Quan điểm của triết học Max về con người vàvai trò của con người trong sự phát triển của xã hội - Pdf 25

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
LỚP : HÓA HỮU CƠ – NIÊN KHÓA 2009-2011
MÔN: TRIẾT HỌC
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: PGS.TS. NGUYỄN TẤN HÙNG
HỌ VÀ TÊN NGƯỜI THỰC HIỆN: PHAN THỊ QUÍ THUẬN
BÀI TIỂU LUẬN
TÊN ĐỀ TÀI: Quan điểm của triết học Max về con người và
vai trò của con người trong sự phát triển của xã hội.
Có thể khái quát rằng, các quan niệm về con người trong triết học
trước Mác, dù là đứng trên nền tảng thế giới quan duy tâm, nhị nguyên luận
hoặc duy vật siêu hình, đều không phản ánh đúng bản chất con người. Nhìn
chung, các quan niệm trên đều xem xét con người một cách trừu tượng, tuyệt
đối hoá mặt tinh thần hoặc thể xác con người, tuyệt đối hoá mặt tự nhiên -
sinh học mà không thấy mặt xã hội trong đời sống con người. Tuy vậy, một
số trường phái triết học vẫn đạt được một số thành tựu trong việc phân tích,
quan sát con người, đề cao lý tính, xác lập các giá trị về nhân bản học để
hướng con người tới tự do. Đó là những tiền đề có ý nghĩa cho việc hình
thành tư tưởng về con người của triết học mácxít
1- Quan điểm của Mác về con người:
a-Đầu tiên ,chúng ta nghiên cứu
Quan điểm triết học Mác-Lênin
Quan điểm triết học Mác-Lênin
về bản chất của con người
về bản chất của con người :
Trước hết, con người là một thực thể sinh vật-xã hội, trong đó mặt xã
hội giữ vai trò quyết định
Tiền đề vật chất đầu tiên quy sự tồn tại của con người là sản phẩm
của thế giới tự nhiên.
Con người tự nhiên là con người mang tất cả bản tính sinh học, tính
loài. Yếu tố sinh học trong con người là điều kiện đầu tiên quy định sự tồn
tại của con người .Vì vậy, giới tự nhiên là "thân thể vô cơ của con người".

thức, có mục đích và quan hệ giữa người với tự nhiên không phải là chỉ khai
thác tự nhiên, mà còn tái tạo lại tự nhiên. Trên cơ sở hoạt động sản xuất vật
chất, con người còn có những hoạt động xã hội đa dạng khác. Thông qua
hoạt động sản xuất vật chất, con người đã làm thay đổi, cải biến toàn bộ giới
tự nhiên : "Con vật chỉ tái sản xuất ra bản thân nó, còn con người thì tái sản
suất ra toàn bộ giới tự nhiên".
C.Mác và Ph.Ăngghen đã nêu lên vai trò lao động sản xuất của con
người: "Có thể phân biệt con người với súc vật bằng ý thức, bằng tôn giáo,
nói chung bằng bất cứ cái gì cũng được. Bản thân con người bắt đầu bằng sự
tự phân biệt với súc vật ngay khi con người bắt đầu sản xuất ra những tư liệu
sinh hoạt của mình - đó là một bước tiến do tổ chức cơ thể của con người
quy định. Sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình, như thế con người
đã gián tiếp sản xuất ra chính đời sống vật chất của mình".
Tính xã hội của con người còn thể hiện ở quan hệ giao tiếp và đời
sống cộng đồng, ở văn hóa và đạo đức.
Con người còn phân biệt với động vật ở tư duy và ngôn ngữ.
Là sản phẩm của tự nhiên và xã hội nên quá trình hình thành và phát
triển của con người luôn bị quy định bởi ba hệ thống quy luật khác nhau
nhưng thống nhất với nhau. Hệ thống các quy luật tự nhiên như quy luật về
sự phù hợp cơ thể với môi trường, quy luật về sự trao đổi chất, về di truyền,
biến dị, tiến hoá quy định phương diện sinh học của con người. Hệ thống
các quy luật tâm lý - ý thức hình thành và vận động trên nền tảng sinh học
của con người như hình thành tình cảm, khát vọng, niềm tin, ý chí. Hệ thống
các quy luật xã hội quy định quan hệ xã hội giữa người với người. Ba hệ
thống quy luật trên cùng tác động, tạo nên thể thống nhất hoàn chỉnh trong
đời sống con người bao gồm cả mặt sinh học và mặt xã hội. Mối quan hệ
sinh học và xã hội là cơ sở để hình thành hệ thống các nhu cầu sinh học và
nhu cầu xã hội trong đời sống con người như nhu cầu ăn, mặc, ở; nhu cầu tái
sản suất xã hội; nhu cầu tình cảm; nhu cầu thẩm mỹ và hưởng thụ các giá trị
tinh thần .

