tiểu luận tư tưởng hồ chí minh về nhà nước của dân, do dân và vì dân - Pdf 15

Tiểu luận
Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước
của dân, do dân và vì dân
MỤC LỤC
Tiểu luận 1
Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước của dân, do dân và vì dân 1
MỤC LỤC 2
Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước của dân, do dân và vì dân 3
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC CỦA DÂN, DO DÂN,
VÌ DÂN 8
Xây dựng Nhà nước thể hiện quyền làm chủ của nhân dân lao động 8
Nhà nước của dân 9
Nhà nước do dân 10
Nhà nước vì dân 10
Tư tưởng Hồ Chí Minh về sự thống nhất giữa bản chất giai cấp công nhân với tính
nhân dân và tính dân tộc của Nhà nước 11
Bản chất giai cấp công nhân của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 11
Bản chất giai cấp công nhân thống nhất với tính nhân dân, tính dân tộc 12
Tư tưởng Hồ Chí Minh về một Nhà nước có hiệu lực pháp lý mạnh mẽ 13
Xây dựng một Nhà nước hợp hiến 13
Quản lý nhà nước bằng pháp luật và chú trọng đưa pháp luật vào trong cuộc sống
13
Tích cực xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức của Nhà nước đủ đức và tài 14
Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước trong sạch vững mạnh, hoạt động có
hiệu quả 15
Đề phòng và khắc phục những tiêu cực trong hoạt động của Nhà nước 15
Tăng cường pháp luật đi đôi với đẩy mạnh giáo dục đạo đức cách mạng 17
Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước 20
Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước của dân, do dân và vì
dân
Thứ tư, 22 Tháng 8 2007 08:03

tiên lượng: "Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút, có dịp "dĩ
công vi tư". Thực chất những căn bệnh đó là vi phạm quyền làm chủ của nhân dân lao động, là độc tố phản
văn hoá đi ngược lại bản chất nhà nước của dân, do dân và vì dân. Ngoài việc giáo dục nâng cao phẩm
chất đạo đức cách mạng, "Pháp luật phải thẳng tay trừng trị những kẻ bất liêm, bất kỳ kẻ ấy ở địa vị nào,
làm nghề nghiệp gì" (*), còn phải là công việc thường xuyên, liên tục và được đông đảo quần chúng nhân
dân cùng tham gia kiểm soát, giám sát mọi hoạt động của bộ máy nhà nước để phòng tránh tha hóa quyền
lực và chống giặc "nội xâm" đó có hiệu quả.
Để Nhà nước ta luôn trong sạch vững mạnh, điều không thể thiếu mà Bác Hồ luôn đặc biệt quan tâm xây
dựng, giáo dục đội ngũ cán bộ, đảng viên phải luôn là những "công bộc" của nhân dân, toàn tâm toàn ý
phục vụ nhân dân; "việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh". Bởi
xét tới cùng cán bộ luôn là cái gốc của mọi công việc. Do đó, việc lựa chọn, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng
cán bộ, đặc biệt biết sử dụng nhân tài "vừa hồng vừa chuyên" là một khâu quan trọng để hoàn thiện bộ máy
nhà nước, nhất là trong giai đoạn chúng ta đang xây dựng Nhà nước Pháp quyền XHCN. Đảng phải có cơ
chế, chính sách để sớm phát hiện và bồi dưỡng các tài năng giới thiệu vào các cơ quan nhà nước Người
yêu cầu : "Làm cán bộ tức là suốt đời làm đày tớ trung thành của nhân dân. Mấy chữ a, b, c này không phải
ai cũng thuộc đâu, phải học mãi, học suốt đời mới được".
Mặc dù Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi xa nhưng những tư tưởng của Người về xây dựng Nhà nước của dân,
do dân và vì dân vẫn còn nguyên giá trị. Giá trị trường tồn của những luận điểm đó không chỉ soi sáng mà
còn là sự tiếp sức để quyết tâm chính trị của Đảng và Nhà nước ta vững tin trong tiến trình xây dựng Nhà
nước Pháp quyền XHCN - một bộ máy quản lý gọn nhẹ, năng động, "một Chính phủ chú trọng thực tế và sẽ
ra sức làm việc" đảm bảo quyền lực thuộc về nhân dân, nhằm thực hiện mục tiêu, dân giàu nước mạnh, xã
hội công bằng, dân chủ, văn minh.
