Nghiên cứu dòng di cư từ nông thôn ra thành thị trong bối cảnh toàn cầu hóa - Pdf 12

MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
TCTK Tổng cục Thống Kê
UNFA Quỹ dân số Liên hiệp quốc
TCH Toàn cầu hóa
FDI Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
CMTND Chứng minh thư nhân dân
NĐ-CP Nghị định – Chính PHủ
TT Thông tư
BCA Bộ Công An
ILO Tổ chức lao động quốc tế
CIEM Viện nghiên cứu Quản lý Kinh Tế Trung ương
WTO Tổ chức Thương mại Thế giới
UNDP
APEC
Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc
Diễn đàn kinh tế khu vực châu Á - Thái Bình Dương
1
ASEAN Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam á
DANH MỤC BẢNG, HÌNH VẼ
2
Bảng 2.1 Chỉ số toàn cầu hóa của Việt Nam năm 2007 so với các quốc gia khác
Hình 2.1 Mức độ mở cửa của nền kinh tế Việt Nam kể từ sau Đổi Mới
Hình 2.2 Lao động xuất khẩu qua các năm của Việt Nam, 1996-2006
Bảng 2.2 Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của một số thành phố lớn năm 2007
Bảng 2.3 Phần trăm lao động di cư làm việc trong các khu vực kinh tế
Bảng 2.4 Cơ cấu lao động theo trình độ chuyên môn ở các thành phần kinh tế
Bảng 2.5 Tỉ lệ lao động nhập cư phân theo lĩnh vực kinh tế tại thành phố Hồ Chí
Minh
Bảng 2.6 Diện tích đất thu hồi bình quân mỗi hộ theo loại đất
Hình 2.3 Nguyên nhân chính di cư nông thôn – thành thị

trường thế giới tác động tới các ngành công nghiệp mới và tạo việc làm cho hàng
triệu người, già và trẻ bước vào thị trường lao động mỗi năm. Với điều kiện khan
hiếm diện tích đất ở nông thôn, đặc biệt là đất nông nghiệp và sự tăng trưởng dân số
cao so với khu vực thành thị, vấn đề dư thừa lao động ngày càng nổi cộm lên ở
nông thôn và trở nên nghiêm trọng hơn trong suốt 20 năm qua. Thất nghiệp và bán
thất nghiệp đã và đang trở thành vấn đề lớn vì khả năng tạo ra việc làm cho lao
động ở nông thôn là rất yếu.
Tất cả các nhân tố này cùng với khoảng cách về thu nhập giữa thành thị và nông
thôn đã sinh ra các dòng di cư từ nông thôn ra thành thị. Cùng với quá trình công
nghiệp hoá và đô thị hoá vẫn đang tiếp diễn ở Việt Nam, khu vực thành thị sẽ tiếp
tục được mở rộng và vùng nông thôn ngày càng bị thu hẹp lại. Áp lực đối với khu
4
vực nông thôn sẽ gia tăng và vì vậy, không thể tránh khỏi thực tế về các dòng di cư
lao động lớn từ nông thôn ra thành thị trong thời gian tới.
Đề tài:
“Nghiên cứu dòng di cư từ nông thôn ra thành thị trong bối cảnh toàn cầu
hóa” là kết quả mà tôi thu được sau khi nghiên cứu lý luận, thực trạng dòng di cư
từ nông thôn ra thành thị trong bối cảnh toàn cầu hoá, qua thời gian thực tập tại
Viện Kinh tế Việt Nam.
Tôi xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn của thầy giáo TH.S Vũ Cương và các
cán bộ thuộc Viện Kinh tế Việt Nam đã giúp đỡ tôi hoàn thành bản chuyên đề thực
tập này và với hạn chế của đề tài nghiên cứu chuyên đề thực tập, mong thầy giáo
hướng dẫn sẽ giúp đỡ tôi sửa và hoàn thành tốt đề tài này.
Câu hỏi nghiên cứu:
1. Tình hình và đặc điểm của dòng di cư từ nông thôn ra thành thị trong bối cảnh
Việt Nam hội nhập sâu với thế giới.
2. Ảnh hưởng của dòng di cư này đến đời sống kinh tế - xã hội và một số kiến
nghị để giải quyết vấn đề tồn tại trong đó.
