Trường Đại Học Ngoại Thương
Khoa Lý Luận Chính Trị
Tiểu Luận Kinh Tế Chính Trị
Đề tài:
Sức lao động và thị trường sức lao động
Hà Nội, 4/2011
MỤC LỤC
1
LỜI MỞ ĐẦU
2
Việt Nam đang trên bước đường hội nhập kinh tế quốc tế, hiện đại hoá nền
sản xuất và từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân. Trong bối
cảnh đó nhiều thị trường đã hình thành, ngày càng có những biến chuyển tích cực
như: thị trường hàng tiêu dùng, hàng xuất nhập khẩu, hàng nông lâm thủy sản…
Nhưng một trong những thị trường có tầm chiến lược đặc biệt quan trọng đó chính
là thị trường sức lao động. Trong những năm gần đây nhờ sự nỗ lực điều chỉnh của
hệ thống chính sách cũng như nhờ những tác động của cơ chế mở, thị trường này
đã thu được một số kết quả khả quan, có những bước tiến nhanh chóng cả về số
lượng lẫn chất lượng, cơ cấu…. Tuy nhiên, thị trường lao động Việt Nam vẫn
đang trong giai đoạn thành, phát triển khá chậm chạp và vẫn tồn tại những mặt trái
gây ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển nói chung của nền kinh tế đất nước.
Lao động và việc làm hiện nay và trong tương lai vẫn là vấn đề bức xúc, nhạy cảm
đối với mỗi quốc gia trên thế giới. Đặc biệt đối với những nước đang phát triển
như Việt Nam chúng ta, đây là vấn đề rất được quan tâm vì nó có tác động trực
tiếp đến mỗi cấp, mỗi ngành, mỗi tổ chức, mỗi hộ gia đình và từng người lao động
trong cả nước. Một đất nước chỉ thật sự phát triển khi thị trường sức lao động ổn
định, mang lại những lợi ích căn bản cho người dân, tạo điều kiện để mọi thành
viên trong xã hội phát huy được khả năng, thế mạnh của mình.
Mục đích của tề tài “Sức lao động và thị trường sức lao động” nhằm làm
rõ một số vấn đề liên quan đến lý luận và thực tiễn trong hoạt động, vận hành của
sử, nhưng đối với mỗi nước nhất định và trong một thời kỳ nhất định, thì quy mô
những tư liệu sinh hoạt cần thiết cho người lao động là một đại lượng nhất định,
do đó có thể xác định được giá trị hàng hóa sức lao động do những bộ phận sao
đây hợp thành:
- Giá trị những tư liệu sinh hoạt về vật chất và tinh thần cần thiết để tái sản
xuất ra sức lao động, duy trì đời sống của bản thân người công nhân.
- Phí tổn đào tạo người công nhân.
- Giá trị những tư liệu sinh hoạt về vật chất và tinh thần cần thiết cho con cái
người công nhân.
* Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động
4
Hàng hóa sức lao động không chỉ có giá trị, mà còn có giá trị sử dụng như bất
kỳ một loại hàng hóa thông thường nào. Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao
động, cũng chỉ thể hiện ra trong quá trình tiêu dùng sức lao động, tức là quá trình
lao động của người công nhân. Nhưng quá trình sử dụng hay tiêu dùng hàng hóa
sức lao động khác với quá trình tiêu dùng hàng hóa thông thường ở chỗ: hàng hóa
thông thường sau quá trình tiêu dùng hay sử dụng thì giá trị lẫn giá trị sử dụng của
nó đều tiêu biến mất theo thời gian. Trái lại, quá trình tiêu dùng hàng hóa sức lao
động, đó lại là quá trình sản xuất ra một loai hàng hóa nào đó, đồng thời là quá
trình tạo ra một giá trị mới lớn hơn giá trị của bản thân hàng hóa sức lao động.
Như vậy, giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động có tính chất đặc biệt, nó là
nguồn gốc sinh ra giá trị, tức là nó có thể tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị của bản
thân nó. Chính đặc tính này đã làm cho sự xuất hiện của hàng hóa sức lao động đã
trở thành điều kiện để tiền tệ chuyển hóa thành tư bản.
3. Điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa
Sự tồn tại của hai điều kiện dưới đây tất yếu biến sức lao động thành hàng
hóa: - Thứ nhất, người có sức lao động phải được tự do về thân thể, làm chủ được
sức lao động của mình và có quyền bán sức lao động của mình như một hàng hóa
- Thứ hai, người có sức lao động phải bị tước đoạt hết mọi tư liệu sản xuất và
tư liệu sinh hoạt, họ trở thành người “vô sản”, để tồn tại anh ta buộc phải bán sức
- Cung tiềm năng về lao động: bao gồm tất cả những người đủ 15 tuổi trở lên đang
làm việc và những người đang thất nghiệp; những người trong độ tuổi lao động có
khả năng lao động đang đi học, đang làm nội trợ trong gia đình mình; hoặc không
có nhu cầu làm việc, và những tình trạng khác.
- Cung thực tế về lao động: bao gồm tất cả những người đủ 15 tuổi trở lên đang
làm việc và những người thất nghiệp.
2.3. Cầu về lao động
* Khái niệm cầu về lao động
6
Cầu về sức lao động là nhu cầu về sức lao động của một quốc gia, một địa
phương, một ngành trong một thời gian nhất định. Cầu về lao động bao gồm hai
mặt, đó là: cầu về số lượng và cầu về chất lượng:
- Xét từ góc độ số lượng, trong điều kiện năng suất lao động không đổi thì cầu
về lao động tỷ lệ thuận với quy mô sản xuất. Trái lại, trong trường hợp quy mô sản
xuất không đổi thì cầu về lao động tỷ lệ nghịch với năng suất lao động.
- Xét từ giác độ chất lượng, việc nâng cao năng suất lao động, hiện đại hoá
công nghệ sản xuất, mở rộng quy mô,… của doanh nghiệp luôn gắn liền với việc
nâng cao chất lượng lao động.
* Hai loại cầu về lao động
- Cầu thực tế: Là nhu cầu thực tế cần sử dụng lao động tại một thời điểm nhất
định, bao gồm chỗ làm việc trống và chỗ làm việc mới.
+ Chỗ làm việc trống: là chỗ làm việc đã từng sử dụng lao động, nay không có
người lao động làm việc và đang có nhu cầu sử dụng lao động.
+Chỗ làm việc mới: là chỗ làm việc mới xuất hiện và đang có nhu cầu sử dụng
lao động.
- Cầu tiềm năng: Là số lao động tương ứng với tổng số chỗ làm việc có được sau
khi đã tính đến các yếu tố ảnh hưởng đến tạo mở việc làm trong tương lai như vốn,
đất đai, máy móc thiết bị, công nghệ, chính trị, xã hội, …
2.4. Quan hệ cung cầu và giá cả sức lao động
Trên thị trường lao động, cung và cầu lao động có mối quan hệ biện chứng hữu
- Xuất khẩu lao động tại chỗ
- Xuất khẩu lao động phi chính thức.
* Căn cứ vào chất lượng nguồn lao động xuất khẩu:
- Xuất khẩu lao động có tay nghề gồm chuyên gia, kỹ thuật viên, lao
động lành nghề
- Xuất khẩu lao động phổ thông, tay nghề thấp.
* Các hình thức xuất khẩu lao động của Việt Nam:
- Thông qua các doanh nghiệp, tổ chức xuất khẩu lao động
8
- Thông qua doanh nghiệp trúng thầu, nhận thầu hoặc đầu tư ra nước
ngoài
- Thông qua chương trình tu nghiệp sinh, thực tâp sinh
- Theo hợp đồng cá nhân của người lao động ký với chủ sử dụng lao
động.
3.3. Thành tựu của thị trường lao động ngoài nước
- Đến cuối năm 2009, cả nước có hơn 490 ngàn LĐ đang làm việc tại 41 quốc gia
và vùng lãnh thổ trong đó: Malaysia 85 ngàn, Đài Loan 81 ngàn, Hàn Quốc 55
ngàn, Nhật Bản 20 ngàn, Trung Đông 25 ngàn, Đông Âu 80 ngàn, Nga 30 ngàn,
Lào 24 ngàn, số còn lại ở các nước Bắc Phi, Macao, Úc, Bắc Mỹ…. Từ năm 2003,
bình quân mỗi năm đưa được khoảng gần 75.000 lao động, chiếm gần 5% tổng số
lao động được giải quyết việc làm hàng năm
- Mỗi năm người lao động gửi về nước khoảng 1,7-2 tỉ đôla Mỹ, làm cho xuất
khẩu lao động trở thành một trong 5 - 6 ngành xuất khẩu đạt trên 1 tỷ USD/năm
của nước ta.
