Hội nhập kinh tế quốc tế và vấn đề nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam
LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay, toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế đã trở thành xu thế
khách quan chi phối sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia và quan hệ
quốc tế, bắt nguồn từ quy luật phát triển của lực lượng sản xuất và phân công
lao động quốc tế. Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật đó.
Trong bối cảnh hiện nay, hội nhập kinh tế quốc tế không chỉ đơn thuần giới
hạn trong phạm vi cắt giảm thuế quan mà đã được mở rộng ra tất cả lĩnh vực
liên quan đến chính sách kinh tế thương mại, nhằm mục đích mở cửa thị
trường cho hàng hoá và dịch vụ, loại bỏ các rào cản hữu hình và vô hình đối
với trao đổi thương mại.
Đối với Việt Nam hiện nay, vấn đề đặt ra không phải là có hội nhập hay
không mà là làm thế nào để hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả, đảm bảo
được lợi ích dân tộc, nâng cao được sự cạnh tranh của nền kinh tế, thực hiện
thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội trong quá trình hội nhập. Báo
cáo Chính trị Đại hội IX của Đảng, nhất là Nghị quyết 07- NQ/W ngày
27/11/2001 của Bộ Chính trị về Hội nhập kinh tế quốc tế đã nhấn mạnh quan
điểm: Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy
tối đa nội lực, đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài để phát triển nhanh, có
hiệu quả và bền vững, đảm bảo tính độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ
nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, giữ gìn an ninh quốc gia, phát huy bản sắc văn
hoá dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái.
Đây là một chủ trương lớn trong chính sách đối ngoại, hội nhập của Đảng
và nhà nước ta. Theo quan điểm này, hội nhập kinh tế quốc tế trong điều kiện
toàn cầu hoá kinh tế là một quá trình mà trọng tâm là chủ động mở cửa kinh
tế, tham gia phân công hợp tác quốc tế tạo điều kiện kết hợp có hiệu quả
Tiểu luận đường lối cách mạng của Đảng Cộng Sản Việt Nam Page 1
Hội nhập kinh tế quốc tế và vấn đề nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam
nguồn lực trong nước và nước ngoài, mở rộng không gian và môi trường để
phát triển và chiếm lĩnh vị trí phù hợp trong quan hệ kinh tế quốc tế. Hội nhập
giúp cho việc mở rộng cơ hội kinh doanh, thâm nhập thị trường thế giới, tìm
a.Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế : Những cơ hội. 6
b. Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế : Những thách thức 8
II. NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA NỀN KINH TẾ VIỆT NAM 10
1.Các quan điểm về hội nhập và nâng cao khả năng cạnh tranh 10
2.Một số nhiệm vụ cần thực hiện trong quá trình hội nhâp kinh tế quốc tế
17
3.Những giải pháp cơ bản để nâng cao khả năng cạnh tranh 21
a.Tăng cường đổi mới kinh tế trong nước và vai trò quản lý kinh tế của Nhà nước 21
b.Cải thiện chính sách đầu tư gắn với điều chỉnh cơ cấu kinh tế 23
c.Đẩy mạnh cải cách các doanh nghiệp nhà nước theo hướng nâng cao tính chủ động, hiệu
quả và khả năng cạnh tranh 25
KẾT LUẬN 29
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 30
Tiểu luận đường lối cách mạng của Đảng Cộng Sản Việt Nam Page 3
Hội nhập kinh tế quốc tế và vấn đề nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam
I. KHÁI QUÁT VỀ TOÀN CẦU HOÁ VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ
1. Nhận thức chung về toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế .
a. Toàn cầu hoá.
Ngày nay toàn cầu hoá hay thực chất là toàn cầu hóa kinh tế đang trở thành
một xu thế chủ yếu của quan hệ kinh tế hiện đại. Hiện nay tuy có rất nhiều
những quan niệm không giống nhau về toàn cầu hoá kinh tế nhưng có thể thấy
nét chung nhất là thừa nhận mối quan hệ qua lại của các hoạt động kinh tế
hiện nay đã bao trùm gần như tất cả các nước, mang tính toàn cầu. Có thể hiểu
toàn cầu hoá kinh tế là quá trình phát triển kinh tế của các nước trên thế giới
vượt qua khỏi biên giới quốc gia, hướng tới phạm vi toàn cầu trên cơ sở lực
lượng sản xuất cũng như trình độ khoa học kỹ thuật mạnh mẽ và sự phân
công hợp tác quốc tế ngày càng sâu rộng, tính chất xã hội hoá của sản xuất
ngày càng tăng.
