ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ HUẾ
ĐỀ TÀI: “Di cư từ Nông Thôn ra Thành Thị
Thực Trạng và Giải Pháp”
Giáo viên hướng dẫn: Nhóm sinh viên thực hiện: N07
1. Trần Đức Mạnh.
2. Hồ Huy Lục.
3. Nguyễn Ngọc Tuấn.
4. Nguyễn Tuấn Thọ.
5. Phomvongsa Phetoudone.
6. Hồ Đức Dũng.
7. La Thành Đạt
Huế, 05/2013
1
Trần Đoàn Thanh Thanh
ĐẶT VẤN ĐỀ.
Con người sinh ra có nhu cầu tồn tại và phát triển. Để phục vụ nhu cầu thiết yếu của
bản thân mình, từ ngày xưa con người đã phải di chuyển từ địa điểm này đến địa điểm
khác tìm những nơi thích hợp cho sự sinh tồn. Khi xã hội ngày càng phát triển, con người
di cư theo nhu cầu tăng lên không ngừng. Như vậy chúng ta thấy di cư là một hiện tượng
mang tính quy luật khách quan.
Đối với mỗi đất nước trong đó có Việt Nam, việc di cư của người dân cũng thể hiện
sự tồn tại của mỗi quốc gia trước thách thức cuộc sống và có ý nghĩa quan trọng trong
việc phân công lao động lãnh thổ, thể hiện sự phù hợp với xu thế chung của sự phát triển.
Trong lịch sử Việt Nam di dân luôn gắn liền với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất
nước.
Từ khi bước vào thời kỳ “Đổi Mới”, di cư trong nước và tác động của nó tới quá
trình đô thị hóa đã trở thành một bộ phận quan trọng của quá trình tăng trưởng kinh tế
nhanh chóng ở Việt Nam. Di cư trong nước đã tăng lên nhanh chóng với tốc độ chưa
từng có trong hai thập kỷ qua. Cụ thể theo số liệu thống kê của Tổng cục thống kê năm
2009 thì số lượng dân di cư giữa các tỉnh tăng từ 1,3 triệu người năm 1989 lên 2 triệu
kèm theo sự thay đổi chỗ ở thường xuyên trong khoảng thời gian di dân xác định”.
Di dân hay di cư bao gồm hai quá trình: xuất cư và nhập cư.
- Xuất cư (emigration): là quá trình chuyển đi của dân cư tự một vùng hay một quốc gia
này sang một vùng hay một quốc gia khác để sinh sống thường xuyên hoặc tạm thời
(trong một khoảng thời gian dài).
- Nhập cư (immigration): là quá trình chuyển đến của dân cư từ một vùng hay một quốc
gia khác để sinh sống thường xuyên hay tạm thời (trong một khoảng thời gian dài).
Cả hai quá trình xuất cư và nhập cư đều có những ảnh hưởng đến cơ cấu và động lực
tăng dân số của một vùng hay một quốc gia, nhất là quá trình nhập cư đôi khi đóng vai
trò quyết định trong việc hình thành dân cư ở một số khi vực.
2. Nguyên nhân di cư.
Có nhiều yếu tố tác động dẫn đến sự di chuyển của dân cư.Các yếu tố này thuộc về
các điều kiện tự nhiên (như khí hậu, địa hình, đất đai, tài nguyên…) hay các điều kiện
kinh tế, chính trị, xã hội và chính sách dân số của quốc gia. Sự thuận lợi hay khó khăn
của các yếu tố này ở các vùng sẽ tạo nên lực hút hay lực đẩy của mỗi vùng mà có ảnh
hưởng tới sự chuyển đến hay ra đi của dân cư. Qúa trình di dân xảy ra khi có sự khác biệt
nhất định giữa vùng đi và vùng đến về một số yếu tố đặc trưng như kinh tế, việc làm, thu
nhập, tài nguyên thiên nhiên và môi trường; yếu tố dân cư và xã hội; sự thay đổi về tiến
bộ kỹ thuật và công nghệ. Ngoài ra, yếu tố lực hút và lực đẩy còn bao gồm những yếu tố
cá nhân như tình trạng hôn nhân, gia đình, thay đổi nghề nghiệp, việc làm,…; các yếu tố
khác như thiết chế xã hội.