______
(*) Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, H, 1995, tập 5, tr.641.
Xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân là tư tưởng và quan điểm nhất quán
của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta
Tác giả : Th.s Hồ Minh Đức - P.Hiệu trưởng
File đính kèm: Không có
Suốt cuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh mang trong mình hoài bão và chí hướng kiên định đấu
tranh để Tổ quốc được giải phóng, nhân dân được hạnh phúc. Từ lý tưởng cao cả đó mà người

minh công - nông - trí trong lịch sử đất nước.
Trong phiên họp đầu tiên (3/9/1945) của Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ
"trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế, nên nước ta không có Hiến pháp, nhân dân
ta không được hưởng quyền tự do dân chủ, chúng ta phải có một Hiến pháp dân chủ của dân,
do dân và vì dân". Quan điểm vì con người, do con người, vì nhân dân là mục tiêu, là động lực
của cách mạng là đích hướng tới trong quá trình xây dựng đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Khi
xây dựng Hiến pháp đầu tiên năm 1946 Người đã chỉ rõ" Bản Hiến pháp đó đã nêu một tinh
thần đoàn kết chặt chẽ giữa các dân tộc Việt Nam và một tinh thần liêm khiết, công bằng của
các giai cấp". Ngày nay, càng tìm hiểu về thân thế sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh chúng ta
càng tự hào về non sông, đất nước đã sinh ra Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người đã tiếp thu và phấn
đấu cả cuộc đời không mệt mỏi cho sự nghiệp đấu tranh để biến lý tưởng cách mạng thành hiện
thực cuộc sống, ở Người giữa lời nói và việc làm luôn thống nhất trong một chỉnh thể. Có thể nói
chính Người đã góp phần thiết lập một trật tự pháp lý mới xoá bỏ áp bức, bóc lột cho con người.
Người đã cống hiến cả cuộc đời mình cho sự nghiệp đấu tranh vì lý tưởng nhân văn cao cả nhất
cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, với quan điểm phát triển và đổi mới vì con người, vì nhân dân
lao động. Nhân dân yêu chuộng hoà bình và tiến bộ thế giới mãi mãi nhớ ơn Người. Hàng năm
đến ngày 19/5 khắp thế giới kỷ niệm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh - "Vị anh hùng giải
phóng dân tộc Việt Nam, nhà văn hoá lớn" theo Nghị quyết của tổ chức Unessco nhằm truyền bá
sự vĩ đại của những lý tưởng và sự đóng góp của Người đối với nhân loại.
Hiến pháp 1946 đã dành chương II gồm 18 điều nêu rõ: "Nghĩa vụ và quyền lợi của công
dân" là sự phản ánh mối quan hệ dân chủ giữa Nhà nước và công dân, thể hiện kỷ cương pháp
luật dân chủ của đất nước và xã hội. Đó là mối quan hệ đặc biệt giữa Nhà nước - công dân - xã
hội - là sự thể hiện đúng đắn quan hệ máu thịt về những lợi ích và trách nhiệm của công dân,
trách nhiệm của Nhà nước trên cơ sở nguyên tắc "quyền công dân không tách khỏi nghĩa vụ
công dân". Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, là thể hiện quan điểm nhất quán của
Đảng và Nhà nước ta trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đi lên Chủ nghĩa xã hội. Đó là
quá trình Hồ Chí Minh đã vận dụng chủ nghĩa Mác - Lê nin vào điều kiện và hoàn cảnh cụ thể
của nước ta để tiến hành cuộc cách mạng không ngừng: Từ cách mạng dân tộc, dân chủ đi lên
chủ nghĩa xã hội gắn liền với giải phóng con người. Điều 51 Hiến pháp 1992 quy định "Nhà nước
đảm bảo các quyền của công dân. Công dân phải làm tròn nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước

sáng tạo của chủ nghĩa Mác - Lê nin kết hợp chủ nghĩa yêu nước, truyền thống văn hoá Việt
Nam, tinh hoa văn hoá phương Đông và phương Tây.