Đi liền với toàn cầu hoá, xu thế khu vực hoá cũng sớm hình thành phù hợp với
trình độ lực lượng sản xuất và các quan hệ kinh tế giữa các quốc gia trong khu
cách và điều chỉnh cơ chế, chính sách, luật lệ, tập quán kinh doanh, cơ cấu
kinh tế trong nước để phù hợp với "luật chơi chung" của quốc tế.
Chính sách hội nhập phải dựa và gắn chặt với chiến lược phát triển của đất
nước, đồng thời cải cách kinh tế, hành chính phải gắn chặt với yêu cầu của
quá trình hội nhập. Cải cách bên trong quyết định tốc độ và hiệu quả hội nhập,
Tiểu luận đường lối cách mạng của Đảng Cộng Sản Việt Nam Page 5
Hội nhập kinh tế quốc tế và vấn đề nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam
đồng thời hội nhập sẽ hỗ trợ, thúc đẩy tiến trình cải cách trong nước, qua đó
nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế .
- Hội nhập không phải để được hưởng ưu đãi, nhân nhượng đặc biệt mà
nhằm mở rộng các cơ hội kinh doanh , thâm nhập thị trường, có môi trường
pháp lý và kinh doanh ổn định dựa trên quy chế, luật lệ của các thể chế hội
nhập, không bị phân biệt đối xử, không bị các động cơ chính trị hay những lý
do khác cản trở việc giao lưu hàng hoá, dịch vụ và đầu tư. Các nước có thể sử
dụng những luật lệ, quy định, cơ chế giải quyết tranh chấp của các thể chế hội
nhập để bảo vệ lợi ích chính đáng của mình.
- Tăng cường thông tin, tuyên truyền, giải thích để giới kinh doanh nhận
thức sâu sắc và ủng hộ hội nhập, chuẩn bị tốt mọi mặt để chủ động hội nhập
từng bước, tận dụng những lợi thế so sánh của mỗi nước để cạnh tranh chiếm
lĩnh thị trường.
Nhận thức đúng về hội nhập và toàn cầu hoá kinh tế đối với các nước có ý
nghĩa quan trọng trong việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách và
giải pháp để chủ động hội nhập và tham gia giải quyết các vấn đề mang tính
toàn cầu nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội.
2. Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế, cơ hội và thách thức đối với Việt
Nam.
a. Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế : Những cơ hội.
Toàn cầu hoá kinh tế thúc đẩy rất mạnh, nhanh sự phát triển và xã hội hoá
lực lượng sản xuất, đưa tốc độ tăng trưởng kinh tế cao. Toàn cầu hoá kinh tế
Tiểu luận đường lối cách mạng của Đảng Cộng Sản Việt Nam Page 7
Hội nhập kinh tế quốc tế và vấn đề nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam
- Tự do luân chuyển hàng hoá, dịch vụ và vốn với việc giảm hoặc xoá bỏ
hàng rào thuế quan, đơn giản hoá thủ tục, cắt giảm kiểm soát hành chính sẽ
góp phần giảm chi phí sản xuất, giảm thất nghiệp và tăng thêm lợi ích cho
người tiêu dùng.
- Tạo ra nhiều cơ hội đầu tư mới, tăng nhanh vòng quay vốn và tạo điều kiện
để đa dạng hoá các loại hình đầu tư, nâng cao hiệu quả, hạn chế rủi ro đầu tư.
- Thúc đẩy quá trình chuyển giao công nghệ, chuyển giao vốn, kỹ năng quản
lý, qua đó mở rộng địa bàn đầu tư cho các nước, đồng thời giúp các nước tiếp
nhận đầu tư có thêm nhiều cơ hội phát triển.
b. Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế : Những thách thức.
- Sự bất ổn định của thị trường tài chính quốc tế. Nguồn tài chính được phân
bố không đồng đều, tập trung vào một số trung tâm tài chính lớn là các nước
công nghiệp phát triển hàng đầu thế giới . Quá trình hội nhập và toàn cầu hoá
càng làm cho dòng vốn chảy mạnh hơn và tất yếu rủi ro sẽ lớn hơn.