Từ những điều đó chúng ta có thể rút ra những nguyên nhân chủ yếu của hiện tượng
di cư của người dân từ nông thôn ra thành thị có thể đưa ra một số nguyên nhân cơ bản
sau:
- Thứ nhất: nguyên nhân kinh tế: hầu hết các nhà kinh tế học, các nhà xã hội học đều
nhất trí rằng hiện tượng di cư của người dân từ nông thôn ra thành thị có thể được giải
thích chủ yếu bằng nguyên nhân kinh tế. Những nhân tố này bao gồm không chỉ bởi lực
đẩy quen thuộc từ nơi xuất cư như: thiếu đất canh tác, thiếu việc làm, thu nhập thấp,…
mà còn bởi lực hút từ những nơi nhập cư: cơ hội việc làm có tính ổn định, thu nhập cao
hơn so với nơi ở cũ… Các nghiên cứu gần đây cho thấy: tiền lương, thu nhập, việc làm,
mạnh mẽ đối với giới trẻ vùng nông thôn vì có nhiều cơ hội việc làm, học tập, tiện nghi
sinh hoạt và những triển vọng tương lai đầy sáng lạng… từ đó hình thành nên luồng
chuyển cư đặc trưng nông thôn - thành thị.
Ở nước ta, theo nghiên cứu thì di cư từ nông thôn – thành thị có 3 dòng chính sau:
- Di cư từ Đồng bằng sông Cửu Long, Miền Trung, Miền núi phía Bắc, và miền đồng bằng
sông Hồng đến miền Đông Nam Bộ.
- Di cư từ miền núi phía Bắc xuống Đồng bằng sông Hồng.
- Di cư từ Duyên hải miền Trung, Miền núi phía Bắc, đồng bằng sông Hồng đi Tây
Nguyên.
II. Thực trạng di cư hiện nay ở Việt Nam.
4
1. Di cư, đặc biệt là di cư giữa các tỉnh đã tăng mạnh cả về số lượng và tỷ lệ hơn hẳn
so với thập kỷ trước đó.
Tốc độ di dân gia tăng nhanh, quy mô ngày một lớn, tác động không nhỏ tới mỗi gia
đình và từng quốc gia. Trên thế giới, di dân đã được khẳng định là vấn đề của thời đại,
mang tính toàn cầu.Đây cũng là vấn đề lớn mà Việt Nam đang phải đối mặt.
Trong số hơn 78 triệu dân từ 5 tuổi trở lên trong năm 2009, có 2,1 % hay tương ứng
với 1,6 triệu người di cư trog huyện; 2,2% hay 1,7 triệu người di cư giữa các huyện; 4,3%
hay 3,4 triệu người di cư giữa các tỉnh, và có một tỉ lệ rất nhỏ chiếm 0,1 % hay 40.990
người nhập cư quốc tế. Kết quả đó thể hiện qua bảng 2.1.
Bảng 2.1: Dân số di cư và không di cư theo loại hình di cư, 1989 - 2009
1989 1999 2009
Số người % Số người % Số người %
Di cư trong huyện - -
1.342.568
2,0 1.618.160 2,1
Không di cư trong huyện - -
64.493.309
93,5
71.686.913
68.975.128
99,9
78.411.872
99,9
Nguồn: Theo Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 2009.
Xu hướng gia tăng di cư cả về số lượng lẫn tỉ lệ người di cư được quan sát thấy trong
hai thập kỉ qua, những xu hướng gia tăng này chỉ nổi bật rõ rệt trong vòng một thập kỉ
vừa qua. Có rất nhiều lí do có thể dẫn tới sự gia tăng này, trong đó phải kể đến việc giảm
thiểu hệ thống hợp tác xã, việc chuyển đổi nền kinh tế từ tập trung bao cấp sang nền kinh
tế thị trường, việc dỡ bỏ các quy định hạn chế sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân,
sự phát triển của giao thông vận tải, sự gia tăng khác biệt giữa các vùng và sự nới lỏng
các quy định hạn chế di cư. Dân số di cư giữa các huyện tăng thêm hơn 50% và lên tới
1,7 triệu người vào năm 2009. Tỷ lệ dân số di cư giữa các huyện giảm từ 2% xuống 1,7
% trong giai đoạn 1989-1999,nhưng sau đó tăng lên 2,2% trong năm 2009.
Dân số di cư giữa các tỉnh có xu hướng ngày càng gia tăng rõ rệt. Số người di cư giữa
các tỉnh tăng từ 1,3 triệu người năm 1989 lên 2 triệu người năm 1999 và lên tới 3,4 triệu
5
người năm 2009. Tỉ lệ của nhóm di cư này trong tổng dân số cũng tăng tương ứng từ 2,5
% trong năm 1989 lên 2,9% năm 1999 và 4,3% năm 2009. Những kết quả này cho thấy tỉ
lệ tăng dân số di cư cao hơn tỷ lệ tăng dân số tự nhiên. Điều này được thể hiện qua hình
2.2.