Phương pháp nghiên cứu:
- Cách thức giải quyết vấn đề: Phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích và

thành thị trong bối cảnh toàn cầu hoá của Việt Nam
1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DI CƯ LAO ĐỘNG
1.1.1. Quan niệm về di cư
1.1.1.1. Khái niệm về di cư
Di cư là một thuật ngữ mô tả quá trình di chuyển dân số hoặc là quá trình con
người rời bỏ hoặc hội nhập vào một đơn vị hành chính - địa lý nhất định.
Nói chung khái niệm di dân thường được các nhà nghiên cứu định nghĩa không
giống nhau. Theo tác giả Lee (1966) thì di cư là: “sự thay đổi cố định nơi cư trú”.
Còn theo Mangalam và Morgan (1968) cho rằng di cư là “sự di chuyển vĩnh viễn
tương đối của người di cư ra khỏi tập đoàn đang sống từ một đơn vị địa lý khác”.
Mặt khác, theo tác giả Paul Shaw thì “di cư là hiện tượng di chuyển khỏi tập thể
từ một địa điểm địa lý này đến một địa điểm địa lý khác, trên cơ sở quyết định của
người di cư, dựa vào một loạt các giá trị trong hệ thống các mối quan hệ qua lại của
người di cư”.
Những định nghĩa nêu trên chỉ đề cập tới “không gian di trú” và hầu như chưa
nói lên được thời gian quá trình di cư, theo định nghĩa của Liên Hợp Quốc; “di dân
hay di cư là sự dịch chuyển từ khu vực này sang khu vực khác, thường là qua một
địa giới hành chính (hoặc là sự dịch chuyển theo một khoảng cách xác định nào đó)
thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định kèm theo sự thay đổi nơi cư trú”.
Trong đó, di dân nội địa liên quan đến sự chuyển dịch nơi cư trú bên trong biên giới
của quốc gia.
Đối với Việt Nam, “di cư được định nghĩa là sự di chuyển của con người từ nơi
này đến nơi khác đó là chuyển đến một huyện khác, thành phố khác, một tỉnh khác
hay một nước khác trong một khoảng thời gian nhất định”. Trong phạm vi nghiên
cứu này khái niệm về di cư được hiểu theo cách hiểu của Haughton. Người di cư
được hiểu trong luận văn này là người di cư từ nông thôn ra thành thị với độ tuổi từ
15 đến 59 tuổi trong vòng 5 năm và đã cư trú tại nơi đến từ 1 tháng trở lên.
7
1.1.1.1. Các khái niệm liên quan đến di cư
a. Người di dân

Di cư diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau gồm: di cư trong nước và di cư
quốc tế. Trọng tâm nghiên cứu của đề tài là tập trung phân tích luồng di cư nông
thôn ra thành thị hay di cư trong nước. Do vậy, di cư được chia thành các loại hình
theo căn cứ sau:
a. Theo pháp lý
Bao gồm: di cư có tổ chức hay di cư tự do hợp pháp và di cư không hợp pháp.
- Di cư có tổ chức: diễn ra trong khuôn khổ chương trình của nhà nước, trong
trường hợp này những người di cư thường nhận một khoản trợ cấp hỗ trợ và thường
di chuyển nơi ở thường trú của gia đình.
- Di cư tự do hợp pháp: là việc chuyển đến nơi sinh sống mới do bản thân người
di cư tự quyết định bao gồm cả việc lựa chọn địa bàn nhập cư, tổ chức di chuyển,
cũng như trang trải mọi phí tổn và tìm việc làm…
- Di cư bất hợp pháp: là việc chuyển đến nơi ở mới giống như di cư tự do hợp
pháp, tuy nhiên người di cư lờ đi các quy định và cố gắng tránh liên lạc với các cấp
chính quyền.
b. Theo nơi đi và nơi đến
Dựa theo nơi đi và nơi đến có 4 loại hình: nông thôn – nông thôn, nông thôn –
thành thị, thành thị - thành thị và thành thị - nông thôn.
c. Theo thời gian
Theo thời gian, di cư có thể chia thành: di cư lâu dài, di cư tạm thời và di cư
theo mùa vụ.
- Di cư lâu dài: Là nhóm những người di cư đến một khoảng thời gian tương đối
dài và có ý định ở lại nơi đến.
- Di cư tạm thời: những người tới một địa bàn trong một thời gian nhất định (để
học tập, làm việc) trước khi có quyết định liệu có sống ở đó hay không.
