có 59,7% người lao động di cư tìm được việc làm ngay trong lần di cư đầu tiên
mặc dù có 40,3% những người lao động di cư ra thành thị và khu công nghiệp gặp khó khăn
trong quá trình tìm việc. Nhóm còn lại phải mất trung bình 2,7 tháng để tìm được công việc đầu
tiên tại nơi di cư. Nhiều địa phương đã có những chính sách hỗ trợ tìm việc kịp thời và hiệu quả
như Bình Dương với chính sách liên kết lao động. Chính sách đã chủ động đáp ứng một cách tốt
nhất nhu cầu về lao động của các doanh nghiệp, giải quyết việc làm, sớm ổn định đời sống cho
người lao động.
So với lần di cư đầu tiên, sự thay đổi về loại hình công việc hiện tại là không nhiều, lao động di
cư ra thành thị và các khu công nghiệp vẫn chủ yếu làm công nhân hoặc lao động làm thuê tự do.
Điều này cho thấy, rõ ràng hạn chế về học vấn và chuyên môn là một trong những rào cản khiến

Đặc điểm công việc hiện tại của lao động di cư
Đặc điểm, tính chất công việc
Liên quan đến đặc điểm công việc hiện tại của lao động di cư, nghiên cứu này làm rõ các khía
cạnh về tính chất công việc, số giờ làm việc, thu nhập, vấn đề hợp đồng lao động và các phúc lợi
xã hội. Một bộ phận không nhỏ những người di cư khi rời bỏ công việc đồng áng thường chuyển
sang làm công nhân trong các khu công nghiệp hoặc làm thuê các công việc không cố định tại
đô thị. Do không có chuyên môn kỹ thuật nên người lao động di cư thường phải đảm nhận các
công việc nặng nhọc, có tính chất ô nhiễm (30,5%), độc hại (14,1%) và nguy hiểm (10,4%).
Ở thời điểm di cư lần đầu có 49,8% lao động di cư được hỏi khẳng định thu nhập từ công việc
mà họ có được tốt hơn, 8,5% khẳng định thu nhập vẫn như cũ và chỉ có 2,0% cho rằng mức thu
nhập của công việc mới sau di cư kém hơn so với công việc trước đây của họ. Tính ổn định của
công việc nhìn chung cũng đáp ứng được sự kỳ vọng của người lao động khi di cư, ít nhất là so
4 với tình trạng bấp bênh của công việc đồng áng trước đó. Có 40,3% những người được hỏi
khẳng định công việc di cư có tính ổn định hơn, 10,0% cho rằng mức độ ổn định là như nhau và
chỉ có 6,5% cho rằng công việc kém ổn định hơn so với trước.

Số giờ làm việc trung bình
Trình trạng làm việc nhiều, ăn uống kham khổ, không ít công nhân đang đánh cược sức khỏe và
tính mạng của mình. Các số liệu khảo sát cho thấy, nhóm lao động di cư ra thành thị và các khu
công nghiệp có số giờ làm việc trung bình/tuần là 57,8 giờ. Nhóm lao động di cư ra thành thị có
số giờ làm việc trung bình/tuần cao hơn 3,8 giờ so với lao động di cư đang làm việc tại các khu
công nghiệp (58,4 giờ so với 54,6 giờ). Trình độ chuyên môn kỹ thuật dẫn tới sự khác biệt cơ
bản về loại hình công việc và số giờ làm việc. Nhóm lao động di cư ra thành thị phải làm thêm
giờ hoặc có số giờ làm việc cao thường rơi vào nhóm lao động tự do. Đối với nhóm này, số giờ
làm việc bình quân lên tới 62,1 giờ/tuần.