Hình 2.2: Tỷ lệ dân số di cư qua thời gian, 1989 - 2009
Nguồn: Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 2009.
Xem xét di cư ở các cấp địa giới hành chính cho thấy ở cấp càng cao thì tỉ lệ tăng dân
số di cư cũng cao hơn. Các nhóm dân số di cư giữa các tỉnh tăng mạnh mẽ nhất, di cư
giữa các huyện tăng chậm hơn và tăng chậm nhất là nhóm di cư trong huyện. Có thể lí
giải cho sự khác biệt này là việc tăng thu nhập hộ gia đình, cải thiện giao thông vận tải,
tăng cơ hội học hành và thông tin phong phú hơn thông qua các phương tiện truyền thông
đại chúng rõ ràng đã đem lại nhiều cơ hội lựa chọn cho người dân để di chuyển và tạo
điều kiện để họ có thể di chuyển trong khoảng dài hơn và vượt ra ngoài ranh giới quen
như sự đa dạng văn hóa đã tạo ra những đặc trưng riêng của các vùng miền. Các chính
sách phát triển kinh tế - xã hội mới của đất nước như chính sách phát triển kinh tế theo
vùng trọng điểm và mức độ đâu tư kinh tế khác nhau giữa các vùng hay giữa các tỉnh
cũng góp phần không nhỏ trong việc tạo ra sự khác biệt này. Nhìn chung khu vực phía
Nam phát triển hơn về kinh tế và trở nên hấp dẩn hơn với người di cư. Nhiều thành phố
có nền kinh tế năng động như 5 thành phố trực thuộc trung ương củng thu hút nhiều
người nhập cư hơn.
Các kết quả phân tích số liệu TĐTDS cho thấy rõ sự khác biệt lớn giữa các vùng kinh
tế xã hội. Tỉ lệ người di cư trên tổng dân số thay đổi đáng kể theo vùng kinh tế-xã hội và
loại hình di cư. Số liệu TĐTDS năm 2009 cho thấy vùng Đông Nam Bộ có tỉ lệ người
nhập cư cao nhất, đặc biệt là nhóm người di cư giữa các tỉnh. Dân số di cư giữa các tỉnh
chiếm trên 14% tổng dân số của vùng Đông Nam Bộ năm 2009 trong khi tỉ lệ này chỉ
nằm ở mức đưới 5% ở tất cả các vùng khác. Kết quả này củng không nằm ngoài dự đoán
khi 4 trong số 6 tỉnh của vùng Đông Nam Bộ (bao gồm Bình Dương, Đông Nai, Bà Rịa-
Vũng Tàu và thành phố Hồ Chí Minh) có mức độ tập tung cao của các khu công nghiệp
và phát triển kinh tế noi chung với nhu cầu lớn về lao động mà lực lượng lao động địa
phương không đáp ứng được.
8
Nguồn: Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 2009.
Ngoài Đông Nam Bộ, Tây Nguyên và đồng bằng Sông Hồng là 2 vùng kinh tế xã hội
có tỉ lệ người di cư giữa các tỉnh tương đối lớn, lớn hơn so với các vùng khác. Mặc dù
năm 2009 không còn chương trình xây dựng vùng kinh tế mới tại Tây Nguyên, tiềm năng
phát triển kinh tế rất lớn của Tây nguyên cộng với đà phát triển của di cư theo các
chương trình phát triển kinh tế mới trước kia khiến khu vực này vẫn tiếp tục trở thành
điểm đến hấp dẫn đối với người di cư. Sức hấp dẫn của vùng đồng bằng sông Hồng đối
với người di cư củng không nằm ngoài dự đoán do đây là vùng kinh tế trọng điểm ở
Đông Bắc Bộ và là nơi tập trung các thành phố trọng điểm về phát triển kinh tế ở miền
Bắc như Hà Nội và Hải Phòng.