- Khi tham gia vào các tổ chức kinh tế quốc tế, các nước nhất là các nước
đang phát triển phải giảm dần thuế quan và bỏ hàng rào phi thuế quan, nghĩa
là bỏ hàng rào mậu dịch, thì các hàng hoá dịch vụ nước ngoài sẽ ồ ạt đổ vào,
bóp
chết hoạt động sản xuất kinh doanh trong nước.
- Quá trình toàn cầu hoá phát triển đã làm tan vỡ các hàng rào bảo hộ của
các quốc gia. Do vậy các quốc gia không chỉ chịu tác động tích cực của quá
trình này mà còn phải chịu cả những chấn động của hệ thống kinh tế toàn cầu
trong các lĩnh vực tiền tệ, tài chính, nguyên nhiên liệu… Các nước càng yếu
kém, các chính sách kinh tế vĩ mô càng không đủ thông thoáng phù hợp với
các định chế quốc tế, hệ thống ngân hàng - tài chính càng lạc hậu… thì càng
chịu tác động nặng nề hơn.
Tiểu luận đường lối cách mạng của Đảng Cộng Sản Việt Nam Page 8
Hội nhập kinh tế quốc tế và vấn đề nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam
của nền kinh tế trên con đường hội nhập. Sau đây là sáu quan điểm hội nhập
kinh tế quốc tế xác định cho Việt Nam trong xu thế toàn cầu hoá.
Một là, chủ động vạch ra chiến lược phát triển tổng thể vượt đuổi phù
hợp với những mục tiêu cụ thể trong từng thời kì nhất định
Như chúng ta đã biết, các nền kinh tế công nghiệp mới (Nies) Đông á nhờ
xác định được chiến lược vượt đuổi đầy táo bạo mà họ đã đạt được những kết
quả vượt trội so với nhiều nước trong khu vực, vươn lên trở thành các “con
rồng” với những chỉ tiêu kinh tế tăng liên tục trong nhiều năm, tạo nên những
bước đi thần tốc trong qua trình hphát triển kinh tế đất nước. Trong từng giai
đoạn cụ thể Nies đã xác định đựơc chiến lược đi tắt, đón đầu phù hợp nên đã
có những thành công lớn trong phá triển nền kinh tế. Chẳng hạn, ở thời kì đầu
khi còn thiếu vốn, kỹ thuật kém họ đã tiến hành công nghiệp goá thay thế
nhập khẩu, phát triển một số ngành công nghiệp, giải quyếnt những vấn đề xã
hội bức xúc và ở chiến lược công nghiệp hóa hướng ra xuất khẩu, với mục
tiêu khai thác lợi thế bên trong là chủ yếu như lao động dồi dào, giá rẻ nên
họ chủ yếu tập trung vào công nghiệp nhẹ, dùng nhiều lao động đã đem lại
nguồn thu ngoại tệ đáng kể, tạo lực cho sự phát triển công nghiệp nặng. Để
theo kịp xu thế phát triển thì họ lại tiến hành công nghiệp hoá hướng tới công
nghệ cao và đã thu được những kết quả đáng khả quan. Nhìn chung, chỉ có
Tiểu luận đường lối cách mạng của Đảng Cộng Sản Việt Nam Page 10
Hội nhập kinh tế quốc tế và vấn đề nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam
những nước xác định được những chiến lước táo bạo, với những mục tiêu phát
triển đầy tham vọng mới có thể tạo ra được những bước phát triển thần kì, mà
không phải nước nào cũng làm được với những chiến lược thông thường cũng
mang lại thành công như vậy. Vì vậy trong xu thế toàn cầu hoá, khu vực hoá
diễn ra mạnh mẽ như hiện nay thì Việt Nam cần phải căn cứ vào điều kiện cụ
thể để xác định chiến lược phát triển có lựa chọn, có trọng điểm. Đối với Việt
Nam hiện nay thì chiến lược tự do hoá thương mại, tự do hoá thị trường là con
đường phù hợp hơn cả. Có như vậy, Việt Nam mới tiếp cận được những kỹ
thuật công nghệ hiện đại của các nước, mở rộng thị trường giao lưu, tạo ra cầu
ích phát triển đất nước, chứ không phải làm phá sản hàng loạt, lãng phí nguồn
lực, thôn tính lẫn nhau”. Từ quan điểm mang tính nguyên tắc của Đảng, thì
điều kiện cần và đủ để khuyến khích và thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh là phải
xây dựng hệ thống pháp luật nghiêm minh, luật lệ đưa ra phải có tính khả thi.