Ngày nay, chúng ta đang trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đi lên chủ nghĩa xã hội
dựa trên sự phát triển ưu tiên của khoa học và pháp luật, lấy cái đúng làm chuẩn giá trị nhằm
đảm bảo cho sự ổn định để phát triển trong nền kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế. Vì vậy, việc
truyền truyền pháp luật phải gắn liền với giáo dục, hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc và xử lý vi
phạm pháp luật. Yêu cầu đó đòi hỏi các cơ sở phải xây dựng được các thiết chế để điều chỉnh
các quan hệ nhân bản giữa con người với con người trong mối quan hệ công việc để mọi người
được bình đẳng trước pháp luật, tôn trọng và bảo vệ pháp luật là điều kiện cho sự phát triển
chung của xã hội và mỗi người. Muốn vậy, cán bộ phải không ngừng nâng cao trình độ hiểu biết
mọi mặt, nắm chắc pháp luật, đặc biệt các luật liên quan để xử lý và giải quyết các vấn đề mau
lẹ và đúng đắn, là gương tốt cho mọi người noi theo, là cơ sở tốt nhất để thực hiện: "Sống làm
việc theo hiến pháp và pháp luật "./.
hủ đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp
quyền ở Việt Nam
Người gửi: Trần Anh Dũng™ |-| Lần đọc: 7844
Tên Thật: Trần Anh Dũng
Nơi ở hiện tại: Hà Nội
Trong yêu sách của nhân dân An Nam gửi Hội nghị quốc tế Vác Xây năm 1919, Hồ Chí Minh đã
đòi phải cải cách nền pháp lý ở Đông Dương, thay thế chế độ cai trị bằng sắc lệnh (hiện thân của
nhà nước không dân chủ) bằng chế độ cai trị theo luật, người bản xứ cũng có quyền hưởng
những đảm bảo về mặt pháp luật như người Âu, xoá bỏ hoàn toàn các toà án đặc biệt. Trong
bức thư 8 điểm gửi hội nghị Vác Xây năm 1919, Hồ Chí Minh đã thể hiện tử tưởng nhà nước
pháp quyền của mình trong câu thơ:
Bảy xin hiến pháp ban hành
Trăm điều phải có thần linh pháp quyền
Trong tuyên ngôn độc lập của nướ Việt Nam Dân Chủ cộng hoà năm 1945, Hồ Chí Minh đã trích
tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ năm 1976 “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng, tạo
hoá cho họ những quyền mà không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy có quyền
được sống, quyền được tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”

nhân dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật.
HCM còn làm rõ mối quan hệ giữa xã hội dân sự và xã hội chính trị (Tức nhà nước). Trong xã hội
dân sự thì con người là chính, còn nhà nước phải phục tùng và phục vụ xã hội dân sự. Nhà nước
không bao trùm toàn xã hội, nhà nước phải tạo ra khoản không gian rộng rãi cho sự phát triển
và khẳng định cá nhân. Nhà nước một mặt coi trọng cộng đồng, mặt khác rất coi trọng cá nhân.
Trong nhà nước pháp quyền của chúng ta chủ thể duy nhất của mọi quyền lực là nhân dân. Mọi
quyền lực mà nhà nước có được đều do nhân dân uỷ quyền.
Tóm lại, nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước kiểu mới – Nhà nước pháp
quyền Việt Nam của dân, do dân, vì dân là:
+ Nhà nước do nhân dân lập ra và thông qua tổng tuyển cử phổ thông đầu phiếu.
+ Quyền lực nhà nước bắt nguồn từ nhân dân là thống nhất nhưng có sự phân công, phân cấp,
và phối hợp chặt chẽ giữa các bộ phận ở tất cả các cấp.
+ Hệ thống chính quyền địa phương với tính độc lập của Hội đồng nhân dân trên cơ sở quản lý
của Chính phủ.
+ Một hệ thống tài chính mạnh mẽ, sáng suốt, và tập trung
+ Một nền tư pháp với nguyên tắc độc lập xét xử của Toà án.
+ Một cơ chế kiểm soát quyền lực có hiệu quả do nhân dân thực hiện.
+ Một nhà nước của khối đại đoàn kết toàn dân.