Vẫn có sự khác biệt về số giờ làm việc trung bình/tuần giữa lao động di cư là nam giới và nữ giới
nhưng không đáng kể. Cụ thể số giờ làm việc trung bình/tuần của nam giới là 57,6 giờ/tuần,

nhập bình quân 3,4 triệu đồng/tháng, trong khi đó lao động di cư là nữ giới đạt 3,0 triệu
đồng/tháng, chỉ bằng 87,9% mức thu nhập bình quân theo tháng của nam giới. Lao động nữ di cư
ra thành thị và khu công nghiệp phải làm việc nhiều thời gian hơn nhưng lại nhận được mức
lương thấp hơn so với nam giới. Với mức thu nhập hiện tại và trách nhiệm tài chính đối với nơi
di cư đi, không nhiều người lao động để dành được tiền để gửi tiết kiệm hoặc tái đầu tư. Có
40,3% những người lao động được hỏi có gửi tiền về gia đình. Có sự khác biệt giữa lao động di
cư nam và nữ trong việc sử dụng các khoản thu nhập hàng tháng mà họ kiếm được. Ngoài khoản
chi tiêu hàng ngày là bắt buộc, tỷ lệ nữ giới gửi tiền về gia đình cao hơn, họ cũng ít gửi tiết kiệm
cá nhân hơn so với nam giới. Chỉ có 37,7% lao động di cư nam gửi tiền về gia đình, trong đó ở
nữ giới là 42,7%. Điều này đồng nghĩa với việc nữ giới chịu sức ép lớn hơn nam giới trong việc
gửi tiền về gia đình.
Vấn đề hợp đồng lao động
Hợp đồng lao động ràng buộc trách nhiệm của các bên đối với việc thực hiện các phúc lợi xã hội
theo quy định cho người lao động. Tuy vậy, tình hình thực hiện ký kết hợp đồng lao động đối với
nhóm di cư từ nông thôn ra thành thị và các khu công nghiệp còn nhiều điều đáng bàn. Các số
liệu khảo sát từ nghiên cứu này cho thấy chỉ có 46,7% lao động di cư có ký kết hợp đồng lao
động. Có sự chênh lệch rất lớn giữa hai nhóm lao động di cư được khảo sát khi mà có 83,2% lao
động di cư tại các khu công nghiệp được hỏi có ký hợp đồng lao động, nhóm lao động di cư ra
thành thị có hợp đồng lao động rất thấp chỉ chiếm 39,5%. Nữ giới quan tâm nhiều hơn đối với
vấn đề hợp đồng lao động, tỷ lệ lao động nữ có hợp đồng chiếm 51,7% trong khi đó ở nam giới
chiếm 40,6%. Bộ luật Lao động quy định trước khi nhận người lao động vào làm việc, người sử
dụng lao động và người lao động phải trực tiếp giao kết hợp đồng lao động, ngoại trừ đối với
công việc tạm thời có thời hạn dưới 03 tháng. Nội dung quy định này lý giải tại sao lao động tự
do thường không được ký hợp đồng. Đặc biệt đối với nhóm lao động di cư ra thành thị, có tới
56,5% những người không có hợp đồng lao động là lao động tự do. Đối với nhóm lao động đang
làm việc tại khu công nghiệp, có 29,4% người lao động không ký hợp đồng vì họ là lao động tự
do, 19,3% đang trong giai đoạn thử việc. Tỷ lệ người lao động không được ký hợp đồng lao
động có nguyên nhân do người sử dụng lao động không ký chiếm 11,8%, sự chênh lệch giữa hai
nhóm lao động di cư ra thành thị và khu công nghiệp trong trường hợp này không đáng kể.
Tham gia các loại bảo hiểm

Nghiên cứu này muốn làm rõ có hay không việc lao động di cư phải cải thiện thu nhập của mình
thông qua công việc làm thêm ngoài công việc chính? Có rất ít lao động di cư ra thành thị và các
khu công nghiệp có công việc làm thêm ngoài công việc chính, chỉ chiếm tỷ lệ khoảng 2,2%.