Kết quả điều tra dân số nhập cư, xuất cư và di cư thuần trong 5 năm trước thời điểm
tổng điều tra dân số năm 2009 (xem Hình 2.5) cho thấy đông Nam Bộ và Tây Nguyên là
nhưng khu vực thành thị của Đông Nam Bộ được “lợi” hơn rất nhiều so với khu vực
nông thôn. Tuy nhiên, khu vực thành thị của vùng Trung du và miền núi phía Bắc đã đổi
vai trò từ một vùng xuất cư thuần hay mất dân số do di cư trong giai đoạn 1994-1999
thành vùng nhập cư thuần hay được thêm dân số do di cư trong giai đoạn 2004-2009. Có
thể thấy di cư có tác động mạnh hơn đến đô thị hóa ở một số vùng của đất nước.
Quá trình phát triển kinh tế năng động đã khiến Đông Nam Bộ trở thành vùng có sức
hút đặc biệt với người di cư. Đông Nam Bộ nhận được 1,6 triệu người nhập cư từ các
vùng khác, cao hơn rất nhiều so với số người nhập cư từ các vùng khác đến đồng bằng
sông Hồng là vùng có lượng người nhập cư nhiều thứ hai với gần 290.000 người nhập cư
đến từ các vùng khác. Tây Nguyên là vùng có số lượng người đến nhiều thứ ba với
161.000 người nhập cư đến từ các vùng khác; Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung
nhận được 110.000 người; Trung du và miền núi phía Bắc nhận được 100.000 người; và
đồng bằng sông Cửu Long nhận được gần 70.000 người nhập cư từ các vùng khác. Dòng
11
di cư giữa các vùng lớn nhất là từ vùng đồng bằng sông Cửu Long đến vùng Đông Nam
Bộ với hơn 714.000 người. Dòng di cư lớn thứ hai là từ Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền
Trung tới vùng Đông Nam Bộ với hơn 570.000 người. Dòng di cư lớn thứ ba là từ vùng
đồng bằng sông Hồng tới vùng Đông Nam Bộ với hơn 195.000 người. Dòng di cư lớn
nhất đến vùng đồng bằng sông Hồng là từ vùng Trung du và miền núi phía Bắc với
155.000 người, tiếp đến là từ vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung với 98.000
người.
Nhìn chung, các kết quả phân tích cho thấy các vùng phía Nam nước ta tiếp tục thu
hút được nhiều người nhập cư hơn so với các vùng phía Bắc. Đông Nam Bộ là vùng có
sức hút lớn nhất đối với người di cư. Những vùng xuất cư chính là đồng bằng sông Cửu
Long, Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung. Trung du và miền núi phía Bắc cũng là
vùng xuất cư nhưng có số lượng người xuất cư rất nhỏ hơn nhiều so với hai vùng xuất cư
chính. Các vùng đồng bằng sông Hồng và Tây Nguyên vừa là những vùng nhập cư và
vừa là những vùng xuất cư quan trọng.
4. Lợi ích và Thách Thức.
4.1Lợi ích.
nghiệm người di cư học được không chỉ làm giầu vốn hiểu biết của bản thân mà những tri
thức mới, những kinh nghiệm đó đã được truyền tải về cho các thành viên khác trong gia
đình. Thông qua việc di chuyển đó người di cư được tiếp cận với môi trường mới và họ
học hỏi được nhiều kiến thức để mở rộng sản xuất, kinh doanh nhằm nâng cao thu nhập,
cải thiện điều kiện sinh hoạt. Điều này thúc đẩy tính năng động, sáng tạo của người nông
dân, xoá dần sức ỳ tâm lý của người dân ở nông thôn.
- Di dân nông thôn - đô thị còn có những tác động quan trọng góp phần thay đổi cuộc sống
gia đình ở nông thôn. Người nông dân vốn gắn bó với đồng ruộng, ít ra khỏi quê, họ thiếu
cơ hội tiếp cận với cuộc sống văn minh đô thị. Trong khi đó, những người di cư hàng
ngày tiếp xúc với cuộc sống mà ở đó có mức sống cao, điều kiện sinh hoạt vật chất và
tinh thần đầy đủ, trình độ dân trí cao, con người hiểu biết Do đó, lối sống đô thị ít nhiều
ảnh hưởng tới người di dân và chính họ sẽ là những người truyền tải những nét văn hoá:
trong giao tiếp, trong sinh hoạt hàng ngày của người đô thị về nông thôn. Xét ở một khía
cạnh nào đó, người di cư thông qua quá trình di chuyển đã và đang gián tiếp chuyển về
nông thôn lối sống đô thị có chiều hướng tích cực, làm thay đổi diện mạo cuộc sống ở các
vùng quê.
- Bổ sung nguồn lao động cho thành thị.