nhân, gia đình, xã hội ) con người mới bộc lộ toàn bộ bản chất xã hội của
mình.
Điều cần lưu ý là luận đề trên khẳng định bản chất xã hội không có
nghĩa là phủ nhận mặt tự nhiên trong đời sống con người; trái lại, điều đó
muốn nhấn mạnh sự phân biệt giữa con người và thế giới động vật trước hết
là ở bản chất xã hội và đấy cũng là để khắc phục sự thiếu sót của các nhà
triết học trước Mác không thấy được bản chất xã hội của con người. Mặt
khác, cái bản chất với ý nghĩa là cái phổ biến, cái mang tính quy luật chứ
không thể là duy cái duy nhất. Do đó cần phải thấy được các biểu hiện riêng
biệt, phong phú và đa dạng của mỗi cá nhân về cả phong cách, nhu cầu và
lợi ích trong cộng đồng xã hội .
Cuối cùng, Max cho rằng : “ Con người là chủ thể của xã hội”
Quan điểm duy tâm khách quan cho rằng, lực lượng siêu tự nhiên,
Thượng đế quyết định mục đích, cứu cánh của xã hội.
Quan điểm duy tâm chủ quan lại cho rằng : con người quyết định lịch
sử hoàn toàn chủ quan.
Quan điểm duy vật biện chứng của Max cho rằng :
Không có thế giới tự nhiên, không có lịch sử xã hội thì không tồn tại
con người. Bởi vậy, con người là sản phẩm của lịch sử, của sự tiến hoá lâu
dài của giới hữu sinh. Song, điều quan trọng hơn cả là: con người luôn luôn
là chủ thể của lịch sử - xã hội.
C.Mác đã khẳng định " Cái học thuyết duy vật chủ nghĩa cho rằng con
người là sản phẩm của những hoàn cảnh và giáo dục cái học thuyết ấy
quên rằng chính những con người làm thay đổi hoàn cảnh và bản thân nhà
giáo dục cũng cần phải được giáo dục". Trong tác phẩm Biện chứng của tự
nhiên, Ph.Ăngghen cũng cho rằng : " thú vật cũng có một lịch sử phát triển
dần dần của chúng cho tới trạng thái hiện nay của chúng. Nhưng lịch sử ấy
không phải do chúng làm ra và trong chừng mực mà chúng tham dự vào việc
làm ra lịch sử ấy thì điều đó diễn ra mà chúng không hề biết và không phải
do ý muốn của chúng. Ngược lại, con người càng cách xa con vật, hiểu theo

khuynh hướng phát triển nhằm đạt tới các giá trị có tính mục đích, tự giác,
có ý nghĩa định hướng giáo dục. Thông qua đó, con người tiếp nhận hoàn
cảnh một cách tích cực và tác động trở lại hoàn cảnh trên nhiều phương diện
khác nhau: hoạt động thực tiễn, quan hệ ứng xử, hành vi con người, sự phát
triển của phẩm chất trí tuệ và năng lực tư duy, các quy luật nhận thức hướng
con người tới hoạt động vật chất. Đó là biện chứng của mối quan hệ giữa
con người và hoàn cảnh trong bất kỳ giai đoạn nào của lịch sử xã hội loài
người.