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG NHÀ
NƯỚC CỦA DÂN, DO DÂN, VÌ DÂN
Xây dựng Nhà nước thể hiện quyền làm chủ của nhân dân lao động
Trong quá trình đi tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh chú ý khảo cứu lựa chọn
ra một kiểu nhà nước mới cho Việt Nam để xây dựng sau khi cách mạng giải
phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản thành công. Nhà nước đó phải
đại biểu quyền lợi "cho số đông người" và Hồ Chí Minh đã chủ trương xây
dựng một Nhà nước công nông binh thể hiện trong Chánh cương vắn tắtcủa
Đảng khi thành lập Đảng đầu năm 1930. Trải qua thực tế các cao trào cách
mạng ở Việt Nam, về sau, Hồ Chí Minh chủ trương xây dựng ở Việt Nam một
nhà nước Dân chủ Cộng hòa, một nhà nước do nhân dân lao động làm chủ, nhà
nước của dân, do dân, vì dân. Trong bài báo Dân vận (năm 1949), Hồ Chí

lãnh đạo, những đại biểu của nhân dân làm đúng chức trách và vị thế của mình,
không phải là đứng trên nhân dân, coi khinh nhân dân, "cậy thế" với dân, "quên
rằng dân bầu mình ra là để làm việc cho dân". Một nhà nước như thế là một nhà
nước tiến bộ trong bước đường phát triển của nhân loại. Nhà nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa do Hồ Chí Minh khai sinh ngày 2-9-1945 chính là Nhà nước
tiến bộ chưa từng có trong lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc Việt Nam bởi vì
Nhà nước đó là nhà nước của dân, nhân dân có vai trò quyết định mọi công
việc của đất nước.
Nhà nước do dân
Nhà nước do dân lập nên, do dân ủng hộ, dân làm chủ. Chính vì vậy, Hồ Chí
Minh thường nhấn mạnh nhiệm vụ của những người cách mạng là phải làm cho
dân hiểu, làm cho dân giác ngộ để nâng cao được trách nhiệm làm chủ, nâng
cao được ý thức trách nhiệm chăm lo xây dựng nhà nước của mình. Hồ Chí
Minh khẳng định: việc nước là việc chung, mỗi người đều phải có trách nhiệm
"ghé vai gánh vác một phần". Quyền lợi, quyền hạn bao giờ cũng đi đôi với
trách nhiệm, nghĩa vụ.
Nhà nước vì dân
Nhà nước vì dân là một nhà nước lấy lợi ích chính đáng của nhân dân làm mục
tiêu, tất cả đều vì lợi ích của nhân dân, ngoài ra không có bất cứ một lợi ích nào
khác. Đó là một nhà nước trong sạch, không có bất kỳ một đặc quyền, đặc lợi
nào. Trên tinh thần đó Hồ Chí Minh nhấn mạnh: mọi đường lối, chính sách đều
chỉ nhằm đưa lại quyền lợi cho dân; việc gì có lợi cho dân dù nhỏ cũng cố gắng
làm, việc gì có hại cho dân dù nhỏ cũng cố gắng tránh. Dân là gốc của nước.
Hồ Chí Minh luôn luôn tâm niệm: phải làm cho dân có ăn, phải làm cho dân có
mặc, phải làm cho dân có chỗ ở, phải làm cho dân được học hành. Cả cuộc đời
Người "chỉ có một mục đích là phấn đấu cho quyền lợi Tổ quốc và hạnh phúc
của quốc dân". Hồ Chí Minh viết: "khi tôi phải ẩn nấp nơi núi non, hoặc ra vào
chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo - là vì mục đích đó. Đến lúc nhờ quốc dân
đoàn kết, tranh được chính quyền, ủy thác cho tôi gánh việc Chính phủ, tôi lo
lắng đêm ngày, nhẫn nhục cố gắng - cũng vì mục đích đó"1. Một Nhà nước vì

thể hiện tính chất nhân dân rộng rãi, Hồ Chí Minh vẫn nhấn mạnh nòng cốt của
nhân dân là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và trí thức
do giai cấp công nhân mà đội tiên phong của nó là Đảng Cộng sản Việt Nam
lãnh đạo.
- Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng phương thức thích hợp. Nói đến phương thức
lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước là nói đến cách lãnh đạo cho phù hợp với
từng thời kỳ. Trong thời kỳ Hồ Chí Minh làm Chủ tịch nước, đất nước ta phải
vừa tiến hành kháng chiến chống giặc ngoại xâm, giải phóng và bảo vệ Tổ
quốc, vừa lãnh đạo nhân dân xây dựng chế độ mới. Do đó, phương thức lãnh
đạo của Đảng đối với Nhà nước ta thời kỳ đó không giống với những thời kỳ
sau này. Song, trong tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn có những vấn đề cơ bản về
phương thức lãnh đạo của Đảng chung cho các thời kỳ. Đó là:
* Đảng lãnh đạo bằng đường lối, quan điểm, chủ trương để Nhà nước thể chế
hóa thành pháp luật, chính sách, kế hoạch.
* Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng hoạt động của các tổ chức đảng và đảng viên
của mình trong bộ máy, cơ quan nhà nước.
* Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng công tác kiểm tra.
Hai là, bản chất giai cấp của Nhà nước ta thể hiện ở tính định hướng xã hội
chủnghĩa của sự phát triển của đất nước. Điều này đã được thể hiện ngay từ
khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mới ra đời ngày 2-9-1945 trong bản
Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh.
Ba là, bản chất giai cấp công nhân của Nhà nước ta thể hiện ở nguyên tắc tổ
chức và hoạt động cơ bản của nó là nguyên tắc tập trung dân chủ. Hồ Chí
Minh rất chú ý đến tính dân chủ trong tổ chức và hoạt động của tất cả bộ máy,
cơ quan nhà nước, nhấn mạnh đến việc phát huy cao độ dân chủ, đồng thời phát
huy cao độ tập trung. Nhà nước phải tập trung thống nhất quyền lực để tất cả
mọi quyền lực vào tay nhân dân.
Bản chất giai cấp công nhân thống nhất với tính nhân dân, tính dân tộc
Hồ Chí Minh là người giải quyết rất thành công mối quan hệ giữa các vấn đề
giai cấp - dân tộc trong xây dựng Nhà nước Việt Nam mới. Hồ Chí Minh đã

khi trở thành người đứng đầu Nhà nước Việt Nam mới, Hồ Chí Minh càng
quan tâm sâu sắc hơn việc xây dựng và điều hành nhà nước một cách có hiệu
quả bằng pháp quyền. Một nhà nước có hiệu lực pháp lý mạnh mẽ được Hồ Chí
Minh chú ý xây dựng thể hiện trên những điểm sau đây:
Xây dựng một Nhà nước hợp hiến
Chỉ một ngày sau khi đọc bản Tuyên ngôn độc lập, trong phiên họp đầu tiên
của Chính phủ lâm thời, Hồ Chí Minh đã đề nghị tổ chức tổng tuyển cử càng
sớm càng tốt để lập Quốc hội rồi từ đó lập ra Chính phủ và các cơ quan, bộ
máy chính thức khác của Nhà nước mới.
Cuộc Tổng tuyển cử được tiến hành thắng lợi ngày 6-1-1946 với chế độ phổ
thông đầu phiếu và lần đầu tiên trong lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc Việt
Nam cũng như lần đầu tiên ở Đông Nam châu Á, tất cả mọi người dân từ 18
tuổi trở lên, không phân biệt nam nữ, giàu nghèo, dân tộc, đảng phái, tôn giáo
đều đi bỏ phiếu bầu những đại biểu của mình vào trong Quốc hội. Ngày 2 - 3 -
1946, Quốc hội Khóa I đã họp Phiên đầu tiên lập ra các tổ chức, bộ máy và các
chức vụ chính thức của Nhà nước. Hồ Chí Minh được bầu làm Chủ tịch Chính
phủ liên hiệp đầu tiên. Đây chính là Chính phủ có đầy đủ giá trị pháp lý để giải
quyết một cách có hiệu quả những vấn đề đối nội và đối ngoại ở nước ta.
