Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc;
kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại
LỜI MỞ ĐẦU
Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về
những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, từ cách mạng dân tộc dân chủ nhân
dân đến cách mạng xã hội chủ nghĩa; là kết quả của sự vận dụng sáng tạo và phát
triển chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, đồng thời là sự kết tinh
tinh hoa dân tộc và trí tuệ thời đại nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và
giải phóng con người.Tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho cuộc đấu tranh của
nhân dân ta giành thắng lợi,là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta.
Chính lịch sử dựng nước và giữ nước lâu đời đã hình thành nên những giá trị
truyền thống hết sức đặc sắc và cao đẹp của dân tộc Việt Nam, trở thành tiền đề tư
tưởng, lí luận xuất phát hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là truyền thống yêu
nước, kiên cường bất khuất, là tinh thần tương thân tương ái, lòng nhân nghĩa, ý
thức cố kết cộng đồng, ý chí vươn lên vượt qua mọi khó khăn thử thách, là trí thông
minh, tài sáng tạo, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại để làm giàu cho văn hóa dân
tộc…
Một trong những giá trị truyền thống cao đẹp đó là đại đoàn kết. Hồ Chí Minh
chỉ ra rằng, trong thời đại mới, để đánh bại các thế lực đế quốc thực dân nhằm giải
phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người, nếu chỉ có tinh thần yêu
nước thôi thì chưa đủ, cách mạng muốn thành công và thành công đến nơi, phải tập
hợp được tất cả các lực lượng tập hợp được, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân
tộc. Ngoài ra còn phải thực hiện đoàn kết quốc tế để tập hợp lực lượng bên ngoài,
tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ và giúp đỡ của bạn bè quốc tế. Kết hợp sức mạnh
dân tộc với sức mạnh của các trào lưu cách mạng thời đại, tạo thành sức mạnh tổng
hợp cho cách mạng chiến thắng kẻ thù là một trong những nội dung chủ yếu của tư
tưởng Hồ Chí Minh và cũng là một trong những bài học kinh nghiệm quan trọng
nhất, mang tính thời sự sâu sắc nhất của cách mạng Việt Nam.
1
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc;
kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại
1.1.2. Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin
2
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc;
kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại
Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, nhân dân là người sáng tạo ra lịch sử
và những khẩu hiệu chiến lược: “Vô sản toàn thế giới liên hiệp lại”, “Vô sản tất cả
các nước và các dân tộc bị áp bức, đoàn kết lại”
Chủ nghĩa Mác-Lênin đã giúp Hồ Chí Minh nhận được sự cần thiết phải tập
hợp, đoàn kết lực lượng dân tộc, đoàn kết quốc tế để đấu tranh chống chủ nghĩa tư
bản, chủ nghĩa đế quốc.
1.2. Cơ sở thực tiễn
Tư tưởng HCM được hình thành trên sự tổng kết những kinh nghiệm của:
• Phong trào cách mạng Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.
• Phong trào cách mạng thế giới,nhất là phong trào giải phóng dân tộc ở
các nước thuộc địa.
1.2.1. Thực tiễn phong trào CM Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
Từ các phong trào Cần Vương, Văn Thân, Yên Thế cuối thế kỷ XIX, đến các
phong trào Đông Du, Duy Tân, chống thuế đầu thế kỷ XX, là các thế hệ người Việt
Nam đã liên tiếp đoàn kết cùng nhau đứng dậy chống ngoại xâm, mặc dù thất bại
(do nhiều nguyên nhân chúng ta không đề cập ở đây) song đều nói lên truyền
thống yêu nước quật cường của dân tộc.
Thực trạng bế tắc khủng hoảng của phong trào yêu nước chống Pháp, Người
đã nhận thấy những nhà cách mạng tiền bối còn có nhầm lẫn, mơ hồ trong việc
phân biệt bạn thù, trong việc tập hợp lực lượng…Vì vậy , đây chính là điểm xuất
phát để HCM xác định: “Tôi muốn đi ra ngoài xem nước Pháp và các nước khác.