- Cơ cấu lao động xuất khẩu của nước ta theo trình độ tay nghề thời gian qua có
những chuyển biến tích cực theo hướng tăng cả về số lượng và tỷ lệ đối với
chuyên gia, lao động có tay nghề và giảm đối với LĐ phổ thông, năm 2009 lao
động phổ thông chiếm 51,03% trong tổng số lao động xuất khẩu, trong khi lao
động đã qua đào tạo chiếm 48.97%, trong đó chuyên gia kỹ thuật và lao động lành
nghề là 12,49%. Cơ cấu ngành nghề có sự chuyển dịch dần từ khu vực nông
và công nghiệp nặng còn rất thấp, khoảng 20% trong tổng số công nhân cả nước,
trong khi đó, công nhân trong các ngành công nghiệp nhẹ, chế biến thực phẩm lại
chiếm tỷ lệ cao, khoảng 40%. Sự già đi và ít đi của đội ngũ công nhân Việt Nam
đã thấy xuất hiện. Với tình hình này, công nhân khó có thể đóng vai trò chủ yếu
trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Về mặt chính trị, thực
chất, công nhân Việt Nam chưa có địa vị bằng trí thức, công chức, viên chức, rất
khó vươn lên vị trí chủ đạo trong đời sống xã hội và trong sản xuất, kinh doanh.
10
* Nguồn nhân lực từ trí thức, công chức, viên chức:
Nếu tính sinh viên đại học và cao đẳng trở lên được xem là trí thức, thì đội
ngũ trí thức Việt Nam trong những năm gần đây tăng nhanh. Cả nước đến nay có
14 nghìn tiến sĩ và tiến sĩ khoa học; 1.131 giáo sư; 5.253 phó giáo sư; 16 nghìn
người có trình độ thạc sĩ; 30 nghìn cán bộ hoạt động khoa học và công nghệ;
52.129 giảng viên đại học, cao đẳng, gần 14 nghìn giáo viên trung cấp chuyên
nghiệp, 11.200 giáo viên dạy nghề và 925 nghìn giáo viên hệ phổ thông.
Bên cạnh nguồn nhân lực là trí thức trên đây, nguồn nhân lực là công chức,
viên chức (cũng xuất thân từ trí thức) công tác tại các ngành của đất nước cũng
tăng nhanh: Tổng số công chức, viên chức trong toàn ngành xuất bản là gần 5
nghìn người làm việc tại 54 nhà xuất bản trong cả nước. Tổng số nhà báo của cả
nước là 14 nghìn phóng viên chuyên nghiệp và hàng nghìn cán bộ, kỹ sư, nghệ sĩ,
nhân viên làm việc trong các cơ quan báo chí và hàng chục nghìn người khác là
cộng tác viên, nhân viên, lao động tham gia các công đoạn in ấn, tiếp thị quảng
cáo, phát hành. Đội ngũ công chức, viên chức của ngành thuế Việt Nam hiện có
gần 39 nghìn người; ngành hải quan của Việt Nam là 7.800 người, ngành kho bạc
là 13.536 người. Tổng nhân lực các hội, liên hiệp hội, viện, trung tâm (NGO) hiện
có 52,893 người.