Quản lý nhà nước bằng pháp luật và chú trọng đưa pháp luật vào trong cuộc
sống
Quản lý nhà nước là quản lý bằng bộ máy và bằng nhiều biện pháp khác nhau
nhưng quan trọng nhất là quản lý bằng hệ thống luật, trong đó quan trọng bậc
nhất là Hiến pháp - đạo luật cơ bản của nước nhà. Các bản Hiến pháp năm 1946
và Hiến pháp năm 1959 đã để lại dấu ấn đậm nét những quan điểm của Hồ Chí
Minh về bản chất, thiết chế và hoạt động của Nhà nước mới. Từ năm 1919, Hồ
Chí Minh đã đề cập vấn đề "thần linh pháp quyền" trong đời sống xã hội hiện
đại. Có Hiến pháp và pháp luật nhưng không đưa được vào trong cuộc sống thì
xã hội cũng sẽ bị rối loạn. Dân chủ đích thực bao giờ cũng đi liền với kỷ cương,
phép nước, tức là đi liền với thực thi Hiến pháp và pháp luật. Suốt cả thời kỳ
giữ trọng trách Chủ tịch nước, Hồ Chí Minh luôn luôn chăm lo xây dựng một

biết công việc của mình, biết quản lý Nhà nước, do vậy, phải được đào tạo và
tự mình phải luôn luôn học hỏi. Hồ Chí Minh là người mạnh dạn sử dụng
những công chức của chế độ cũ phục vụ cho chính quyền cách mạng và nhiều
người trong số họ đã trở thành những người có công lớn đối với chế độ mới,
đồng thời Người chú trọng đào tạo, bồi dưỡng những cán bộ, công chức mới.
Hồ Chí Minh đã ký nhiều sắc lệnh về công chức, trong đó có những quy định
cụ thể về tiêu chuẩn cán bộ tư pháp. Ngay trong thời kỳ chống thực dân Pháp
xâm lược, Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 76 ban hành Quy chế công chức nêu
rõ công chức là người giữ một nhiệm vụ cụ thể trong bộ máy nhà nước dưới sự
lãnh đạo tối cao của Chính phủ. Sắc lệnh cũng nêu lên cách thức và nội dung
thi tuyển để bổ nhiệm vào các ngạch, bậc hành chính trong bộ máy chính
quyền.
Ba là: Phải có mối liên hệ mật thiết với nhân dân. Hồ Chí Minh luôn luôn chủ
trương xây dựng mối quan hệ bền chặt giữa đội ngũ cán bộ, công chức với
nhân dân. Đội ngũ cán bộ, công chức là những người ăn lương từ nguồn ngân
sách của Nhà nước mà nguồn ngân sách này do dân đóng góp. Chính vì vậy,
Hồ Chí Minh nhắc nhở mọi cán bộ, công chức không được lãng phí của công;
phải sẵn sàng phục vụ nhân dân, luôn luôn nêu cao đạo đức cách mạng, sẵn
sàng hy sinh quyền lợi cá nhân mình cho Tổ quốc, lấy phục vụ cho quyền lợi
chính đáng của nhân dân làm mục tiêu cho hoạt động của mình. Đặc biệt, phải
chống bệnh tham ô, lãng phí, quan liêu, phải luôn luôn gần dân, hiểu dân và vì
dân. Cán bộ, công chức xa dân, quan liêu, hách dịch, cửa quyền đối với nhân
dân đều dẫn đến nguy cơ làm suy yếu Nhà nước, thậm chí làm biến chất Nhà
nước ta.
Bốn là: Cán bộ, công chức phải là những người dám phụ trách, dám quyết
đoán, dám chịu trách nhiệm, nhất là trong những tình huống khó khăn, "thắng
không kiêu,bại không nản". Đó là những người có ý thức sẵn sàng làm "công
bộc", làm "đày tớ" cho dân, những người cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô
tư, làm việc với tinh thần đầy sáng tạo. Hồ Chí Minh đòi hỏi cán bộ, công chức
phải luôn luôn tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, luôn luôn "có chí tiến

"giặc nội xâm", "giặc ở trong lòng", thứ giặc nguy hiểm hơn giặc ngoại xâm.