Sau khi xem họ làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng chúng ta”.
1.2.2. Thực tiễn phong trào cách mạng thế giới
Từ năm 1911 đến năm 1941, Hồ Chí Minh đã đi hầu hết các châu lục,
Người đã nhận thức được một sự thật:
3
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc;
kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại
Trong từng thời kỳ, từng giai đoạn cách mạng ,có thể và cần thiết phải điều
chỉnh chính sách và phương pháp tập hợp lực lượng cho phù hợp với những đối
tượng khác nhau, nhưng đại đoàn kết dân tộc luôn luôn được Người nhận thức là
vấn đề sống còn của cách mạng.
Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh luôn quan tâm đặc
biệt đến đại đoàn kết dân tộc. Trong các bài viết, bài nói Người đã sử dụng khoảng
2000 lần cụm từ “đoàn kết”,”đại đoàn kết”. Người luôn luôn nhận thức đại đoàn
kết toàn dân tộc là vấn đề sống còn quyết định thành công của cách mạng. Người
thường khẳng định “Đoàn kết là sức mạnh, đoàn kết là thắng lợi”, “Đoàn kết là
điểm mẹ, điểm này mà thực hiện tốt thì đẻ ra con cháu đều tốt”.
“Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết
Thành công,thành công,đại thành công.”
Thứ hai, đại đoàn kết dân tộc là một mục tiêu,một nhiệm vụ hàng đầu của cách
mạng.
Tư tưởng đại đoàn kết của dân tộc phải được quán triệt trong mọi đường lối,
chủ trương, chính sách của Đảng. Năm 1951, Hồ Chí Minh thay mặt Đảng tuyên bố
trước toàn thể dân tộc nhân buổi ra mắt Đảng Lao Động Việt Nam: mục đích của
Đảng Lao Động Việt Nam có thể gồm tám chữ là: “Đoàn kết toàn dân phụng sự Tổ
quốc”.
Đại đoàn kết dân tộc không chỉ là mục đích,nhiệm vụ hàng đầu của Đảng mà
còn là mục đích nhiệm vụ hàng đầu của cả dân tộc. Đại đoàn kết dân tộc chính là
đòi hỏi khách quan của bản thân quần chúng nhân dân trong đấu tranh để tự giải
phóng. Đảng có sứ mệnh thức tỉnh tập hợp, hướng dẫn, chuyển những đòi hỏi
khách quan, tự phát của quần chúng thành sức mạnh vô địch trong cuộc đấu tranh
giải phóng dân tộc, giải phóng con người.
Thứ ba, đại đoàn kết dân tộc là đại đoàn kết toàn dân.
Dân tộc Việt Nam được hiểu là tất cả mọi người dân Việt Nam đang sinh sống
và làm ăn ở cả trong và ngoài nước, không phân biệt tôn giáo, già, trẻ, giàu,
Thứ năm, đại đoàn kết dân tộc phải biến thành sức mạnh vật chất có tổ chức là:
Mặt trận dân tộc thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Tổ chức thể hiện khối đoàn kết dân tộc chính là Mặt trận dân tộc thống nhất.
Mặt trận là nơi quy tụ mọi tổ chức và cá nhân yêu nước,tập hợp mọi người dân
nước Việt phấn đấu vì mục tiêu chung là độc lập dân tộc,thống nhất tổ quốc và tự
do, hạnh phúc của nhân dân.
Tùy theo từng giai đoạn cách mạng, Đảng chủ trương thành lập mặt trận dân
tộc thống nhất với tên gọi khác nhau. Đảng lãnh đạo mặt trận trước hết bằng việc
xác định chính sách mặt trận đúng đắn cho nên đã phát huy được truyền thống đoàn
kết và yêu nước của dân tộc ta.Muốn lãnh đạo mặt trận lãnh đạo xây dựng khối
đoàn kết dân tộc, trong Đảng phải thực sự đoàn kết nhất trí. Sự đoàn kết của Đảng
là cơ sở vững chắc để xây dựng sự đoàn kết của toàn dân.