Thực tế phần đông lao động di cư ra thành thị và các khu công nghiệp tập trung vào hai nhóm
việc chính là làm công nhân hoặc lao động tự do. Với thời gian làm việc trung bình khoảng 58-
60 giờ/tuần hiện nay rất khó cho người lao động có thể nhận làm thêm một công việc khác. Một
số ít người lao động di cư có công việc làm thêm thường là làm tạp vụ, bảo vệ, giúp việc gia đình
(44,1%) hoặc làm lao động tự do (32,2%).
Sự khác biệt trong tuyển và sử dụng lao động di cư và lao động địa phương
Kết quả khảo sát cho thấy mức lương, cường độ công việc, chế độ xã hội và thời gian làm việc là
những yếu tố được đánh giá không có sự phân biệt giữa lao động di cư và lao động tại địa
phương. Vấn đề tuyển dụng, cơ hội thăng tiến và đào tạo là những yếu tố được đánh giá có sự
phân biệt rõ ràng hơn. Có 9,6% lao động di cư khẳng định việc tuyển dụng lao động trong các
doanh nghiệp có ưu tiên lao động địa phương, 4,3% cho rằng có ưu tiên đối với cơ hội thăng tiến
và 3,3% khẳng định có sự ưu tiên đối với cơ hội đào tạo.
7 Lao động địa phương có tính chất ổn định, gắn bó với các doanh nghiệp hơn bởi ít bị chi phối
bởi các yếu tố phát sinh từ nơi di cư đi, nhà cửa, lập gia đình,… có thể dẫn đến quyết định rời bỏ
công việc của lao động di cư. Những yếu tố này tạo nên lợi thế khách quan của lao động sở tại so
với lao động di cư trong quá trình tuyển dụng, cơ hội đào tạo và thăng tiến, nhưng rõ ràng những
lợi thế này là không đáng kể.

8 Đời sống của lao động di cư ra thành thị và các khu công nghiệp
Vấn đề nhà ở
Nhà ở là vấn đề bức thiết nhất đối với lao động di cư hiện nay khi nhu cầu nhà ở rất lớn nhưng

lũy và gửi về gia đình. Những phân tích trước đó cho thấy, phần lớn thu nhập của người lao động
được sử dụng cho chi tiêu hàng ngày và các mục đích cá nhân, chỉ có 40,3% người lao động gửi
tiền về gia đình.
Chăm sóc sức khỏe
Lao động di cư là nhóm có nguy cơ cao đối với các vấn đề sức khỏe do các điều kiện làm việc và
chăm sóc sức khỏe rất hạn chế. Đối với một số loại bệnh thông thường, phần lớn người lao động
di cư chọn cách tự đến các hiệu/cửa hàng thuốc để mua thuốc uống mà không cần đi khám,
chiếm 31,4%. Trong trường hợp bệnh nặng, cần phải khám chữa họ mới buộc phải đến các cơ sở
y tế. Khoảng 25,0% người lao động thường khám chữa bệnh tại các bệnh viện, phòng khám tư
nhân hoặc khám tại nhà bác sĩ. Họ không lựa chọn đến các cơ sở y tế công lập bởi bệnh nhẹ,
khám tại các cơ sở y tế công lập mất nhiều thời gian và thủ tục rườm rà, phức tạp.
9
Tiếp cận giáo dục của con em lao động di cư
Vấn đề đặt ra là quá trình di cư làm thay đổi như thế nào vấn đề giáo dục của các thành viên đi
kèm? Tại thời điểm khảo sát, có khoảng 44,7% lao động di cư từ nông thôn đã lập gia đình. Đối
với những lao động di cư đã lập gia đình được hỏi, chỉ có 9,1% có con cái trong độ tuổi từ 5-18
đang sống chung. Nhóm tuổi từ 5-18 tuổi là nhóm tuổi đang theo học các bậc học mầm non và
phổ thông. Tỷ lệ con em lao động di cư trong độ tuổi từ 5-18 đang theo học chiếm 88,1%. Tỷ lệ
hộ có con từ 5-18 tuổi không đi học của nhóm lao động di cư ra thành thị chiếm tới 12,8%, của
nhóm lao động tại các khu công nghiệp là 5,0%.