Người phê bình những người "lấy của công dùng vào việc tư, quên cả thanh
liêm, đạo đức". Quan điểm của Hồ Chí Minh là: "Tham ô, lãng phí và bệnh
quan liêu, dù cố ý hay không, cũng là bạnđồng minh của thực dân và phong
kiến Tội lỗi ấy cũng nặng như tội lỗi Việt gian, mật thám"4. Ngày 27-11-
1946, Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh ấn định hình phạt tội đưa và nhận hối lộ với
mức từ 5 năm đến 20 năm tù khổ sai và phải nộp phạt gấp đôi số tiền nhận hối
lộ. Ngày 26-1-1946, Hồ Chí Minh ký lệnh nói rõ tội tham ô, trộm cắp của công
là tội tử hình. Lãng phí là một căn bệnh mà Hồ Chí Minh lên án gay gắt và
chính bản thân Người là tấm gương sáng trong việc tích cực thực hành chống
lãng phí trong cuộc sống hàng ngày và trong công việc, vì Người biết quý từng
đồng xu, bát gạo do dân đóng góp cho hoạt động của bộ máy nhà nước. Lãng
phí ở đây được Hồ Chí Minh xác định là lãng phí sức lao động, lãng phí thời
giờ, lãng phí tiền của. Liên quan đến bệnh tham ô, bệnh lãng phí là bệnh quan
liêu, một căn bệnh không những có ở cấp Trung ương, ở cấp tỉnh, ở cấp huyện
mà còn có ở cả cấp cơ sở. Hồ Chí Minh phê bình những người và các cơ quan
lãnh đạo từ cấp trên đến cấp dưới không sát công việc thực tế, không theo dõi
và giáo dục cán bộ, không gần gũi quần chúng. Đối với công việc thì trọng hình
thức mà không xem xét khắp mọi mặt, không vào sâu vấn đề. Chỉ biết khai hội,
viết chỉ thị, xem báo cáo trên giấy, chứ không kiểmtra đến nơi đến chốn thành
thử có mắt mà không thấy suốt, có tai mà không nghe thấu, có chế độ mà không
giữ đúng, có kỷ luật mà không nắm vững Thế là bệnhquan liêu đã ấp ủ, dung
túng, che chở cho nạn tham ô, lãng phí. Vì vậy, muốn trừ sạch nạn tham ô, lãng
phí thì trước mắt phải tẩy sạch bệnh quan liêu.
- "Tư túng", "chia rẽ", "kiêu ngạo". Những hành động này gây mất đoàn kết,
gây rối cho công tác. Hồ Chí Minh kịch liệt lên án tệ kéo bè, kéo cánh, bà con
bạn hữu mình, không tài năng gì cũng kéo vào chức này chức nọ. Người có tài
có đức, nhưng không vừa lòng mình thì đẩy ra ngoài. Quên rằng việc là việc
công, chứ không phải việc riêng gì dòng họ của ai. Trong chính quyền, còn chia
rẽ, không biết cách làm cho mọi người hòa thuận với nhau, còn có người "bênh

Trong Nhà nước và cách mạng, V.I.Lênin coi nhà nước là một trong những vấn đề phức tạp nhất,
khó khăn nhất, nhưng lại là vấn đề rất cơ bản và rất mấu chốt trong toàn bộ chính trị mà giai cấp
vô sản không thể không giải quyết trong cuộc đấu tranh cách mạng nhằm thiết lập một chế độ xã
hội mới về chất. Tiếp thu và vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về nhà nước;
đồng thời, kế thừa và phát huy những giá trị nhân loại và truyền thống dân tộc về vấn đề này, Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra những tư tưởng sâu sắc về xây dựng nhà nước kiểu mới - Nhà nước pháp
quyền của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Do vậy, có thể nói, việc trở lại nghiên cứu, làm rõ
những giá trị lý luận và thực tiễn trong tư tưởng của Người về nhà nước là hết sức cần thiết, nhất là
trong bối cảnh Đảng và nhân dân ta đang đẩy mạnh việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa, coi đó là một nội dung trọng tâm của quá trình đổi mới hệ thống chính trị ở
Việt Nam hiện nay.
Chúng ta đều biết, sau khi xâm lược nước ta, thực dân Pháp đã duy trì bộ máy nhà nước phong kiến
từ trung ương đến các làng xã. Sự cai trị hà khắc của nhà nước thực dân phong kiến theo kiểu
chuyên chế, không có luật pháp dân chủ ở Đông Dương đã đặt nhân dân ta trước nỗi cơ cực vô bờ
bến. Với tư cách đại diện, thay mặt cho nhóm người Việt Nam yêu nước ở Pháp, trong bản Yêu sách
của nhân dân An Nam gửi Hội nghị Vécxây năm 1919, Hồ Chí Minh đòi hỏi chính phủ Pháp và các
nước đồng minh phải tiến hành “cải cách nền pháp lý ở Đông Dương bằng cách cho người bản xứ
cũng được quyền hưởng những đảm bảo về mặt pháp luật như người Âu châu; xoá bỏ hoàn toàn các
toà án đặc biệt dùng làm công cụ để khủng bố và đàn áp bộ phận trung thực nhất trong nhân dân
An Nam Thay chế độ ra các sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật”(1). Những tư tưởng này, một
mặt, thể hiện sự đấu tranh của Hồ Chí Minh vì quyền lợi của nhân dân lao động; mặt khác, thể hiện
những nhận thức sâu sắc, ngay từ rất sớm của Người về vai trò, ý nghĩa đặc biệt quan trọng của
nhà nước pháp quyền đối với việc tổ chức và quản lý xã hội khi mà sự nghiệp cách mạng còn chưa
đi đến thành công.