Thứ sáu, đại đoàn kết dân tộc phải gắn liền với đoàn kết quốc tế.
Hồ Chí Minh khẳng định: “Yêu nước chân chính phải gắn liền với chủ nghĩa
Quốc Tế trong sáng của giai cấp công nhân lãnh đạo”. Người luôn luôn khẳng định
Cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới, cách mạng Việt Nam
chỉ giành được thắng lợi khi đoàn kết chặt chẽ với phong trào cách mạng thế giới.
Người đã vận dụng sáng tạo, thành công tư tưởng này trong quá trình lãnh đạo cách
mạng Việt Nam. Ngay thời kỳ cách mạng gặp khó khăn nhất cũng như khi chống
thực dân Pháp, đánh đế quốc Mỹ, Hồ Chí Minh đã tranh thủ được sự đồng tình ủng
hộ của anh em bầu bạn, của loài người tiến bộ khắp thế giới. Theo Người, vì cách
mạng Việt Nam muốn thành công phải kết hợp với phong trào cách mạng thế giới
như hai cánh của con chim đều vỗ cùng một nhịp.
II . Tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh
thời đại
7
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc;
kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại
1. Hồ Chí Minh với nhận thức về sức mạnh dân tộc
Sức mạnh dân tộc (nội lực) Việt Nam ở thời đại Hồ Chí Minh là đỉnh
kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại
hội .Do đó, lòng yêu nước xã hội chủ nghĩa đã trở thành sức mạnh to lớn của dân
tộc ta.
• Tinh thần , ý chí độc lập tự chủ , tự cường và lòng yêu nước sở dĩ phát huy được
sức mạnh to lớn của nó vì đã kết liền nhân dân thành 1 khối vững chắc không gì lay
chuyển được . Đó là đoàn kết dân tộc , đoàn kết toàn dân .
Tổng hợp các điều trên , Hồ Chí Minh làm nổi bật sức mạnh của con người
Việt Nam. Đó là sức mạnh của thể lực và trí tuệ ,sức mạnh của bề dày lịch sử và
hiện tại, sức mạnh của sự thông minh và lòng dũng cảm . Đó là sức mạnh dân tộc.
2. Hồ Chí Minh nhận thức về sức mạnh của thời đại
Thời đại ngày nay là thời đại quá độ lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế
giới, mở đầu là chiến thắng của cách mạng tháng Mười Ngai vĩ đại . Hồ Chí Minh
nhận thức về sức mạnh thời đại và tính tất yếu của việc kết hợp sức mạnh dân tộc
với sức mạnh thời đại . Nhận thức của Hồ Chí Minh về sức mạnh thời đại được hình
thành từng bước từ cảm tính đến lý tính với mục tiêu giải phóng dân tộc, phát triển
đất nước trong dòng thác chung của thời đại. Sức mạnh thời đại thể hiện ở những
điều sau:
• Sức mạnh của nhân dân các nước thuộc địa trong phong trào đấu tranh giải phóng
dân tộc , sức mạnh này được nhân lên nhiều lần vì nó gắn liền với cuộc cách mạng
vô sản trên toàn thế giới trong thời đại mới.
• Sức mạnh của giai cấp vô sản và cách mạng vô sản . Hồ Chí Minh “muốn cứu nước
và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác ngoài con đường cách mạng vô
sản”.
• Lý luận và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin.
• Kinh nghiệm của cách mạng tháng Mười Nga.
• Sự phát triển của lực lượng sản xuất , của cách mạng khoa học kĩ thuật -một động
lực phát triển xã hội .
3. Tính tất yếu của việc kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại
-Về mặt lý luận
Lịch sử phát triển của nhân loại chỉ ra rằng, trong quá trình phát triển của
trong hiện thực sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân thế giới: đấu tranh xóa bỏ
chủ nghĩa tư bản, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.