Những khó khăn chính mà các hộ gia đình lao động di cư đang gặp phải khi có con đi học cũng
chủ yếu liên quan đến vấn đề tài chính. Bên cạnh đó, việc tiếp cận với hệ thống giáo dục công
lập vẫn có những khó khăn nhất định do quy định hộ khẩu và khả năng đáp ứng có giới hạn của
hệ thống này. Nhóm lao động di cư ra thành thị gặp khó khăn nhiều hơn nhóm lao động di cư tại
các khu công nghiệp trong việc cho con cái theo học các trường công lập. Hệ thống giáo dục tại
một số địa phương nơi có khu công nghiệp vẫn còn khả năng đáp ứng nhu cầu học của con em
công nhân do vậy họ vẫn nhận mặc dù không có hộ khẩu. Do vậy, chỉ có 6,5% người lao động di

thôn/tổ dân phố vắng bóng sự tham gia của lực lượng này. Số liệu khảo sát cho thấy, chỉ có
10,2% lao động di cư tham gia các hoạt động sinh hoạt cộng đồng tại địa phương. Trong khi,
một số doanh nghiệp chưa thực sự quan tâm chăm lo đời sống văn hóa tinh thần cho công nhân.
Chính sách cho người lao động di cư từ nông thôn ra thành thị và các khu công nghiệp –
những vấn đề đặt ra
Lao động di cư từ nông thôn ra thành thị và các khu công nghiệp là xu hướng tất yếu thay thế
dần các hình thức di cư trước đó. Tuy vậy, hệ thống chính sách hiện hành về lao động di cư còn
thiếu hụt lớn khi có rất ít các chính sách trực tiếp dành cho nhóm đối tượng này. Bên cạnh đó, hệ
thống chính sách hiện hành cũng bộc lộ những hạn chế và bất cập trong quá trình thực hiện, triển
khai.
Hiện trạng chính sách
Chính quyền địa phương không có vai trò rõ nét trong những ảnh hưởng tới người di cư. Có
92,9% người lao động di cư được hỏi cho rằng địa phương sở tại không có bất kỳ hỗ trợ gì cho
họ. Vai trò nổi bật nhất của các địa phương chính là hỗ trợ đảm bảo an ninh trật tự tại nơi người
lao động di cư thuê trọ (2,7%).
Có tới 44,7% người lao động không cần học thêm kỹ năng mới nào vẫn có thể được nhận để làm
công việc hiện tại. Phần lớn lao động di cư có trình độ học vấn thấp, không có chuyên môn kỹ
thuật và hệ quả là làm các công việc nặng nhọc, thiếu ổn định, số giờ làm việc cao, không có hợp
đồng lao động và mức thu nhập thấp. Có khoảng 10,9% người lao động di cư mong muốn nhận
được những hỗ trợ học nghề, 24,0% mong muốn được hỗ trợ tìm việc làm. Mặc dù lao động di
cư từ nông thôn ra thành thị và các khu công nghiệp có trình độ học vấn thấp, phần lớn không có
chuyên môn kỹ thuật song hầu hết các chính sách đào tạo nghề và hỗ trợ việc làm hiện nay đều
dành cho nhóm lao động nông thôn, lao động vùng chuyển đổi mục đích sử dụng đất mà không
có những chính sách hỗ trợ đối với nhóm lao động di cư. Lao động di cư từ nông thôn ra thành
thị và các khu công nghiệp đang trở thành xu hướng phổ biến, lực lượng này có những đóng góp
ngày càng quan trọng đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Việc nâng cao
trình độ chuyên môn kỹ thuật là cần thiết nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động, góp
phần nâng cao vị thế của người lao động.