9
- Di cư theo mùa vụ: Là trường hợp đặc biệt của di dân tạm thời. Thuật ngữ
“mùa vụ” không nhất thiết mang nghĩa mùa vụ thu hoạch, mặc dù nó có thê là như
vậy đối với người di dân. Thuật ngữ này còn hàm ý những hoạt động mùa khác như
mùa xây dựng hoặc mùa du lịch bao gồm cả loại hình đi làm ăn xa ở nông thôn. Có

rộng sản xuất. Hơn nữa, mức lương ở thành thị với giả thiết là không đổi cho đến
khi lao động ở nông thôn hết dư thừa (năng suất lao động cận biên khu vực nông
nghiệp không bằng không nữa, tuyến cung lao động hoàn toàn không co giãn) và
cao hơn ít nhất là 30% so với mức lương cố định trung bình được ấn định trước đủ
để duy trì cuộc sống ở khu vực truyền thống. Lúc này, đường cung lao động ở nông
thôn cho khu vực thành thị được coi là hoàn toàn co giãn.
Trong khu vực kinh tế truyền thống có 2 giả thiết cần lưu ý. Một là, có lao động
dư thừa; và thứ hai, mức lương thực tế của nông thôn được xác định bằng năng suất
trung bình (chứ không phải bằng năng suất cận biên của lao động, như trong khu
vực kinh tế hiện đại). Còn trong khu vực kinh tế hiện đại, thị trường lao động có
tính chất cạnh tranh hoàn hảo.
Do nguồn cung lao động ở nông thôn được coi là không có giới hạn nên khu vực
kinh tế hiện đại có thể thuê bao nhiêu lao động ở nông thôn cũng được mà không sợ
phải nâng cao thêm mức lương. Các chủ doanh nghiệp trong khu vực kinh tế hiện
đại, do muốn tối đa hoá lợi nhuận, có thể thuê bao nhiêu lao động tới mức lương mà
sản lượng đầu ra cận biên của họ tương đương với mức lương chi trả thực tế. Do
đó, quá trình tìm kiếm lợi nhuận, tích luỹ và tái đầu tư của khu vực công nghiệp tiếp
tục diễn ra và kết quả làm cho nền kinh tế ngày càng tăng trưởng nhanh.
Quá trình hoạt động trên diễn ra liên tục cho đến khi tất cả lao động dư thừa ở
nông thôn được thu hút vào ngành công nghiệp mới. Đến lúc này, những lao động
bổ sung chỉ có thể rút ra khỏi khu vực nông nghiệp với chi phí cao hơn, năng suất
lao động cận biên của lao động nông thôn không bằng không nữa. Như vậy, đường
cung lao động lúc này có độ dốc dương khi mức tiền lương và số việc làm của khu
vực hiện đại tiếp tục tăng trưởng. Quá trình chuyển đổi cơ cấu của nền kinh tế sẽ
11
diễn ra với sự cân bằng các hoạt động kinh tế, chuyển từ kinh tế nông nghiệp sang
nền kinh tế hiện đại.
Mô hình hai khu vực của Lewis đơn giản, hầu như phù hợp với các nước
phương Tây và với những giả định không gắn với thực tế phát triển kinh tế của hầu
hết các nước đang phát triển hiện nay.

mặc dù có tình trạng thất nghiệp ở thành thị. Trên giả thiết mô hình Torado cho rằng
việc di cư diễn ra là do có sự khác biệt giữa thành thị và nông thôn về thu nhập dự
kiến chứ không phải về thu nhập thực tế. Người di cư có thể xem xét các cơ hội
khác nhau để lựa chọn nhằm tối đa hóa lợi ích dự kiến của họ. Lợi ích này được
tính toán bằng hiệu số giữa thu nhập thực tế ở thành thị và nông thôn, có tính đến
khả năng (xác suất) kiếm được việc làm ở khu vực thành thị (Torado – năm 1970).
Nếu như hầu hết người di cư là trẻ tuổi (dưới 25 tuổi) nên có thể giả thiết
khoảng thời gian để quyết định di cư dù lâu hơn vẫn thực tế. Người di cư có thể
xem xét thu nhập trong suốt cuộc đời họ hay quyết định di cư của họ sẽ dựa trên
tính toán tổng thu nhập của một thời kỳ dài hạn hơn. Nếu người này thấy rằng lúc
đầu anh ta có xác suất để có việc thấp nhưng qua thời gian các quan hệ được mở
rộng dần, khả năng tìm được việc làm mới với tiền lương đều đặn sẽ tăng lên, thì di
cư vẫn là hợp lý, thậm chí ngay cả trong trường hợp thu nhập dự kiến ở thành thị
trong thời gian đầu có thể thấp hơn thu nhập ở khu vực nông thôn. Khi mà giá trị
hiện tại của luồng thu nhập ròng dự kiến ở thành thị, tính trong “kỳ kế hoạch” của
người di cư vượt trội hơn giá trị tương ứng của thu nhập dự kiến ở nông thôn thì
quyết định di cư vẫn là lựa chọn xác đáng.