Cần có sự điều tiết của Nhà nước để tạo điều kiện, môi trường cho cạnh tranh
lành mạnh trong sản xuất kinh doanh. Cần có những quy định cụ thể về thủ
tục khiếu kiện và thẩm quyền xử lý của một tổ chức tài phán trong phạm vi cả
nước đối với những hành vi cạnh tranh không lành mạnh, nhằm giữ nghiêm kỷ
cương phép nước, có như vậy mới tạo sự dung hợp giữa cạnh tranh và công
bằng xã hội.
Ba là, sức cạnh tranh của nền kinh tế phải phát triển trên cơ sở phát huy
các lợi thế so sánh của đất nước như: con người, truyền thống văn hoá dân
tộc, sự ổn định chính trị- xã hội, vị trí địa lý chính trị và kinh tế, tài nguyên
thiên nhiên
Tiểu luận đường lối cách mạng của Đảng Cộng Sản Việt Nam Page 12
Hội nhập kinh tế quốc tế và vấn đề nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam
Việt Nam là nước được thiên nhiên ban tặng nhiều tài nguyên thiên nhiên rất
thuận lợi cho quá trình phát triển kinh tế, cộng với nguồn nhân lực dồi dào với
hơn 80 triệu dân và hơn 40 triệu lao động, cơ cấu dân số trẻ, cần cù lao động,
giá nhân công rẻ. Hơn nữa từ sau đổi mới thì tình hình đất nước có sự ổn định
về chính trị và kinh tế tạo điều kiện cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước
yên tâm bỏ vốn kinh doanh, mở rộng thị trường và mối quan hệ với các nước
trên thế giới. Chính nhờ những lợi thế này mà sức mạnh cạnh tranh của nền
kinh tế được nâng cao, những sản phẩm hàng hóa và dịch vụ Việt Nam đã có
mặt trên thị trường khu vực và quốc tế, đã có sức cạnh tranh về giá cả. Vì vậy,
cần nhận thức rõ vị trí quan trọng của những lợi thế mà mình đang óc để có
những giải pháp hữu hiệu giữ gìn và khai thác có hiệu quả. Đồng thời, cần
nhận thức được thực chất của những lợi thế so sánh đó là phần lớn do thiên
nhiên ban tặng nên nó không có độ bền vững lâu dài nếu chúng ta không có
chiến lược phát triển quy hoạch, phát triển có kế hoạch.Chính vì vậy, trên cơ
giới. Nó không phải là sản phẩm của một phương thức sản xuất mà sẽ tồn tại
trong nhiều phương thức sản xuất. Và kinh tế thị trường là sản phẩm của sự
tác động biện chứng giữa quy luật quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất.
Chính vì vậy, kinh tế thị trường và định hướng XHCN không thể đối lập nhau
trong sự phát triển. Nhận thức được những mặt tích cực của kinh tế thị trường,
để từ đó kế thừa chọn lọc, tiếp thu những nhân tố kích thích sự phát triển, đặc
biệt là sự vận dụng mặt tích cực của các quy luật: giá trị, cung cầu, cạnh
tranh làm lợi cho nền kinh tế. Đồng thời, giữa KTTT và định hướng XHCN
có những mặt đối lập, xuất phát từ bản chất của chúng, đó là về xu hướng vận
Tiểu luận đường lối cách mạng của Đảng Cộng Sản Việt Nam Page 14
Hội nhập kinh tế quốc tế và vấn đề nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam
động và mục tiêu phát triển của chúng. Cần nhận thức rõ mặt tiêu cực của
KTTT để có chiến lược đề phòng, hạn chế những tác động xấu cho nền kinh
tế.
Trong điều kiện Việt Nam để đảm bảo tính định hướng XHCN thì cần tăng
cường lực lượng kinh tế nhà nước; kinh tế nhà nước phải đủ sức mạnh, vươn
lên đóng vai trò chủ đạo, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã
chỉ rõ vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước: làm đòn bẩy đẩy nhanh tăng
trưởng kinh tế và giải quyết những vấn đề xã hội; mở đường, hướng dẫn, hỗ
trợ các thành phần kinh tế khác phát triển; làm lực lượng vật chất để nhà nước
thực hiện chức năng điều tiết và quản lý vĩ mô; tạo nền tảng cho chế độ xã hội
mới. Và tiến hành đổi mới, hoàn thiện các công cụ quản lý vĩ mô.