Nhà ở là vấn đề bức thiết nhất đối với lao động di cư hiện nay khi nhu cầu nhà ở rất lớn nhưng
khả năng đáp ứng hạn chế. Hiện có 71,1% lao động di cư cho biết phải đối mặt với những khó

nói chung và lao động di cư nói riêng trên cơ sở nhận thức đầy đủ về những tác động của nó đối
với sự phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Các giải pháp về chính sách chỉ
là một trong số nhiều nhóm giải pháp khác đối với vấn đề lao động di cư và đòi hỏi cần sự thực
hiện đồng bộ, phối kết hợp với nhau nhất là khả năng đánh giá, dự báo sự phát triển của các dòng
lao động di cư để có các cơ chế, chính sách cho phù hợp. Do vậy, cần kiện toàn hệ thống chính
sách về di cư nội địa nói chung và di cư lao động nói riêng. Việc ban hành một chính sách mới
hỗ trợ riêng cho nhóm lao động di cư từ nông thôn là cần thiết. Bên cạnh đó, cần đánh giá lại
hiệu quả, những hạn chế, bất cập của chính sách phát triển nhà cũng như các quy định cho vay
vốn từ Quĩ phát triển nhà ở, Đồng thời, cần tiếp tục điều chỉnh, bổ sung các chính sách hỗ trợ
tính giá điện, nước sinh hoạt phù hợp cho nhóm lao động di cư.
Ngoài ra, trong dự thảo Luật Việc làm cũng cần xem xét, bổ sung các qui định liên quan đến lao
động di cư như:
− Cung cấp, hỗ trợ thông tin cho lao động di cư
12 − Các chính sách cho lao động di cư
− Tổ chức và quản lý lao động di cư
− Quỹ hỗ trợ lao động di cư
− Quy định trách nhiệm của các cơ quan có liên quan đến lao động di cư

I. BỐI CẢNH NGHIÊN CỨU
Gần 30 năm sau Đổi Mới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trên hầu hết mọi lĩnh vực và
đang tiếp tục hướng đến mục tiêu trở thành một nước công nghiệp hiện đại vào năm 2020. Sự
biến đổi đã diễn ra với tốc độ mạnh mẽ kể từ nửa sau thập niên 90 của thế kỷ trước cho tới nửa
đầu thập niên thứ nhất của thế kỷ này. Có thể nhận thấy một cách rất dễ dàng sự biến đổi này nếu
nhìn từ cơ cấu kinh tế. Thay vì một nước với nông nghiệp chiếm tuyệt đại đa số trong cơ cấu
GDP, Việt Nam đã nhanh chóng cải thiện các điều kiện về thu hút đầu tư, đẩy mạnh chuyển dịch
cơ cấu kinh tế, phát triển công nghiệp và dịch vụ. Sự phát triển nhanh chóng của khu vực phi
nông nghiệp không chỉ mang lại giá trị gia tăng cao hơn cho nền kinh tế mà còn góp phần làm

Trong bối cảnh đó, di cư lao động trong nước ngày càng phổ biến nhằm đáp ứng nhu cầu phát
triển kinh tế - xã hội tại Việt Nam. Các dòng dịch chuyển lao động đến các đô thị và các khu
công nghiệp này đang dần đóng vai trò thay thế các chương trình di cư có tổ chức của Chính
phủ. Phần lớn lý do di cư liên quan đến mục đích kinh tế và đối tượng di cư có liên quan đến
nhóm người trong độ tuổi lao động. Hoạt động di cư này là một xu thế tất yếu, được vận hành
theo qui luật cung – cầu của thị trường lao động, các luồng di cư đã khỏa lấp đáng kể nhu cầu lao
động tại khu vực đô thị và các khu công nghiệp. Trong rất nhiều những tài liệu nghiên cứu gần
đây chỉ ra rằng, những vấn đề chính mà lao động di cư đang phải đối mặt như khó khăn về nhà ở,
tìm kiếm việc làm, ổn định cuộc sống và những rào cản đối với việc tiếp cận các dịch vụ y tế,
giáo dục, khả năng hòa nhập cộng đồng, sức khỏe sinh sản,…
Để có cơ sở cho việc ban hành chính sách rất cần phải có những nghiên cứu chuyên sâu đủ độ tin
cậy liên quan tới vấn đề này. Báo cáo tổng thể “Thực trạng việc làm, đời sống của lao động di cư
từ nông thôn ra thành thị và các khu công nghiệp” được thực hiện nằm trong khuôn khổ dự án
“Tình hình di chuyển lao động từ nông thôn ra thành thị và các khu công nghiệp trong bối cảnh
Việt Nam gia nhập WTO” do Chính phủ Việt Nam đồng tài trợ với Chính phủ Liên hiệp Vương
quốc Anh và Bắc Ai len, Chính phủ Australia.
II. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
Mỗi năm thế giới chứng kiến sự di cư của hàng trăm triệu người (phần lớn đều ở trong độ tuổi
lao động) với nhiều nguyên nhân khác nhau: các lý do về kinh tế, những nguyên nhân về an toàn
xã hội, nhiều mưu cầu về hạnh phúc Quá trình di chuyển của cộng đồng người từ nơi này đến
nơi khác do đó cũng trở thành hiện tượng bất biến của lịch sử. Sự khác biệt chỉ nằm ở những
thay đổi về quy mô, phương thức hay mục đích của quá trình di chuyển.
Tại Việt Nam, lịch sử của quá trình di cư cũng đã tồn tại qua hàng chục thế kỷ xuất phát từ nhiều
nguyên nhân khác nhau. Trong thế kỷ XXI, những chuyển động di cư trong nước và quốc tế
đang ngày càng sôi động hơn khi gần như có sự đồng thuận giữa dòng chuyển cư với những dịch
chuyển trong cơ cấu kinh tế - xã hội của đất nước. Cùng với sự phát triển và mở rộng nhanh
chóng của các khu đô thị và khu công nghiệp cũng như những biến đổi xã hội nội tại của khu vực
nông thôn, làn sóng di cư từ nông thôn ra đô thị và các khu công nghiệp vẫn tiếp tục có xu hướng
gia tăng, đồng thời có nhiều thay đổi về phương thức di cư. Quá trình này cũng đã và đang nảy
sinh nhiều vấn đề xã hội phức tạp không chỉ đối với người di cư mà còn đối với cả nơi đi và nơi

động.
Chỉ ra thực trạng cũng là cách thức tốt để đưa ra các dự đoán về xu hướng, và mặt khác các nhận
định về xu hướng hay chiều hướng của di cư cũng sẽ là căn cứ quan trọng để xây dựng các chính
sách về di cư hợp lý. Báo cáo Xu hướng lao động và xã hội Việt Nam 2009-2010 do Viện Khoa
học Lao động và Xã hội soạn thảo với sự hỗ trợ tài chính và kỹ thuật của ILO đã đáp ứng một
phần nhu cầu này. Trên cơ sở trình bày tổng quan kinh tế - xã hội trong và ngoài nước cũng như
chỉ ra xu hướng lao động Việt Nam 2009-2010, báo cáo đã đưa ra nhiều phát hiện liên quan đến
hoạt động di cư, đặc biệt là xu hướng của di cư trong những năm tới đây. Theo đó, tác động của
cuộc khủng hoảng kinh tế đã ảnh hưởng đến chiều hướng của dòng di cư tại Việt Nam, trong đó,
hướng đi của dòng di cư trong nước lại đổi ngược dòng, đó là xu hướng gia tăng số dân di cư
quay trở về quê nhà sau khi mất việc làm ở các khu công nghiệp và đô thị. Thực tế này khiến cho
khu vực nông thôn phải đối diện với sức ép về lao động và việc làm. Tuy nhiên, nhìn về tương
lai, xu hướng về dịch chuyển lao động vẫn được khẳng định là sự gia tăng tiếp tục của làn sóng
di cư từ nông thôn ra đô thị, tiếp tục gây ra áp lực về việc làm và cơ sở hạ tầng đối với khu vực
này. Hơn nữa quá trình hội nhập sâu về kinh tế quốc tế và chuyển đổi cơ cấu kinh tế cũng đặt ra
vấn đề cần có giải pháp phòng ngừa rủi ro cho các nhóm có nguy cơ nghèo, trong đó có người
lao động di cư trước các biến động về kinh tế xã hội. Báo cáo cũng đồng thời chỉ ra xu hướng di
cư lao động của Việt Nam và cũng chính là những định hướng cơ bản cho việc hoạch định chính
sách đối với lao động di cư trong thời gian tới.