Tuy nhiên, theo nghiên cứu của ILO chỉ ra rằng sự di cư theo mô hình Torado
không nối được khoảng cách lương dự kiến giữa thành thị và nông thôn. Có thể lý
giải khoảng cách đó bằng cách bổ sung thêm một khu vực nữa vào khu vực nông
thôn và khu vực thành thị chính quy của Harris – Torado. Những người di cư có thể
không làm việc ở những khu vực chính quy mà làm những công việc không chính
quy như: các nhà buôn nhỏ, cửa hàng nước trà, người bán hàng rong, bán trên hè
13
phố, người quét rác, người sửa chữa, người làm hàng mây tre, và những người tự
hành nghề tạo ra việc làm và thu nhập cho bản thân họ trong hoạt động với rất ít
vốn, kỹ năng và hàng rào cạnh tranh. Những nhà buôn và chủ doanh nghiệp nhỏ này
có chi phí bắt đầu và chênh lệch lợi nhuận thấp, thoả thuận ngoài hệ thống luật pháp
chính thức và thuê nhân công ở mức thấp hơn mức lương quy định tối thiểu. Cung
cấp lao động cho khu vực không chính quy chịu tác động chủ yếu của tăng lương và

- Đối với khu vực nội thành phố, nội thị xã, thị trấn tỷ lệ lao động phi nông
nghiệp tối thiểu phải đạt 65% tổng số lao động; cơ sở hạ tầng phục vụ các hoạt
động của dân cư tối thiểu phải đạt 70% mức tiêu chuẩn, quy chuẩn thiết kế quy
hoạch xây dựng quy định cho từng loại đô thị, quy mô dân số ít nhất là 4000 người
và mật độ dân số tối thiểu phải đạt 2000 người/km².
1.2.1.2. Những nhân tố quyết định đến di cư từ nông thôn ra thành thị
Di cư vừa là nguyên nhân và là hệ quả của quá trình phát triển. Di cư đã và đang
trở thành sự lựa chọn của người dân nhằm cải thiện kế sinh nhai và tạo cơ hội làm
ăn cho mình. Di dân đã trở thành một cấu thành không thể thiếu được của quá trình
phát triển đặc trưng cho mối quan hệ qua lại giữa vùng miền và lãnh thổ.
a. Các nguyên nhân dẫn đến di cư nông thôn ra thành thị
Di cư nói chung và di cư nông thôn ra thành thị nói riêng là quá trình làm cân
bằng các nguồn lực kinh tế để tạo lập một bước tiến mới trong sự phát triển kinh tế.
Có nhiều nguyên nhân theo các nhà nghiên cứu dẫn đến di cư từ nông thôn ra thành
thị, quá trình di cư nông thôn ra thành thị ở Việt Nam có thể chia làm các nguyên
nhân sau đây:
Một là, nguyên nhân về áp lực dân số và việc làm: Những năm gần đây, dân số
Việt Nam tăng trưởng trong sự kiểm soát khá chặt chẽ với tốc độ tăng dân số
khoảng 1.5% / năm. Nhưng những thập kỉ trước đó, Việt Nam có tốc độ tăng trưởng
dân số rất cao đặc biệt trong những năm 1970 đến đầu những năm 1990 là năm mà
dân số bùng nổ với tốc độ tăng trưởng 2% / năm. Tốc độ tăng trưởng dân số cao
như vậy đặt áp lực rất lớn lên nền kinh tế về việc tạo ra đủ công ăn việc làm và áp
15
lực này càng tăng lên khi những năm gần đây phần trăm những người đến tuổi lao
động tìm việc tăng lên. Điều này có nghĩa là số người tham gia vào lực lượng lao
động hàng năm có xu huớng ngày càng lớn.