- Góp phần tạo nên sự đa dạng văn hóa trong dân cư thành thị.
- Góp phần tạo nên sự năng động cho nền kinh tế.
- Cải thiện cuộc sống cho một bộ phận dân cư nông thôn thông qua việc gửi tiền về quê
của người lao động.
Như vậy, di dân đóng vai trò không chỉ để tồn tại mà còn là để phát triển đối với các
gia đình ở nông thôn. Di dân không chỉ để giải quyết vấn đề kinh tế, không còn là vấn
đề “cơm, áo” phục vụ cho sinh hoạt hàng ngày. Mặt khác, trong quá trình phát triển kinh
tế - xã hội, cùng với quá trình đô thị hoá diễn ra hết sức mạnh mẽ, nhiều nhu cầu dịch vụ
mới xuất hiện, có những công việc mà người đô thị thực sự có nhu cầu sử dụng lao động,
những lực lượng lao động đô thị không đáp ứng được hoặc không muốn làm. Trong khi
đó, người lao động ngoại tỉnh, đặc biệt là số người di cư thời vụ sẵn sàng làm tất cả các
công việc nặng nhọc, độc hại…, với mục đích để có thu nhập. Nó phần nào giải quyết
được vấn đề “nhu cầu” lao động của các đô thị. Đồng thời, việc di chuyển tới đô thị làm
thành phố.
- Về môi trường, quá trình đô thị hóa diến ra nhanh và điều đó cũng tất yếu dẫn tới mâu
thuẫn giữa môi trường và sự gia tăng dân số. Những mâu thuẫn đó đã tác động không tốt
tới đời sống của người dân thành phố, ví dụ như: Chất thải sinh hoạt, Nước sinh hoạt,
không khí và tiếng ồn,…
- Tình trạng gây mất trật tự công cộng và gia tăng sức ép về quản lý cho các cấp chính
quyền. Các cuộc điều tra cho thấy, những người di chuyển về Hà Nội có những hạn chế
nhất định về chuyên môn, tay nghề nên phần đông trong số họ phải làm đủ các loại công
việc. Cuộc sống tạm bợ qua ngày của những người lang thang và di dân tự do hình thành
14
nên các tụ điểm chợ lao động như: cầu Mai Động, Ngã tư Sở, dốc Minh Khai… gây mất
trật tự công cộng và mỹ quan thành phố. Sau khi làm việc căng thẳng và mệt mỏi, người
lao động thường tập trung qua đêm ở các xóm lao động và nhà trọ bình dân rẻ tiền. Điều
kiện nghỉ ngơi và sinh sống trong các khu vực này không được đảm bảo. Do tính chất
công việc, hàng ngày họ phải tiếp xúc với nhiều tầng lớp trong xã hội, họ dễ dàng tiếp thu
cả cái tốt và cái xấu. Vì vậy, ở họ rất dễ mắc các tệ nạn xã hội gây ảnh hưởng cho vấn đề
an ninh trật tự và khó khăn cho các nhà quản lý.
- Sức khỏe của người dân đô thị ngày càng giảm do các tệ nạn xã hội gia tăng kéo theo các
bệnh dịch như HIV, giang mai và tình trạng ô nhiễm môi trường gây ảnh hưởng lớn tới
sức khỏe dân cư thành phố. Những bệnh truyền nhiễm phổ biến ở các nước đang phát
triển như sốt rét, sốt xuất huyết, tả, thương hàn hay các bệnh của những quốc gia công
nghiệp phát triển, như tim mạch, tăng huyết áp, ung thư, tâm thần, bệnh nghề nghiệp…,
gần đây bệnh chân tay miệng đã có tác động xấu đến đời sống của các em nhỏ vùng ven
đô, do sự suy thoái môi trường đô thị tác động xấu đến những người nghèo sống trong
các khu ổ chuột và xóm liều do mật độ dân số cao, thiếu các dịch vụ vệ sinh và sức khỏe
công cộng
- Bên cạnh hàng loạt các hậu quả về xã hội và “chất lượng cuộc sống” do thiếu cơ sở hạ
tầng tại các khu vực đô thị, là hậu quả về kinh tế. Các hậu quả này bao gồm giảm đầu tư
trực tiếp nước ngoài đồng thời giảm đầu tư trong nước và thậm chí tác động tới du lịch -
đây là vấn đề đã được ghi nhận là đã xảy ra do việc tắc đường triền miên của Băng Kốc.