Hồ Chí Minh xác định con đường cứu nước đúng đắn để giải phóng dân tộc
đã phát huy lòng yêu nước truyền thống và nâng thành lòng yêu nước xã hội chủ
nghĩa. Tinh thần, ý chí độc lập, tự chủ, tự cường và lòng yêu nước phát huy được
sức mạnh to lớn, tạo nên truyền thống đoàn kết dân tộc, đoàn kết toàn dân. Hồ Chí
Minh đã làm nổi bật sức mạnh của con người Việt Nam, đó là sức mạnh thể lực và
trí tuệ, sức mạnh của bề dày lịch sử và trong cuộc đấu tranh hiện tại, sức mạnh của
10
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc;
kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại
sự thông minh và dũng cảm, của lòng tin chân chính không gì lay chuyển. Sức
mạnh ấy bền vững và được nhân lên nhiều lần dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản
Việt Nam.
Thời đại của chúng ta mở đầu bằng Cách mạng tháng Mười Nga 1917. Cuộc
cách mạng này đã mở ra con đường giải phóng cho các dân tộc và cả loài người, mở
đầu thời đại mới trong lịch sử. Theo Hồ Chí Minh sức mạnh thời đại là sức mạnh
của giai cấp vô sản thế giới, của nhân dân lao động thế giới. Trong quá trình nhận
thức và vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác-lênin vào hoàn cảnh cụ thể của Vịêt
Nam, Hồ Chí Minh nhận thấy phải dựa vào sức mạnh của dân tộc là chủ yếu, đồng
thời phải khai thác sức mạnh của thời đại. Những nội dung, nguyên tắc về kết hợp
sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại là một bộ phận quan trọng của tư tưởng Hồ
Chí Minh.
-Kết hợp chặt chẽ chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế yêu nước
“Bốn phương vô sản đều là anh em” - đó là nhận định của Chủ tịch Hồ Chí
Minh về tinh thần quốc tế vô sản. Tinh thần này bao gồm tinh thần đoàn kết của
nhân dân Việt Nam với các dân tộc bị áp bức, với nhân dân lao động các nước, với
những người tiến bộ trên thế giới vì hòa bình, công lý và tiến bộ xã hội. Tinh thần
này đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh dày công vun đắp bằng các hoạt động cách
mạng thực tiễn của bản thân và bằng sự nghiệp cách mạng của cả dân tộc.
nhuần nhuyễn giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp, chủ nghĩa yêu nước với chủ
nghĩa quốc tế trong sáng, độc lập dân tộc cho mình đồng thời độc lập cho tất cả các
dân tộc.
-Dựa vào sức mình là chính, tranh thủ sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ
nghĩa, sự ủng hộ của nhân loại, đồng thời không quên nghĩa vụ quốc tế cao cả
của mình
Trong mối quan hệ giữa sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, Hồ Chí Minh
coi nguồn lực bên trong giữ vai trò quyết định, nguồn lực bên ngoài là quan trọng,
nó chỉ phát huy sức mạnh thông qua nguồn lực bên trong. Người nêu cao khẩu
hiệu “tự lực cánh sinh, dựa vào sức mạnh là chính”; “muốn người ta giúp cho thì
trước hết mình phải tự giúp lấy mình”; “Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ
ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập”.Muốn tranh thủ
12
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc;
kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại
sức mạnh của thời đại phải có đường lối đúng đắn, phát huy độc lập tự chủ, kết hợp
chặt chẽ mục tiêu đấu tranh cho độc lập, thống nhất của dân tộc mình với mục tiêu
của thời đại: hòa bình độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội.
Trên dọc hành trình tìm lại độc lập, tự do cho Tổ quốc, hạnh phúc, ấm no cho
đồng bào, dù ở nơi đâu và trong bất cứ hoàn cảnh nào, Hồ Chí Minh cũng luôn
tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ về mọi mặt của nhân dân thế giới cho cuộc đấu tranh
giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam. Chính sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn cả về
vật vất lẫn tinh thần của bè bạn quốc tế là một nhân tố đặc biệt quan trọng góp phần
làm nên những thắng lợi vĩ đại của dân tộc ta trong thế kỷ XX. Hồ Chí Minh đã
thực hiện nhất quán đường lối độc lập tự chủ, vì vậy mà đã tranh thủ được sự giúp
đỡ của cả Liên Xô và Trung Quốc, khi hai nước có bất đồng sâu sắc, góp phần vào
sự hàn gắn sự rạn nứt trong phong trào cộng sản quốc tế. Kết hợp chủ nghĩa yêu
nước với chủ nghĩa quốc tế trong tư tưởng Hồ Chí Minh còn là tích cực thực hiện
nghĩa vụ quốc tế cao cả của mình, “Phải coi cuộc đấu tranh của bạn cũng như cuộc
đấu tranh của ta , giúp bạn là tự giúp mình”.