Sự bùng nổ dân số làm mất cân bằng các nguồn lực kinh tế. Trong vòng một thế
kỉ, nền kinh tế đặc biệt là kinh tế nông thôn khá ổn định trong sự cân bằng giữa
nguồn lực con người và đất đai, nhưng sự bùng nổ dân số đã làm cho nguồn lực đất
đai càng trở nên khan hiếm cùng với trình độ công nghệ không được cải thiện thích

tăng và tỉ lệ ngành nông nghiệp có xu hướng giảm. Quá trình công nghiệp hóa chủ
yếu diễn ra ở các khu vực thành thị do có lợi thế so sánh nhưng sau đó sự khan
hiếm về đất đai và cơ sở hạ tầng đã hình thành nên các khu công nghiệp gần các
thành phố lớn – các khu công nghiệp này thu hút một lượng khổng lồ vốn đầu tư
nước ngoài cũng như một lượng lớn công nhân và công nhân không trực tiếp (làm
việc trong các khu vực mà sản xuất có liên quan đến khu công nghiệp). Sự phát
triển của công nghiệp hóa và các thành phố lớn thúc đẩy quá trình đô thị hoá ở Việt
Nam, đô thị hóa là kết quả của quá trình phát triển kinh tế và quá trình này phát
triển rất nhanh trong thời kì công nghiệp hóa. Tốc độ tăng dân số ở đô thị lớn hơn
so với tốc độ tăng dân số của cả nước và điều này có nghĩa rằng quá trình di cư
nông thôn ra thành thị đã tạo nên một sự thay đổi không thể phủ nhận trong cấu trúc
dân số của Việt Nam.
Bước chuyển mình theo hướng kinh tế thị trường đã thay đổi bộ mặt của nền
kinh tế, cải thiện mức sống của người dân nói chung và những người nghèo nói
riêng. Nhưng việc giảm nghèo không có nghĩa là giảm khoảng cách chênh lệch giữa
người giàu và người nghèo. Sự bất bình đẳng không chỉ là hiện tượng giữa người
giàu và người nghèo mà còn thấy được giữa nông thôn và thành thị. Sự phát triển
mất cân đối giữa các vùng lãnh thổ trong nền kinh tế thị trường và sự khơi rộng
khoảng cách chênh lệch giữa các vùng miền cũng như giữa các tỉnh thành trong
tăng trưởng kinh tế thời mở cửa chính là sự khác biệt căn bản được xem là nguyên
nhân chính đối với di cư nông thôn ra thành thị.
b. Quy luật của quá trình di cư từ nông thôn ra thành thị
17
Di cư từ nông thôn ra thành thị nói riêng và di cư nói chung là một hiện tượng tự
nhiên của quá trình phát triển kinh tế bởi nó xảy ra để thích nghi những cơ hội về
kinh tế cũng như phi kinh tế. Việc phân bố lại dân cư sẽ tiếp diễn cho đến khi
những cơ hội này đồng đều giữa các vùng, miền. Trong quá trình này, di cư từ nông
thôn ra thành thị là phổ biến nhất đặc biệt khi các nước bước vào quá trình công
nghiệp hóa - hiện đại hóa đi kèm với nó là quá trình đô thị hóa không thể tránh
khỏi, với đại bộ phận dân số sống ở nông thôn và kế sinh nhai của họ là làm nghề

trong lúc nông nhàn, mùa vụ xây dựng hay du lịch…để có thêm thu nhập.
c. Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định di cư
Đối với quá trình di cư trên thế giới nói chung đều phải tính toán đến một số
nhân tố có ý nghĩa quan trọng, kể đến như là: khoảng cách di chuyển, cơ hội tìm
kiếm việc làm tốt hơn ở nơi đến, khả năng thu nhập, các thông tin cần thiết về nơi
đến…Nhìn chung, các nghiên cứu về di cư đều đi đến thống nhất là quyết định di
cư phụ thuộc vào một số nhân tố ảnh hưởng xét về phía cá nhân của người di cư
như:
* Nạn thất nghiệp cũng như không hài lòng về công việc đóng vai trò là nhân tố
“đẩy” đối với sự di cư. Những người mới di cư đến một vùng và sau đó không tìm
được việc làm ở nơi đó thì họ có thể lại di chuyển tiếp sang vùng khác hoặc những
người bị thất nghiệp thường trở thành những người di cư.
* Những người thất nghiệp, những người đang tìm kiếm việc làm thường dễ
phản ứng với các vấn đề kinh tế có liên quan như khả năng thu nhập, mức lương, và
nói chung họ thường muốn khả năng kiếm sống tăng cao hơn nữa. Điều này trái
ngược với những người đang thoả mãn với công việc của mình đang có.