Bên cạnh sự tăng nhanh từ nguồn nhân lực trí thức, công chức, viên chức, ở
Việt Nam hiện nay, chất lượng nguồn nhân lực từ trí thức, công chức, viên chức
còn quá yếu. Hiện vẫn còn khoảng 80% số công chức, viên chức làm việc trong
các cơ quan công quyền chưa hội đủ những tiêu chuẩn của một công chức, viên
80% nên thiếu trầm trọng lao động kỹ thuật cao, lao động dịch vụ cao cấp (tài
chính, ngân hàng, du lịch, bán hàng….), nhiều nghề và công việc phải thuê lao
động nước ngoài, xuất khẩu lao động đa phần là lao động trình độ chuyên môn kỹ
thuật thấp hoặc chỉ qua giáo dục định hướng. Thể lực của người lao động yếu, kỷ
luật lao động, tác phong làm việc công nghiệp cơ bản chưa được hình thành. Do
vậy, khả năng cạnh tranh yếu, nhất là ở thị trường yêu cầu lao động có trình độ cao
như các khu công nghiệp, khu chế xuất và thị trường lao động nước ngoài.
* Nhu cầu lao động trong nước có xu hướng tăng về cả số lượng và chất lượng.
Hiện nay, cả nước có trên 4,145 triệu cơ sở kinh tế, hành chính, sự nghiệp, thu hút
12
gần 17 triệu lao động vào làm việc. Hàng năm các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất
kinh doanh thu hút thêm lao động vào làm việc từ 1,2 đến 1,5 triệu người. Cả nước
có khoảng 219 khu công nghiệp được thành lập, phân bố trên 54 tỉnh/thành phố,
trong đó có 118 khu công nghiệp đã đi vào hoạt động (chủ yếu ở các thành phố
lớn), 101 khu công nghiệp đang xây dựng cơ bản. Các doanh nghiệp trong các khu
công nghiệp thu hút trên 1 triệu lao động.
* Hệ thống giao dịch thị trường lao động đa dạng về hình thức, phong phú về
hoạt động. Hệ thống này bao gồm giao dịch gián tiếp (thông qua các tổ chức môi
giới bao gồm giao dịch chính thức và phi chính thức) và giao dịch trực tiếp.
- Giao dịch gián tiếp chính thức (các tổ chức giới thiệu việc làm, hội chợ việc
làm và sàn giao dịch việc làm): Tính đến tháng 7/2006 đã có 170 trung tâm giới
thiệu việc làm được thành lập và hàng ngàn doanh nghiệp hoạt động giới thiệu
việc làm, cung ứng lao động. Hoạt động của trung tâm giới thiệu việc làm còn hạn
chế về khả năng tư vấn, giới thiệu việc làm và thu thập thông tin về cung – cầu
trên thị trường, còn nặng về dạy nghề và dịch vụ thu phí. Hàng năm, cả nước tổ
chức trên 40 hội chợ việc làm cấp tỉnh, và hàng trăm phiên chợ, sàn giao dịch việc
làm tại các trung tâm giới thiệu việc làm, trường học, doanh nghiệp… với hàng
vạn lao động tham gia, số lao động được phỏng vấn tại chỗ chiếm hơn 60%,
khoảng 25-39% số lao động được tuyển dụng. Tuy vậy, do các hội chợ mới tập
trung ở đô thị lại chưa thường xuyên nên chưa sát với nơi có nhiều lao động.
hóa, xã hội. Tăng cường hoạt động đào tạo nghề với phương thức mới để tăng chất
lượng cho lao động xã hội, đặc biệt là kỹ năng và đạo đức hành nghề trong thị
trường lao động. Tăng tỷ trọng lao động có tay nghề trong tổng lao động đi xuất
khẩu lao động. Tăng cường giáo dục pháp luật và phổ biến pháp luật lao động tới
người lao động và người sử dụng lao động. Đặc biệt, cần phổ biến rộng rãi luật
sửa đổi bổ sung Bộ luật Lao động, Luật Bảo hiểm xã hội, Luật xuất khẩu lao
động, đào tạo nghề,…
2. Nhà nước xây dựng chiến lược nguồn nhân lực gắn với chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế.
Nhà nước phải có kế hoạch phối hợp tạo nguồn nhân lực từ nông dân, công
nhân, trí thức; có kế hoạch khai thác, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng các nguồn nhân
lực cho đúng; cần có chính sách rõ ràng, minh bạch, đúng đắn đối với việc việc sử
dụng, trọng dụng nhân tài, nhất là trọng dụng các nhà khoa học và chuyên gia thật
sự có tài năng cống hiến.