châu Á, Người khẳng định: “…thái độ nước Việt Nam đối với những nước Á châu
là một thái độ anh em…”. Xuất phát từ tư tưởng đó, tháng 1 năm 1947, Hồ Chí
Minh đã gửi điện cho các vị lãnh đạo châu Á, kêu gọi họ ủng hộ và giúp đỡ cuộc
kháng chiến của nhân dân Việt Nam, Người viết: “Các anh em châu Á hãy giúp
anh em Việt Nam trong cuộc đấu tranh cho độc lập và thống nhất”. Tại hội nghị
Liên Á và ở nhiều hội nghị khác, các nước trong khu vực đã bày tỏ tình cảm nồng
nhiệt đối với Việt Nam. Đặc biệt, thanh niên và nhân dân Ấn Độ, Miến Điện đã có
phong trào rầm rộ quyên góp tiền, thuốc men và đồ dùng y tế ủng hộ Việt Nam,
thậm chí họ còn xin tình nguyện sang Việt Nam chiến đấu vì tình đoàn kết quốc tế.
Là những người đồng chí, người bạn thân thiết của nhân dân Trung Quốc, sau
khi Trung Quốc giành lại sự thống nhất đất nước, ngày 15 tháng 1 năm 1950, Chính
phủ Việt Nam dân cộng hòa đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã công nhận Chính
phủ Cộng hòa nhân dân Trung hoa và tỏ ý sẵn sàng thiết lập đặt quan hệ ngoại giao
và trao đổi đại sứ. Đáp lại tình cảm của Chính phủ và nhân dân Việt Nam, ngày 18
tháng 1 năm 1950, Trung Quốc là nước đầu tiên trên thế giới thiết lập quan hệ ngoại
giao ở cấp đại sứ với Việt Nam. Cũng trong năm này, Liên Xô và các nước dân chủ
khác như Triều Tiên, Tiệp Khắc, Cộng hòa Dân chủ Đức, Rumani, Ba Lan,
14
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc;
kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại
Hunggari, Bunggari, Anbani và Mông Cổ lần lượt công nhận và đặt quan hệ ngoại
giao với nước ta. Thắng lợi ngoại giao trên đây đã nâng cao uy tín của nước ta trên
trường quốc tế, phá thế bao vây của bọn đế quốc đối với nước ta. Đánh giá vấn đề
này, Hồ Chí Minh khẳng định: “Mấy năm kháng chiến đã đưa lại cho nước ta một
cuộc thắng lợi to nhất trong lịch sử Việt Nam, tức là hai nước lớn nhất thế giới Liên
Xô và Trung Quốc dân chủ, và các nước dân chủ mới đã thừa nhận nước Việt Nam
dân chủ cộng hòa là một nước ngang bằng trong đại gia đình dân chủ thế giới.
Nghĩa là ta đã đứng hẳn về phe dân chủ và nhập vào khối 800 triệu nhân dân
chống đế quốc. Chắc rằng cuộc thắng lợi chính trị ấy sẽ là cái đà cho những thắng
lợi quân sự sau này”.