Năm là, nâng cao sức cạnh tranh phải quán triệt quan điểm đa phương
hoá, đa dạng hoá các quan hệ kinh tế đối ngoại.
Sau 15 năm đổi mới nền kinh tế nước ta đã đạt được những thành tựu nhất
định, nhưng vẫn còn những mặt yếu kém chưa đáp ứng tốt yêu cầu phát triển
như: khả năng về vốn có hạn, nhu cầu việc làm rất bức bách, đời sống nhân
dân còn nhiều khó khăn, tình hình kinh tế xã hội chưa thật ổn định vững chắc.
Do vậy, vấn đề đặt ra là cần phải tiếp tục kiên trì và mở rộng kinh tế đối ngoại
là nhu cầu bức bách đối với chúng ta. Đại hội IX cũng đã khẳng định: “Thực
quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại bổ sung lẫn nhau trong quá trình
phát triển của nền kinh tế quốc dân. Nhà nước cần có hệ thống pháp luật,
chính sách và cơ chế quản lý kinh tế, đảm bảo công bằng xã hội, hướng dần
khuyến khích các doanh nghiệp chú trọng đến hiệu quả kinh tế trong kinh
doanh, đây là điểm mấu chốt, quyết định sự thành bại của các doanh nghiệp;
Tiểu luận đường lối cách mạng của Đảng Cộng Sản Việt Nam Page 16
Hội nhập kinh tế quốc tế và vấn đề nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam
có như vậy mới nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam trên thị
trường quốc tế. Đổng thời, nhà nước phải hướng dẫn mọi hoạt động kinh tế
thực hiện dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh theo định
hướng XHCN.
2. Một số nhiệm vụ cần thực hiện trong quá trình hội nhâp kinh tế quốc tế
Hội nhập kinh tế quốc tế có thể mang lại nhiều lợi ích kinh tế. Việc nhập
khẩu các sản phẩm trung gian và thu hút đầu tư mà trong nước không thể cung
cấp với giá tương ứng, việc chuyển giao công nghệ và các ý tưởng từ những
nước phát triển hơn, và việc tiếp cận thị trường vốn và hàng hóa quốc tế có thể
giúp chúng ta giải quyết một số hạn chế cố hữu để tăng trưởng và phát triển
nhanh hơn. Nhưng đó là những lợi ích tiềm năng chỉ có thể phát huy đầy đủ
tác dụng khi trong nước chúng ta có nội lực vững mạnh với những chính sách
và thể chế bổ trợ. Kinh nghiệm của những nước đã đạt được tốc độ tăng
trưởng kinh tế cao từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến nay là phải kết hợp
tốt giữa việc mở cửa tự do hóa với việc duy trì mức tiết kiệm - đầu tư cao, ổn
định kinh tế vĩ mô, phát triển nguồn nhân lực và quản lý nhà nước tốt.
Nghị quyết 07 của Bộ Chính trị đã đề ra chín nhiệm vụ quan trọng cần
được thực hiện trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế:
1. Tiến hành rộng rãi công tác tư tưởng, tuyên truyền, giải thích trong các tổ
chức đảng, chính quyền, đoàn thể, trong các doanh nghiệp và các tầng lớp
nhân dân để đạt được nhận thức và hành động thống nhất và nhất quán về hội
nhập kinh tế quốc tế, coi đó là nhu cầu vừa bức xúc, vừa cơ bản và lâu dài của
nền kinh tế nước ta, nâng cao niềm tin vào khả năng và quyết tâm của nhân
Đi đôi với việc nâng cao khả năng cạnh tranh của các sản phẩm và dịch vụ
của các doanh nghiệp, cần ra sức cải thiện môi trường kinh doanh, khả năng
cạnh tranh quốc gia thông qua việc khẩn trương đổi mới và xây dựng đồng bộ
hệ thống pháp luật phù hợp với đường lối của Đảng, với thông lệ quốc tế, phát
triển mạnh kết cấu hạ tầng; đẩy mạnh công cuộc cải cách hành chính nhằm
xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch về phẩm chất, vững mạnh về chuyên
môn.
4. Tích cực tạo lập đồng bộ cơ chế quản lý nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa ; thúc đẩy sự hình thành, phát triển và từng bước hoàn
thiện các loại hình thị trường hàng hóa, dịch vụ, lao động, khoa học - công
nghệ, vốn, bất động sản ; tạo môi trường kinh doanh thông thoáng, bình đẳng
cho mọi thành phần kinh tế, tiếp tục đổi mới các công cụ quản lý kinh tế của
Nhà nước đối với nền kinh tế, đặc biệt chú trọng đổi mới và củng cố hệ thống
tài chính, ngân hàng.