b- Quan điểm của triết học Max về giải phóng con người
Nghiên cứu về con người không thể bỏ qua quan điểm về giải phóng
con người. Con người là điểm xuất phát và giải phóng con người là mục
đích cao nhất của triết học Max
Trước đây,
quan điểm tôn giáo
quan điểm tôn giáo: giải thoát con người khỏi cuộc đời
đau khổ ở trần gian để đạt hạnh phúc vĩnh cửu ở kiếp sau, thế giới bên kia,
đó chỉ là ảo tưởng.
Các quan điểm triết học phương Tây hiện đại
Các quan điểm triết học phương Tây hiện đại rơi vào bế
tắc không tìm ra được con đường đúng đắn để giải phóng con người.
Một số nhà triết học phương Tây hiện đại cho rằng Mác đã “bỏ quên
con người”, chủ nghĩa duy vật lịch sử là “lý luận về con người mà không có
con người”. Chính vì vậy ở phương Tây có quan điểm phổ biến đối lập Max
trẻ và Max trưởng thành. Theo họ, Max trẻ với việc nghiên cứu con người bị
tha hóa (t rong tác phẩm “Bản thảo kinh tế” năm 1844) là một ông Max đầy
tính nhân đạo. Còn Max trưởng thành với việc nghiên cứu về vấn đề giai
cấp, đấu tranh giai cấp, cách mạng xã hội, quy luật kinh tế khách quan là
không còn nhân đạo, bỏ quên con người.
Thật ra, nếu chỉ nghiên cứu con người ở những tâm lí, cảm xúc, trăn

xuất ra cũng như với cách mà họ sản xuất. Do đó, những cá nhân là như thế
nào, điều đó phụ thuộc vào điều đó phụ thuộc vào những điều kiện vật chất
của sự sản xuất của họ” [t3, tr30]
Trong tác phẩm Bản thảo kinh tế triết học, Max vạch ra những biểu
hiện của sự tha hóa của con người. Quá trình nghiên cứu tiếp theo không
phải là bỏ rơi con người, chính là vạch ra những nguyên nhân của tình trạng
áp bức, bóc lột con người, của sự tha hóa của con người để tìm ra con đường
khắc phục sự tha hóa của con người thông qua đấu tranh giai cấp và cách
mạng xã hội.
Mục đích cao nhất của Chủ nghĩa xã hội và Chủ nghĩa cộng sản là sự
giải phóng con người, đưa con người thoát khỏi áp bức bóc lột, thoát khỏi
mọi ràng buột về giai cấp, giới tính, dân tộc, tôn giáo…để đạt đến sự phát
triển, tự do và toàn diện. Con người trở thành người chủ có ý thức đối với tất
cả những gì trước đây vẫn thống trị họ một cách mù quáng. Mục đích đó
được Mac và Ăngghen chỉ ra trong tác phẩm hệ tư tưởng Đức:
“Chỉ có như vậy thì các cá nhân riêng rẽ mới được giải thoát ra
những khuôn khổ dân tộc và địa phương khác nhau của mình, mới có được
những liên hệ thực tiễn với nền sản xuất(kể cả sản xuất tinh thần) của toàn
thế giới và mới có được khả năng hưởng thụ nền sản xuất của toàn thế giới
về mọi lĩnh vực(tất cả những sáng tạo của con người)
Sự phụ thuộc toàn diện, hình thức hình thành một cách tự nhiên ấy
của sự hợp tác có tính lịch sử-thế giới của cá nhân, sẽ được cuộc cách mạng
cộng sản chủ nghĩa biến thành sự kiểm soát và thống trị có ý thức đối với
những lực lượng nảy sinh ra từ sự tác động lẫn nhau giữa những con người
và cho đến nay vẫn thống trị và chi phối con người với tư cách là những lực
lượng hoàn toàn xa lạ với con người” [t3, tr35]
Trong tác phẩm tuyên ngôn của Đảng cộng sản, Mác và Angghen
viết:
“Thay cho xã hội tư sản cũ, với những giai cấp và đối kháng giai cấp
cảu nó, sẽ xuất hiện một liên hợp, trong đó sự phát triển tự do của mỗi