* Những gia đình đã nhiều lần di cư thường có khuynh hướng di chuyển nhiều
hơn so với các gia đình chỉ di cư một lần hoặc chưa có lần nào di cư trong thời gian
gần đây. Có thể xem họ là những người di cư mãn tính hay kinh niên.
Trong những cuộc di cư của các hộ gia đình thì vai trò của người vợ có ý nghĩa
quan trọng trong việc quyết định di cư, họ không phải là những người thụ động.
19
* Tuổi tác và học vấn không giữ vai trò quyết định trong việc ảnh hưởng đến
quyết định di cư của các cặp vợ chồng.
Ngoài ra, nhân tố quan trọng hay cũng coi là nguyên nhân quan trọng tác động
tới vịêc ra quyết định của người di cư như: điều kiện việc làm, thu nhập, các điều
kiện về kinh tế xã hội, văn hóa giáo dục ở khu vực thành thị luôn tốt hơn so với ở
nông thôn. Hơn nữa, sự thay đổi nhận thức trong chính sách của chính phủ với
người di cư từ việc hạn chế, nới lỏng cho đến công nhận và tạo điều kiện hỗ trợ
nhiều hơn cho cuộc sống người di cư là những nhân tố kéo người di cư ra khỏi làng

nông thôn; có ảnh hưởng tích cực với kinh tế địa phương tại những nơi đến vì các
khoản chi tiêu của người di cư; gửi tiền về quê hương để đầu tư cho các hoạt động
tăng thu nhập, đầu tư kinh doanh, trả nợ, chi trả tiền chữa bệnh, tiền tiêu dùng của
gia đình, tiếp cận các kĩ năng làm việc và hiểu biết thông tin về thị trường, nắm bắt
kĩ năng kỹ thuật về áp dụng tại quê hương.
Bốn là, dòng di cư này cũng giúp giảm gánh nặng ngân sách nhà nước dành cho
các dịch vụ tại những nơi họ rời đi, trong khi đến nơi sinh sống họ lại không được
chính quyền hỗ trợ và đồng thời giúp chính quyền nơi đến giảm bớt các chi phí
quản lý các dịch vụ ở thành thị thông qua việc thu nhặt, vận chuyển phế liệu và như
vậy những người di cư tham gia vào dây chuyền sản xuất tái chế.
* Tác động tiêu cực của dòng di cư nông thôn – thành thị đến kinh tế - xã hội
- Lao động di cư - đối tượng ít được bảo vệ nhất trong thị trường làm việc mới
gia nhập. Họ thường không có bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm nghề
nghiệp hay tai nạn lao động do bản chất công việc của họ là tạm thời và không được
đăng kí hộ khẩu thường trú, người lao động di cư không thể tự bảo vệ mình khỏi
những rủi ro về sức khoẻ, họ không tự tổ chức được những cuộc thương lượng tập
thể để đòi hỏi một đồng lương xứng đáng và yêu cầu được bồi thường trong trường
hợp bị thương tật hoặc đau ốm.
- Những người di cư cũng gặp khó khăn trong việc tiếp cận các dịch vụ y tế và
xã hội. Họ không phải là đối tượng được quan tâm nhiều đến việc nâng cao khả
21
năng tiếp cận các dịch vụ y tế, nhà ở, xã hội cho người nhập cư, họ có lương thấp
nhưng nhu cầu tiết kiệm lại cao do vậy lao động di cư thường sống chui rúc trong
các khu nhà trọ đông đúc, thiếu thốn các tiện nghi cơ bản và an toàn. Bên cạnh đó,
tình trạng dễ tổn thương đói với nhóm phụ nữ di cư thường do bị xâm hại tình dục
và bạo lực, thậm chí gây nên các rủi ro lây nhiễm các bệnh lây truyền qua đường
tình dục và HIV/AIDS. Những vấn đề này ảnh hưởng rõ nét đến an ninh xã hội
cũng như vấn đề về môi trường ở các đô thị đông đúc người di cư.
- Cơ sở hạ tầng ở thành thi được cung cấp tốt hơn so với các vùng nông thôn
nhưng chỉ đảm bảo cho một khối lượng người cụ thể mà thôi. Khi có dòng di cư

rộng khoảng cách giữa giàu và nghèo, tăng cường việc làm ở khu vực nông thôn và
tạo ra công nghệ lao động.