5. Có kế hoạch cụ thể đẩy mạnh công tác đào tạo nguồn nhân lực , vững
vàng về chính trị, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có
đạo đức trong sáng, tinh thông nghiệp vụ và ngoại ngữ, có tác phong công
nghiệp và tinh thần kỷ luật cao. Trong phát triển nguồn nhân lực theo những
tiêu chuẩn chung nói trên, cần chú trọng đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý và
kinh doanh hiểu biết sâu về luật pháp quốc tế và nghiệp vụ chuyên môn, nắm
bắt nhanh những chuyển biến trên thương trường quốc tế để ứng xử kịp thời,
nắm được kỹ năng thương thuyết và có trình độ ngoại ngữ tốt. Bên cạnh đó,
cần hết sức coi trọng việc đào tạo đội ngũ công nhân có trình độ tay nghề cao.
Cùng với việc đào tạo nguồn nhân lực, cần có chính sách thu hút, bảo vệ và
sử dụng nhân tài; bố trí, sử dụng cán bộ đúng với ngành nghề được đào tạo và
với sở trường năng lực từng người.
Tiểu luận đường lối cách mạng của Đảng Cộng Sản Việt Nam Page 19
Hội nhập kinh tế quốc tế và vấn đề nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam
6. Kết hợp chặt chẽ hoạt động chính trị đối ngoại với kinh tế đối ngoại .
Cũng như trong lĩnh vực chính trị đối ngoại, trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại
Đổi mới bên trong và hội nhập là hai quá trình gắn bó chặt chẽ với nhau, hỗ
trợ và thúc đẩy lẫn nhau. Đổi mới bên trong tạo tiền đề và điều kiện thúc đẩy
hội nhập kinh tế quốc tế. Ngược lại, hội nhập một mặt đặt ra yêu cầu phải đẩy
mạnh đổi mới, cải cách bên trong, mặt khác cũng tạo điều kiện thuận lợi thúc
đẩy quá trình đổi mới đó. Để hội nhập đạt được kết quả tích cực, cần tiếp tục
đẩy mạnh quá trình đổi mới, cải cách thị trường theo những nội dung chủ yếu
sau:
Thứ nhất, thúc đẩy sự hình thành, phát triển và từng bước hoàn thiện các
loại thị trường, đặc biệt quan tâm đến các thị trường quan trọng nhưng hiện
chưa có hoặc còn sơ khai như thị trường lao động, thị trường chứng khoán, thị
trường bất động sản, thị trường khoa học - công nghệ. Phát triển thị trường
hàng hóa và dịch vụ đáp ứng nhu cầu đa dạng và nâng cao sức mua của thị
trường trong nước cả ở thành thị và nông thôn; mở rộng thêm thị trường mới ở
nước ngoài; xác định thời hạn bảo hộ hợp lý và có điều kiện với một số sản
phẩm quan trọng, tích cực chuẩn bị để hội nhập thị trường quốc tế; xóa bỏ độc
quyền kinh doanh của các doanh nghiệp lớn. Mở rộng thị trường lao động
trong nước và đẩy mạnh xuất khẩu lao động; hoàn thiện hệ thống pháp luật và
chính sách để tạo cơ hội bình đẳng về việc làm cho người lao động, tạo điều
kiện thuận lợi và khuyến khích người lao động tự tìm việc làm, nâng cao trình
độ, đào tạo lại và học nghề mới. Sớm tổ chức thị trường khoa học - công nghệ
và bảo hộ sở hữu trí tuệ; đẩy mạnh phát triển các dịch vụ về thông tin, chuyển
Tiểu luận đường lối cách mạng của Đảng Cộng Sản Việt Nam Page 21
Hội nhập kinh tế quốc tế và vấn đề nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam
giao công nghệ. Phát triển nhanh thị trường vốn, nhất là vốn dài hạn và trung
hạn; vận hành thị trường chứng khoán an toàn và hiệu quả; hình thành đồng
bộ thị trường tiền tệ; tăng khả năng chuyển đổi của đồng tiền Việt Nam. Tổ
chức, phát triển thị trường bất động sản; Nhà nước giao quyền sử dụng đất dài
hạn cho người sản xuất, kinh doanh và cho phép chuyển nhượng quyền sử
dụng đất trên thị trường theo quy định của pháp luật.