Trong dòng di chuyển lao động trong nước, di cư từ nông thôn ra đô thị và khu công nghiệp
chiếm một phần chủ yếu, cũng chính bởi vậy, những nghiên cứu xoay quanh vấn đề này cũng
15 chiếm một tỷ lệ khá cao trong lượng báo cáo về di cư của Việt Nam. Điển hình cho báo cáo ở
nhóm này là Báo cáo Di cư và đô thị hóa ở Việt Nam: thực trạng, xu hướng và khác biệt năm
2011 do Tổng cục Thống kê thực hiện dựa trên kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009.
Điểm đáng chú ý trong báo cáo này đó là bên cạnh việc mô tả, phân tích về thực trạng di cư, báo
cáo cũng đã chỉ ra xu hướng di cư tại Việt Nam trong vòng 20 năm (từ năm 1989) – đây cũng là
điểm nhấn quan trọng không chỉ giúp nhìn nhận về quá trình di cư trong tác động đa chiều của

những trọng tâm của các báo cáo về di cư cũng chính là tìm hiểu, nghiên cứu và đánh giá về tính
đa diện, đa chiều trong các tác động của vấn đề di cư hiện nay.
Báo cáo Từ nông thôn ra thành phố: Tác động kinh tế - xã hội của di cư ở Việt Nam của Viện
Nghiên cứu Phát triển xã hội (ISDS) công bố năm 2011 là kết quả nghiên cứu về những ảnh
1
http://molisa.gov.vn/news/detail2/tabid/371/newsid/54826/seo/Thuc-trang-van-de-tuyen-dung-va-viec-lam-cua-
lao-dong-nu-di-cu-den-cac-khu-cong-nghiep-khu-che-xuat-o-Viet-Nam/language/vi-VN/Default.aspx
16
hưởng của di cư nông thôn – đô thị do Viện thực hiện năm 2008 tại 4 tỉnh/thành phố: Thái Bình,
Tiền Giang, Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh. Báo cáo này hướng tới mục tiêu chính là cung cấp
những bằng chứng thực nghiệm về vai trò hay các tác động tích cực của hoạt động di cư đối với
quá trình xóa đói giảm nghèo ở các địa phương hiện nay thông qua đó hướng đến việc tìm kiếm
sự đồng thuận của chính quyền tại các địa phương cũng như xã hội đối với hoạt động di cư. Báo
cáo đã chỉ ra những tác động tích cực của di cư đối với cả khu vực nông thôn (nơi đi) và khu vực
thành thị (nơi đến), cả ở khía cạnh kinh tế lẫn khía cạnh xã hội. Báo cáo khẳng định mặc dù
mang lại nhiều lợi ích cho quá trình phát triển ở cả khu vực nông thôn và đô thị, song bản thân
người di cư lại chưa được nhìn nhận đúng với vai trò này, quyền lợi của những người di cư chưa
được đảm bảo bởi chính những “khoảng trống” trong chính sách, đặc biệt là các chính sách về
bảo trợ xã hội cho người di cư cũng như các chính sách về hộ khẩu và hỗ trợ quản lý các đối
tượng người di cư. Đáng tiếc khi các phân tích chủ yếu thiên về mặt tích cực của quá trình di cư
nông thôn – đô thị mà không nhìn nhận vấn đề này toàn diện hơn để thấy được cả những hạn chế
của hoạt động di cư từ đó đảm bảo cho việc đề xuất chính sách phù hợp. Việc phân tích chủ yếu
dựa trên số liệu định lượng và các kết quả, đánh giá trích dẫn từ các nghiên cứu khác mà thiếu đi
các nghiên cứu định tính bổ trợ cũng là một điểm đáng tiếc khác của báo cáo. Di cư vốn là một
quá trình đa diện nhất là khi xem xét ở góc độ chính sách, do đó luôn cần phải có những cách
tiếp cận đa chiều đối với vấn đề này để giúp cho hành trình từ nông thôn ra thành thị của những
người di cư bớt gian nan và thực sự mang lại nhiều lợi ích về kinh tế - xã hội.