Ba là, Nhà nước cần có các chính sách để hạn chế tổn thất cho người di cư khi
họ đến nơi ở mới, tạo điều kiện ổn định cho người di cư và nâng cao khả năng tiếp
cận các dịch vụ xã hội cơ bản.
1.2.2. Bối cảnh toàn cầu hoá `và tác động của toàn cầu hóa đến dòng di
cư nông thôn ra thành thị.
1.2.2.1. Khái niệm toàn cầu hóa
Theo từ điển Bách khoa: Toàn cầu hóa là khái niệm dùng để miêu tả các thay
đổi trong xã hội và trong nền kinh tế thế giới, tạo ra bởi mối liên kết và trao đổi
ngày càng tăng giữa các quốc gia, các tổ chức hay các cá nhân ở góc độ văn hoá,
kinh tế, v.v. trên quy mô toàn cầu. Đặc biệt trong phạm vi kinh tế, toàn cầu hoá hầu
như được dùng để chỉ các tác động của thương mại nói chung và tự do hóa thương
mại hay "tự do thương mạị" nói riêng. Cũng ở góc độ kinh tế, người ta chỉ thấy các
dòng chảy tư bản ở quy mô toàn cầu kéo theo các dòng chảy thương mại, kỹ thuật,
công nghệ, thông tin, văn hoá.
Theo quan niệm của Ủy ban Châu Âu cho rằng: “Toàn cầu hoá có thể định nghĩa
như là một quá trình mà thông qua đó thị trường và sản xuất ở nhiều nước khác
nhau đang trở nên ngày càng phụ thuộc lẫn nhau do có sự năng động của việc buôn
23
bán hàng hóa và dịch vụ cũng như có sự lưu thông tư bản và công nghệ. Đây không
phải là hiện tượng mới mà là sự tiếp tục của một tiến trình đã được khơi mào từ khá
lâu”. Theo quan niệm trên thì thực chất toàn cầu hóa là toàn cầu hóa kinh tế.
Theo IMF, “Toàn cầu hoá là sự gia tăng của quy mô và hình thức giao dịch hàng
hóa, dịch vụ xuyên qua sự lưu thông vốn quốc tế với việc truyền bá rộng rãi nhanh
chóng của kĩ thuật làm tăng mức độ phụ thuộc lẫn nhau của nền kinh tế các nước
trên thế giới.”
Theo nghị quyết Đại Hội Đảng toàn quốc IX thì: “Toàn cầu hoá là sự tự do hóa
thương mại, thị trường. Toàn cầu hóa đó là tiến trình toàn cầu hóa về kinh tế, chính
trị, văn hóa – xã hội được đẩy mạnh bởi công nghệ tin học và viễn thông”.

thông. Mặt khác, tự do hoá thương mại còn là một thách thức lớn đối với các nước
đang phát triển, do hàng hóa có hàm lượng tri thức cao của các nước này chiếm tỉ lệ
thấp, trình độ sản xuất hạn chế, hàng hóa không có khả năng cạnh tranh được với
hàng hóa của các nước phát triển nên tình trạng biến động trong sản xuất kinh
doanh, việc làm, lao động dư dôi…có thể xảy ra trong quá trình mở cửa thương
mại.
- Kênh tự do hoá vốn đầu tư: Di chuyển vốn thường kèm theo di chuyển công
nghệ, kiến thức kinh doanh, quản lý. Do vậy, kích thích phát triển giáo dục đào tạo
lao động lành nghề và lao động có trình độ cao để đáp ứng sự phát triển của các
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Trên cả ba lĩnh vực, tay nghề, năng lực
quản lý và tác phong làm việc, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thường
có những tác động tích cực, làm tăng chất lượng lao động, đẩy nhanh quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động. Năng suất lao động của các nước
đang phát triển bị ảnh hưởng lớn bởi các công ty có vốn đầu tư nước ngoài thể hiện
là năng suất lao động có xu hướng tăng lên đi kèm với quá trình chuyển giao công
nghệ, kiến thức kinh doanh, điều này làm cho cơ cấu lao động cũng dịch chuyển
theo, lao động sẽ đi tới đâu mà có năng suất cao hơn tương ứng với mức lương cao
hơn hay từ khu vực thành thị ra khu vực nông thôn. Một thực tế là dòng vốn đầu tư
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status