Kông, lại có nhiều điểm tương đồng về địa lý, lịch sử, văn hóa, kinh tế, chính trị, xã
hội, đặc biệt là cùng có chung một kẻ thù xâm lược nên Hồ Chí Minh đặc biệt coi
trọng tình đoàn kết chiến đấu giữa ba dân tộc. Hồ Chí Minh khẳng định trong Diễn
văn khai mạc Đại hội Đảng III Đảng Lao động Việt Nam tháng 9 năm 1960: “Trong
cuộc đấu tranh ở Đông Dương, nhân dân Việt Nam ta kiên quyết ủng hộ cuộc đấu
tranh anh dũng của nhân dân Lào hiện nay nhằm chống đế quốc Mỹ, đưa nước Lào
lên con đường hòa hợp dân tộc, độc lập thống nhất và hòa bình trung lập. Chúng ta
thành tâm mong rằng quan hệ hữu nghị giữa nước ta và các nước láng giềng, trước
16
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc;
kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại
hết là Campuchia và Lào được xây dựng và phát triển tốt”. Tỏ lòng biết ơn sâu sắc
sự ủng hộ, giúp đỡ của nhân dân Việt Nam, trong khả năng của mình, nhân dân Lào
và Campuchia cũng luôn làm hết sức mình ủng hộ cuộc kháng chiến của nhân dân
Việt Nam. Khi con đường Trường Sơn- đường Hồ Chí Minh bị đế quốc Mỹ đánh
phá, cô lập ở phía Đông, Đảng, Nhà nước Lào đã đồng ý cho Việt Nam lật cánh
sang phía Tây chạy trên đất Lào. Nhờ sự ủng hộ chí tình, chí nghĩa của nhân dân
Lào và nhân dân Campuchia, đường Trường Sơn đã nhanh chóng vươn dài tới các
chiến trường, cung cấp nhân tài, vật lực cho miền Nam đánh Mỹ, góp phần vào
thắng lợi chung của cách mạng Việt Nam.
-Mở rộng tối đa quan hệ hữu nghị, hợp tác, sẵn sàng “làm bạn với tất cả
các nước dân chủ”
Nói đến tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết các dân tộc, sẽ khiếm khuyết nếu
chúng ta chỉ đề cập đến đoàn kết trong khái niệm dân tộc - tộc người (ethnic) trong
phạm vi nội bộ quốc gia mà không đề cập đến tư tưởng của người là đoàn kết dân
tộc - quốc gia (nation) với các quốc gia khác trên thế giới và với các Việt kiều,
những người có dòng máu Việt Nam nhưng do hoàn cảnh cụ thể nên sinh sống ở
nước ngoài, mang quốc tịch của một nước cụ thể trên thế giới.
Đoàn kết dân tộc trên tầm quốc tế của Hồ Chí Minh được người xuất phát từ
luận điểm coi cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới. Người ý
những khía cạnh sau:
• Đoàn kết với các quốc gia, dân tộc láng giềng:
Người Việt Nam ta có câu “bán anh em xa mua láng giềng gần”, đó là một thái độ
sống, một triết lý nhân văn trong văn hoá ứng xử có truyền thống lâu đời của dân
tộc. Hồ Chí Minh trên bình diện văn hoá và tầm nhìn chính trị đã ý thức sâu sắc và
thực hiện có hiệu quả tốt truyền thống đó trong đặt nền móng và xây dựng mối
quan hệ hữu nghị, đoàn kết đặc biệt với nhân dân Lào, Campuchia, Trung Quốc,
tạo nên thế trận đặc biệt và làm nên hiệu quả cao trong kháng chiến chống thực dân
Pháp và đế quốc Mỹ của nhân dân ta.
Thương nhau mấy núi cũng trèo,
18
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc;
kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại
Mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua.
Việt – Lào hai nước chúng ta,
Tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long.
(Chủ tịch Hồ Chí Minh với các chính khách quốc tế – NXB Thông tấn, 2006).
• Đoàn kết với các quốc gia Đông Nam Á, châu Á:
Đối với các quốc gia khu vực Đông Nam Á, Hồ Chí Minh luôn luôn quý
trọng tinh thần đoàn kết, giúp đỡ nhân dân ta trong kháng chiến chống ngoại xâm,
bày tỏ tình hữu nghị và biết ơn sâu sắc, chân thành. Chính vì lẽ đó mà các nước
Đông Nam Á luôn bên cạnh nhân dân và chính phủ Hồ Chí Minh trong cuộc kháng
chiến chống Pháp cũng như chống Mỹ, tạo nên hậu thuẫn, sức mạnh tinh thần và
vật chất quan trọng góp phần làm nên thắng lợi chống ngoại xâm của dân tộc ta.