kiếm việc làm. Vậy, giải pháp cho vấn đề nhằm tăng cường quản lý tình trạng di dân
ngoại tỉnh đến các thành phố được đặt ra như thế nào? Về quan điểm chúng ta phải thấy
rằng, di dân ngoại tỉnh vào thành phố lớn là một xu thế tất yếu. Hiện tượng di dân xuất
phát từ sự chênh lệch mức sống giữa nông thôn và thành thị. Ngoài những nguyên nhân
kinh tế, còn có những nguyên nhân kinh tế khác mà chúng ta đã thấy ở trên. Vì vậy, các
nhà nghiên cứu, các nhà quản lý cần phải nắm bắt tính quy luật nội tại của hiện tượng di
dân để vận dụng vào việc quy hoạch các chính sách, các biện pháp điều tiết nó vì mục
tiêu phát triển. Quan điểm ở đây là không để quá trình di cư (mà đặc biệt là di cư mạng
tính chất thời vụ) trở thành một quá trình tự phát, nhưng đồng thời cũng không nên duy ý
chí, quản lý quá trình này bằng mệnh lệnh hành chính một cách cứng nhắc. Chúng ta
không thể cưỡng chế nó bằng các biện pháp hành chính, nhưng cũng không khuyến khích
hiện tượng này hoặc từ chối nó một cách buông xuôi, tự phát. Vần đề quản lý và điều tiết
di hiện tượng di cư liên quan tới nhiều ngành, nhiều lĩnh vực và các cấp quản lý. Do đó
các giải pháp phải có tính đồng bộ cao. Các giải pháp quản lý và điều tiết tình trạng di cư
phải mang tính hiệu quả cao cả về mặt kinh tế và xã hội, cả về trước mắt cũng như lâu
dài. Ở đây, chúng ta có thể đề cập đến những nhóm giải pháp cơ bản sau:
- Thứ nhất, là nhóm giải pháp nhằm phát huy những ảnh hưởng tích cực của di dân. Vấn đề
này cần đặt ra một cách cơ bản và là trách nhiệm của các cấp chính quyền trung ương và
địa phương, bao gồm những vấn đề sau:
+ Cần phải có chiến lược quy hoạch mở rộng các thành phố lớn, phát triển các khu đô
thị vệ tinh, thông qua đó để giảm áp lực cho sự gia tăng dân số quá mức ở trong khu vực
nội thành, đồng thời tạo thế phát triển về kinh tế và xã hội cho thành phố đó trong tương
lai.
16
+ Chủ động thu hút và quản lý luồng di dân vào các ngành nghề phù hợp. Di dân
ngoại tỉnh vào các đô thị lớn là một xu hướng tất yếu trong quá trình phát triển của đất
nước. Do vậy cần có những biện pháp chủ động nhằm tổ chức thu hút lực lượng lao động
theo nhu cầu của thị trường thay vì hạn chế bằng các rào cản hành chính. Việc phát triển
các loại hình dịch vụ có tổ chức thông qua các trung tâm giới thiệu việc làm, các trung
tâm tư vấn, các lại hình doanh nghiệp…sẽ tạo điều kiện thu hút và quản lý có hiệu quả
thị ngày một tốt hơn.
+Thành lập các trung tâm hỗ trợ việc làm cho người di dân. Đây là một giải pháp
nhằm tạo điều kiện giúp người di dân tìm kiếm việc làm, đồng thời nhằm tăng cường
quản lý người dân di cư. Đây có thể là những tổ chức tư vấn việc làm nhằm hướng họ
vào những ngành nghề phù hợp với năng lực của họ. Đồng thời, từng bước hình thành
nên thị trường lao động có thể quản lý được giúp cho nhà quản lý thực hiện tốt chức năng
của mình.
IV. Kết Luận.
Di cư là một phần quan trọng không thể tách rời trong phát triển kinh tế xã hội Việt
Nam. Bằng việc đáp ứng hết nhu cầu lao động trong phát triển công nghiệp và đầu tư
nước ngoài khi thực hiện quá trình đổi mới và bằng việc gửi một phần tiền mình kiếm
được tới khu vực nghèo hơn của Việt Nam, di cư đóng một vai trò quan trọng trong nền
kinh tế Việt Nam và có thể góp phần vào việc xóa đói giảm nghèo góp phần vào xây
dựng và phát triển nông thôn hiện nay. Vì thế Đảng và Nhà nước ta cần có những sự quan
tâm hơn nữa đối với vấn đề này.
18