14
Hằng năm, Nhà nước cần tổng kết về lý luận và thực tiễn về nguồn nhân lực
ở Việt Nam, đánh giá đúng mặt được, mặt chưa được, kịp thời rút ra những kinh
nghiệm, trên cơ sở đó mà xây dựng chính sách mới và điều chỉnh chính sách đã có
về nguồn nhân lực ở Việt Nam, như chính sách hướng nghiệp, chính sách dạy
nghề, chính sách quản lý … Chính phủ và các cơ quan chức năng phải có chính
sách, biện pháp kết hợp thật tốt giữa đào tạo và sử dụng trong tổng thể phát triển
kinh tế của đất nước, đáp ứng có hiệu quả nguồn lao động có chất lượng cao cho
yêu cầu phát triển của nền kinh tế.
II. GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG NƯỚC TA
1. Tiếp tục hoàn thiện thể chế và chính sách thị trường lao động
- Tiếp tục sửa đổi, hoàn thiện Bộ luật Lao động và các luật hữu quan, tổ chức
thực hiện có hiệu quả. Tiếp tục cụ thể hoá luật thành các quy định cụ thể, chi tiết
nhằm đảm bảo quyền tự do di chuyển và tự do tìm việc làm của người lao động.
Hoàn thiện cơ chế 3 bên trong việc thực thi pháp luật lao động và giải quyết các
tranh chấp trong quan hệ lao động.
trang bị kiến thức và kỹ năng cho cán bộ lãnh đạo và cán bộ quản lý thị trường lao
động trong bối cảnh hội nhập.
- Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với Chương trình Quốc gia giải
quyết việc làm, hoàn thiện cơ chế về mức vay, đối tượng vay, thời hạn và mục
đích sử dụng vốn vay để tạo việc làm mới cho người lao động.
- Tăng cường quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp hoạt động xuất
khẩu lao động trên tất cả các khâu, từ tuyển chọn, giáo dục định hướng cho người
lao động, tới quá trình làm việc ở nước ngoài, tới khi trở về nước. Tăng cường vai
trò của toàn bộ hệ thống chính trị trong việc tham gia phát triển thị trường lao động và
bảo vệ người lao động trong cơ chế thị trường.
- Hoàn thiện hệ thống thanh tra, kiểm tra, giám sát thị trường lao động. Đặc
biệt có quy định mẫu về quy trình, thủ tục thanh tra hoạt động của các thị trường
giới thiệu việc làm, các doanh nghiệp xuất khẩu lao động, các doanh nghiệp nợ
đọng hoặc trốn nộp bảo hiểm xã hội,…
3. Một số biện pháp tác động tới cung và cầu lao động
- Thực hiện tốt chiến lược dân số và phát triển nhằm nâng cao chất lượng
cung lao động. Chú trọng thực hiện tốt chính sách di dân, kiểm soát hiệu quả
16
hơn dòng lao động di chuyển từ nông thôn ra thành thị; tăng cường các biện
pháp chính sách điều tiết vĩ mô thay thế vác chính sách kiểm soát hành chính.
Tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạt động đào tạo nghề cho lao động theo
định hướng thị trường. Đặc biệt, hệ thống đào tạo nghề cần trở thành mắt xích
quan trọng trong việc nâng cao chất lượng nguồn lao động trong cơ chế thị
trường.
- Phát triển cầu lao động trên cơ sở áp dụng đồng bộ các giải pháp kích thích
tăng trưởng kinh tế và kích thích tiêu dùng của dân cư; các giải pháp chuyển dịch
cơ cấu kinh tế để tạo mở nhiều việc làm, nâng cao năng suất lao động và chất
lượng việc làm. Trong chiến lược dài hạn, cần chú trọng lựa chọn mô hình tăng
trưởng, sao cho có sự cần bằng hợp lý giữa phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn
với phát triển các ngành kinh tế truyền thống sử dụng nhiều lao động. Phát triển
-Tạp chí phát triển kinh tế.
- Kinh tế và dự báo
- Giáo trình Kinh tế chính trị
- Phát triển thị trường lao động định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
- Thị trường lao động Việt Nam hướng tới chất lượng tăng trưởng-hội nhập phát
triển bền vững
19