Vai trò của quần chúng nhân dân.
Các trường phái triết học trước Mác đều chưa nhận thức được vai trò
của quần chúng nhân dân. Tư tưởng tôn giáo cho rằng mọi sự thay đổi trong
lịch sử xã hội là do ý chí của đấng tối cao, do mệnh trời tạo nên, và trao
quyền cho các cá nhân thực hiện. Chủ nghĩa duy tâm trong triết học đề cao
vai trò của các vĩ nhân, còn quần chúng nhân dân chỉ là công cụ, phương
tiện để sai khiến. Chủ nghĩa duy vật trước Mác vẫn chưa thoát khỏi quan
điểm duy tâm của xã hội khi cho rằng, nhân tố quyết định sự phát triển của
xã hội là tư tưởng, đạo đức, là các vĩ nhân và chỉ có họ mới sớm nhận thức
được chân lý vĩnh cửu. Có nhà tư tưởng lại đề cao vai trò của quần chúng
nhân dân, phủ nhận vai trò của các vĩ nhân hoặc không lý giải được một
cách khoa học vai trò quần chúng nhân dân.
Chủ nghĩa duy vật lịch sử khẳng định quần chúng nhân dân là chủ thể
sáng tạo chân chính ra lịch sử. Bởi vì, mọi lý tưởng giải phóng xã hội, giải
phóng con người chỉ được chứng minh thông qua sự tiếp thu và hoạt động
của quần cúng nhân dân. Hơn nữa, tư tưởng tự nó không làm biến đổi xã hội
mà phải thông qua hành động cách mạng, hoạt động thực tiễn của quần
chúng nhân dân, để biến lý tưởng ước mơ thành hiện thực trong đời sống xã
hội.
- Thứ nhất, quần chúng nhân dân là lực lượng sản suất cơ bản của xã
hội, trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất, là cơ sở của sự tồn tại và phát triển
của xã hội. Con người muốn tồn tại phải có các điều kiện vật chất cần thiết,
mà những nhu cầu đó chỉ có thể đáp ứng được thông qua sản xuất. Lực
lượng sản xuất cơ bản là dông đảo quần chúng nhân dân lao động bao gồm
cả lao động chân tay và lao động trí óc. Cách mạng khoa học kĩ thuật hiện
nay có vai trò đặc biệt đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất. Song vai
trò của khoa học chỉ có thể phát huy thông qua thực tiễn sản xuất của quần
chúng nhân dân lao động, nhất là đội ngũ công nhân hiện đại và trí thức
trong nền sản xuất xã hội, của thời đại kinh tế tri thức. Điều đó khẳng định
rằng hoạt động sản xuất của quần chúng nhân dân là điều kiện cơ bản để