quát, toàn diện với những phân tích sâu sắc hơn về xu thế cũng như các cơ chế tác động của di
cư đối với xã hội cũng như gia đình và bản thân những người di cư, và tất nhiên phải được đi
kèm với những đánh giá chính sách tương ứng.
3. Các khía cạnh khác nhau của vấn đề di cư - từ nhu cầu cá nhân tới vấn đề chính sách
Cũng như các hiện tượng khác trong đời sống xã hội, hoạt động di cư cũng kéo theo hàng loạt
các vấn đề nảy sinh. Trong đó mỗi vấn đề, mỗi khía cạnh của hoạt động di cư đều chứa đựng
nhiều ý nghĩa và những đánh giá, phân tích về các khía cạnh này sẽ giúp nhìn nhận sâu sắc hơn
về câu chuyện di cư. Một số khía cạnh thường được đề cập nhiều hơn cả như: giới, việc làm, chất
lượng sống, khả năng tiếp cận với các dịch vụ xã hội, các nguy cơ/rủi ro, nhu cầu và chính sách
liên quan đến di dân.
• Nữ hóa di cư
Khi mà phụ nữ ngày càng chứng tỏ thế mạnh của mình bằng việc tích cực gia nhập thị trường lao
động, xu hướng nữ hóa di cư đã và đang trở thành xu hướng ngày càng được khẳng định. Phụ nữ
không còn bị trói buộc vào ngôi nhà, và mảnh đất tại các làng quê, mà sự định hướng nghề
nghiệp, mưu sinh đã dần chuyển hướng sang các khu công nghiệp và đô thị hiện đại. Không thể
phủ nhận những đóng góp của xu hướng này tới đời sống kinh tế - xã hội cũng như với cá nhân
người phụ nữ (nhất là ở khía cạnh bình đẳng giới), song những nguy cơ, rủi ro dành cho họ khi
chấp nhận cuộc sống di cư luôn thường nặng nề hơn so với lao động di cư nam giới. Cũng vì thế
nên dễ hiểu khi có nhiều nghiên cứu về di cư “xoáy sâu” vào khía cạnh giới.
Có thể điểm qua một số báo cáo nổi bật như: Báo cáo về Lao động nữ di cư giúp việc nhà từ
đồng bằng sông Cửu Long (Nghiên cứu tại phường 9 thị xã Trà Vinh) của tác giả Nguyễn Thị
Hòa – Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ; Báo cáo phụ nữ và lao động di cư của TS. Lê Thị
Kim Lan, Báo cáo di cư lao động từ nông thôn ra thành phố: Những khía cạnh tâm lý xã hội của
người phụ nữ bán hàng rong của PGS.TS. Trần Thị Minh Đức dựa trên kết quả số liệu thống kê
của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, Tổng cục Thống kê về di cư lao động nữ và kết quả
phỏng vấn bán cấu trúc với một số lao động nữ di cư theo mùa (năm 2000 và 2004), Báo cáo
Tóm tắt một số chỉ số phân tích theo giới tính từ số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam
năm 2009, UNFPA, (5/2011), Báo cáo Giới và tiền chuyển về của lao động di cư (2012) của
Tổng cục Thống kê và Tổ chức Di cư quốc tế (IOM)
Báo cáo “Tóm tắt một số chỉ số phân tích theo giới tính từ số liệu của tổng điều tra dân số và


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status