Thứ hai, hình thành đồng bộ cơ chế quản lý nền kinh tế thị trường theo
do hóa tỷ giá hối đoái; nâng cao năng lực giám sát của Ngân hàng Nhà nước.
b. Cải thiện chính sách đầu tư gắn với điều chỉnh cơ cấu kinh tế
Về lâu dài, đầu tư và tích tụ vốn có ý nghĩa quyết định đối với đối với sự
tăng trưởng và phát triển kinh tế. Đối với một nước có trình độ phát triển thấp,
đầu tư tư nhân còn yếu và cơ cấu sản xuất chưa phát triển đa dạng như Việt
Nam, theo kinh nghiệm quốc tế, mức đầu tư trong nước phải cao hơn mức tích
lũy nội bộ 25% GDP của ta hiện nay. Mở cửa hội nhập có tác động thúc đẩy
đầu tư, nhưng một mình nó không quyết định được mức đầu tư và tích tụ vốn.
Do đó, cần phải bổ trợ cho định hướng hội nhập bằng một chiến lược đầu tư
đồng bộ trong nước nhằm làm tăng hiệu suất đầu tư cho các doanh nghiệp,
khơi dậy và phát huy ý thức tự chủ kinh doanh của họ. Các chính sách khuyến
khích đầu tư cần ưu tiên cho việc xóa bỏ các biện pháp, chính sách có tác
động làm tăng giá các tư liệu sản xuất, trong đó có các biện pháp hạn chế
thương mại; tăng các biện pháp trợ cấp cho đầu tư sản xuất được áp dụng theo
nguyên tắc không phân biệt đối xử; đơn giản hóa chế độ khuyến khích đầu tư
theo hướng làm rõ các mục tiêu, công khai hóa và giảm bớt thủ tục hành
chính; chú ý hơn đến đầu tư sản xuất các ngành hàng phục vụ cho tiêu dùng
Tiểu luận đường lối cách mạng của Đảng Cộng Sản Việt Nam Page 23
Hội nhập kinh tế quốc tế và vấn đề nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam
trong nước và xuất khẩu; đa dạng hóa cơ cấu nền kinh tế; đầu tư nhà nước vào
cơ sở hạ tầng, thủy lợi, cảng và các ngành sản xuất tư liệu sản xuất có tác
dụng khuyến khích đầu tư tư nhân phát triển; kết hợp tốt giữa các biện pháp
tăng cường xuất khẩu với thay thế nhập khẩu ở một số lĩnh vực nhất định.
Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư cần phải dựa trên việc phát
huy các thế mạnh, các lợi thế so sánh quốc tế của đất nước, gắn với nhu cầu
thị trường trong nước và ngoài nước thì mới phát huy được hiệu quả và hỗ trợ
cho tiến trình hội nhập. Việc xây dựng chương trình chuyển dịch cơ cấu đòi
hỏi phải xác định được về cơ bản cơ cấu kinh tế của Việt Nam trong 10-20
năm tới (bao gồm cả cơ cấu ngành, hàng và cơ cấu vùng), xác định được
những ngành mũi nhọn, những ngành cần ưu tiên phát triển trong một thời
trọng đối với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế nói chung và việc nâng cao
khả năng cạnh tranh hội nhập của bản thân các doanh nghiệp nhà nước. Điều
này thể hiện ở các mặt sau: 1/ Chúng ta không thể hội nhập thực sự nếu cứ
duy trì mãi cơ chế quản lý hành chính, bao cấp đối với các hoạt động của các
doanh nghiệp nhà nước, vì như vậy là vi phạm "luật chơi chung" quy định là
không phân biệt đối xử, nhất là đối với những doanh nghiệp làm ăn thua lỗ
triền miên, đối xử công bằng và bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, và các
doanh nghiệp nhà nước phải hoạt động theo nguyên tắc hạch toán kinh doanh;
2/ Doanh nghiệp nhà nước cũng không thể hội nhập được nếu không được tự
chủ hạch toán kinh doanh và kinh doanh không có hiệu quả, bởi vì hiện nay
trong số 5.429 doanh nghiệp nhà nước, tuy 71,1% báo cáo có lãi nhưng chỉ có
Tiểu luận đường lối cách mạng của Đảng Cộng Sản Việt Nam Page 25