mình.
Lịch sử dân tộc Việt Nam đã chứng minh vai trò, sức mạnh của quần
chúng nhân dân, như Nguyễn Trãi đã nói: "Chở thuyền cũng là dân, lật
thuyền cũng là dân, thuận lòng dân thì sống, nghịch lòng dân thì chết". Đảng
Cộng sản Việt Nam cũng khẳng định rằng cách mạng là sự nghiệp của quần
chúng nhân dân và quan điểm "lấy dân làm gốc" trở thành tư tưởng thường
trực nói lên vai trò sáng tạo ra lịch sử của nhân dân Việt Nam.
Còn cá nhân xuất sắc hay lãnh tụ vĩ đại có vai trò như thế nào?
Không có họ liệu xã hội có phát triển không?
Trong mối quan hệ với quần chúng nhân dân, lãnh tụ có nhiệm vụ chủ
yếu sau:
-Thứ nhất, nắm bắt xu thế của dân tộc, quốc tế và thời đại trên cơ sở
hiểu biết những quy luật khách quan của các quá trình kinh tế, chính trị, xã
hội.
-Thứ hai, định hướng chiến lược và hoạch định chương trình hành
động cách mạng. Thứ ba, tổ chức lực lượng, giáo dục thuyết phục quần
chúng, thống nhất ý chí và hành động của quần chúng nhằm hướng vào giải
quyết những mục tiêu cách mạng đề ra.
Từ nhiệm vụ trên ta thấy lãnh tụ có vai trò to lớn đối với phong trào
quần chúng. Lênin viết: "Trong lịch sử, chưa hề có một giai cấp nào giành
được quyền thống trị, nếu nó không đào tạo được trong hàng ngũ của mình
những lãnh tụ chính trị, những đại biểu tiền phong có đủ khả năng tổ chức
và lãnh đạo phong trào"
Những lãnh tụ vĩ đại của giai cấp vô sản như C.Mác, Ph.Ăngghen,
V.I.Lênin, Hồ Chí Minh đều hết sức khiêm tốn, gần gũi với nhân dân, đề cao
vai trò và sức mạnh của quần chúng nhân dân, xứng đáng là những vĩ nhân
kiệt xuất mà toàn thể loài người tôn kính và ngưỡng mộ.
Tóm lại, qua những phân tích trên đây ta thấy : Mối quan hệ giữa con
người và xã hội có dựa trên cơ sở lợi ích, biểu hiện mối quan hệ giữa cái bộ
phận và cái toàn thể, đồng thời thể hiện tính biện chứng vừa thống nhất, vừa

độ cực đoan.
-Một là, chỉ thấy cá nhân mà không thấy xã hội, đem cá nhân đối lập
với xã hội, nhu cầu cá nhân chưa phù hợp với điều kiện phát triển của xã
hội. Khuynh hướng này có thể dẫn đến chủ nghĩa cá nhân.
-Hai là, chỉ thấy xã hội mà không thấy cá nhân, quan niệm sai lầm về
lợi ích xã hội, về chủ nghĩa tập thể, thực chất là chủ nghĩa bình quân, coi nhẹ
vai trò cá nhân lợi ích cá nhân. Xã hội càng phát triển thì nhu cầu, lợi ích cá
nhân càng đa dạng. Nếu không quan tâm đến vấn đề cá nhân, sẽ dẫn đến một
xã hội nghèo nàn, chậm phát triển, không phù hợp với bản chất của chủ
nghĩa xã hội.
Ở nước ta hiện nay, nền kinh tế thị trường đang thúc đẩy sự phát triển
của lực lượng sản xuất, nâng cao năng xuất lao động, tạo ra cơ sở vật chất và
văn hoá tinh thần ngày càng đa dạng và phong phú. Lợi ích cá nhân ngày
càng được chú ý, tạo ra cơ hội mới để phát triển cá nhân. Tuy nhiên, cơ chế
này có thể dẫn đến tuyệt đối hoá lợi ích kinh tế, dẫn tới phân hoá giàu nghèo
trong xã hội, chứa đựng những khả năng đối lập giữa cá nhân và xã hội. Do
đó, chúng ta cần khắc phục mặt trái của cơ chế thị trường, phát huy vai trò
nhân tố của con người, thực hiện chiến lược con người của Đảng ta là một
mục tiêu có ý nghĩa quyết định để giải quyết mối quan hệ giữa cá nhân và xã
hội theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã chỉ ra:
Xây dựng con người Việt Nam có tinh thần yêu nước và yêu chủ nghĩa xã
hội, có ý thức tự cường dân tộc, trách nhiệm cao trong lao động, có lương
tâm nghề nghiệp, có tác phong công nghiệp, có ý thức cộng đồng, tôn trọng
tình nghĩa, có lối sống văn hoá, quan hệ hài hoà trong gia đình, cộng đồng và
xã hội.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status