Hình 3. Hồ Chí Minh và tổng thống Xu-các-nô với các thiếu nhi Inđônêxia
ngày 2.3.1959
Người phát biểu: “Hoà bình trở lại Việt Nam, chúng tôi sẽ thắt chặt tình hữu
nghị giữa hai dân tộc Việt - Pháp, chúng tôi sẽ đoàn kết chặt chẽ với hai nước
Khơme, Lào và các nước Đông - Nam Á để góp phần vào sự nghiệp giữ gìn hoà
bình châu Á và hoà bình thế giới”.
nhiều mặt với các nước, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế-xã hội.
20
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc;
kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại
Trong đoàn kết hợp tác quốc tế luôn chú trọng lợi ích của nhau. Chủ tịch Hồ
Chí Minh chỉ rõ: “Mình đã hưởng cái hay của người thì phải có cái hay cho người
ta hưởng. Mình đừng chịu vay mà không trả”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nêu ra ý tưởng hợp tác cùng có lợi với tất cả
các nước.Ngay những năm đầu khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mới ra đời,
Người đã khẳng định Việt Nam mong muốn thực thi chính sách mở cửa và hợp tác
trong mọi lĩnh vực, đón nhận đầu tư nước ngoài; mở rộng các cảng, sân bay và
đường sá giao thông cho buôn bán và quá cảnh quốc tế; chấp nhận tham gia mọi tổ
chức hợp tác kinh tế quốc tế; hoan nghênh đầu tư nước ngoài để xây dựng lại Việt
Nam và để tham gia “điều hòa kinh tế thế giới”.
Kế thừa và phát huy tư tưởng đoàn kết quốc tế của Chủ tịch Hồ Chí Minh,
trong thời kỳ mới của cách mạng, Đảng và Nhà nước ta tiếp tục tăng cường tình
đoàn kết quốc tế, quan hệ hợp tác cùng có lợi, chủ động, tích cực hội nhập, thực
hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, mở rộng đa phương hóa đa dạng
hóa các quan hệ quốc tế. Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước
trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và thế
giới.
• Đoàn kết với kiều bào:
Sinh thời Bác Hồ luôn dành cho kiều bào sự quan tâm đặc biệt. Đặc biệt vì,
kiều bào - những người con yêu của dân tộc đang phải sống xa quê hương, đất
nước đều là con Hồng cháu Lạc, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt.
Đặc biệt vì, dù xa cách bao lâu, dù ở đâu, làm gì, dù khó khăn, gian khổ đến đâu
kiều bào vẫn luôn luôn hướng về Tổ quốc, mong được trở về, góp phần tham gia
xây dựng đất nước. Chính vì đặc biệt nên sự quan tâm của Bác Hồ đối với kiều bào
đã đặt cơ sở cho việc hình thành chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta
đối với kiều bào nửa thế kỷ qua.
cường quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa nước ta với các nước; đồng thời, mong
muốn, khuyến khích người Việt Nam ở nước ngoài nêu cao tinh thần tự trọng và tự
hào dân tộc, giữ gìn bản sắc văn hoá và truyền thống dân tộc Việt Nam, đoàn kết
thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau, giữ mối quan hệ gắn bó với gia đình và quê hương,
góp phần xây dựng đất nước
22
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc;
kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại
Như vậy, từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa quốc tế, từ niềm tin vào sức
mạnh của dân tộc đi đến nhận thức đầy đủ về sức mạnh của thời đại, kết hợp sức
mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, Hồ Chí Minh không chỉ là lãnh tụ vĩ đại của
nhân dân Việt Nam mà còn là chiến sĩ lỗi lạc trong phong trào cộng sản quốc tế,
lãnh tụ của phong trào giải phóng dân tộc và danh nhân văn hóa thế giới.
Theo độ lùi của thời gian, nhiều thứ có thể bị phai mờ, nhưng tư tưởng đoàn
kết quốc tế, đặc biệt là chiến lược tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của nhân dân thế
giới cho cách mạng Việt Nam của Hồ Chí Minh vẫn nguyên giá trị, mang tính lý
luận và thực tiễn sâu sắc. Quán triệt và thực hiện tư tưởng của Người, những năm
qua, Đảng, Nhà nước ta luôn tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của bè bạn quốc tế cho
công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa và đã đạt được
nhiều kết quả quan trọng. Hiện nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với
gần 170 nước, là thành viên của hàng trăm tổ chức quốc tế, có quan hệ thương mại
với hơn 220 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới… Thành tựu đó là kết quả của
việc thực hiện chiến lược đoàn kết quốc tế theo tư tưởng Hồ Chí Minh mà Đảng,
Nhà nước và nhân dân ta đã thực hiện.
III. Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức
mạnh thời đại trong bối cảnh hiện nay
1. Đặt cách mạng Việt Nam, cách mạng mỗi nước trong tiến trình chung
của cách mạng thế giới
Trong thế giới hiện đại ngày nay, mỗi quốc gia độc lập là một nhân tố , một
thành viên của cộng đồng quốc tế.Giữa bộ phận với toàn bộ có mối quan hệ biên
Anh em phải làm thế nào để được giải phóng? Vận dụng công thức của Các Mác,
chúng tôi xin nói với anh em rằng, công cuộc giải phóng anh em chỉ có thể thực
hiện được bằng sự nổ lực của bản thân anh em”. Vận dụng quan điểm của Mác, Hồ
Chí Minh khẳng định phải “ đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”, vì vậy trong
công cuộc giành độc lập thì yếu tố tự lực cánh sinh luôn được Hồ Chí Minh đề cập
tới. Sự giúp của bên ngoài là quan trọng nhưng “ muốn người giúp ta thì trước hết
ta phải tự giúp mình đã”. Theo Hồ Chí Minh, ta phải có thế có lực thì bên ngoài
giúp đỡ và mới sử dụng sự giúp đỡ một cách có hiệu quả. Hồ Chí Minh đã chỉ ra
toàn cầu chỉ chú ý đến chúng ta khi chúng ta mạnh. Chúng ta lo tìm kiếm bạn bè
24
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc;
kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại
nhưng trước hết phải lo tổ chức lượng lực của mình đã. Người kết luận:” Phải
trông ở thực lực. Thực lực mạnh, ngoại giao sẽ thắng lợi. Thực lực là cái chiêng và
ngoại giao là cái tiếng. Chiêng có to thì tiếng mới lớn”.
3. Đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại
Trong hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh luôn đòi hỏi phải có tình
người, tình bác ái. Từ cách tiếp cận khác, Hồ Chí Minh cho rằng: Dù màu da có
khác nhau, trên đời chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị
bóc lột. Trên quả đất có muôn ngàn triệu người thì có thể chia vào hai hạng người:
người thiện và người ác. Đây chính là cơ sở để Hồ Chí Minh đề ra chủ trương xây
dựng tình hữu nghị đoàn kết, hợp tác giữa các dân tộc. Vận dụng tư tưởng của
Người, trong bối cảnh hiện nay là xu thế hợp tác quốc tế đang chiếm thế thượng
phong so với xu thế khác, Đảng ta đã đưa ra khẩu hiệu ngoại giao là:” Việt Nam
muốn làm bạn với tất cả các nước trên thế giới” , đây chính là điểm sáng tạo của
Đảng cho phù hợp với nhu cầu cũng như xu thế hiện nay. Hiện nay chúng ta không
chỉ hợp tác với các nước dân chủ như thời kỳ trước mà mở rộng quan hệ với tất cả
các nước trên nhưng nguyên tắc đã được quy định sẵn như : tôn trọng chủ quyền lẫn
nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau hay hợp tác trên cơ sở hai bên
cùng có lợi…