Dưới chế độ thực dân, phong kiến quân chủ chuyên chế, nhân dân lao động không được hưởng một
chút quyền lợi nào, dù chỉ là nhỏ nhất; ngược lại, họ bị vắt kiệt về sức lực và của cải, bị đè nén
nặng nề cả về tinh thần lẫn thể xác trong cảnh “một cổ hai tròng”. Thay vì thực hiện những lý tưởng
nhân đạo “tự do, bình đẳng, bác ái” mà chính cách mạng tư sản Pháp nêu ra, thực dân Pháp đã vi
phạm nghiêm trọng nhân quyền, không cho những người dân thuộc địa được hưởng quyền tối thiểu
về bảo đảm luật pháp. Do vậy, để thực sự giải phóng nhân dân, Hồ Chí Minh chủ trương sau khi đất

Việt Nam dân chủ cộng hoà là “chính phủ hợp pháp duy nhất của toàn thể nhân dân Việt Nam”.Nhà
nước đó được tổ chức và hoạt động trên cơ sở những quy định của Hiến pháp, pháp luật với mục
tiêu bao trùm, xuyên suốt là “… làm theo đúng ba chính sách: Dân sinh, Dân quyền và Dân tộc”(3).
Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, Hiến pháp và pháp luật xã hội chủ nghĩa thể hiện sâu sắc ý chí của
đại đa số nhân dân, phản ánh lợi ích và là công cụ bảo vệ lợi ích của nhân dân. Nhà nước pháp
quyền của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, theo tư tưởng HồChí Minh, phải là nhà nước thực
hiện chức năng quản lý, điều hành xã hội bằng một hệ thống pháp luật; các quyền làm chủ của
nhân dân phải được thể chế hoá. Bởi vậy, việc xây dựng Hiến pháp, pháp luật với những điều
khoản, quy định cụ thể và rõ ràng là hết sức cần thiết; tinh thần và nội dung của những đạo luật ấy
phải “ thể hiện chủ trương mở rộng dân chủ, tăng cường chuyên chính”(4).
Mặt khác, thực tiễn cuộc sống luôn vận động và phát triển không ngừng; những yêu cầu, nhiệm vụ
của cách mạng cũng thay đổi trong từng giai đoạn cụ thể.Do đó, thiết lập sự phù hợp của Hiến
pháp, pháp luật với thực tiễn cuộc sống, với hoàn cảnh lịch sử cụ thể là một tiêu chí quan trọng
trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
Thực tế cho thấy, để tăng cường cơ sở pháp lý (về mặt tổ chức và hoạt động) của Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa, cũng như để bảo đảm và thực hiện ngày càng tốt hơn quyền làm chủ của
nhân dân trong điều kiện mới, việc tiến hành sửa đổi, bổ sung Hiến pháp, pháp luật cho phù hợp với
yêu cầu mới là cần thiết và phải được coi trọng. Khi trực tiếp chủ trì và chỉ đạo việc sửa đổi Hiến
pháp năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định rằng, đó là bản “Hiến pháp dân chủ đầu tiên của
nước ta, thích hợp với tình hình và nhiệm vụ cách mạng trong thời kỳ đó. Nó đã hoàn thành sứ
mệnh của nó. Nhưng so với tình hình mới và nhiệm vụ cách mạng mới hiện nay thì nó không thích
hợp nữa. Vì vậy mà chúng ta phải sửa đổi Hiến pháp
ấy”( ( />InstanceName=content&Toolbar=Default#_edn2)5). Tuy nhiên, Người cũng nhấn mạnh rằng,
đểHiến pháp và pháp luật đảm bảo tính khách quan, phù hợp và phản ánh đúng đắn ý chí, nguyện
vọng của nhân dân, Nhà nước phải thực hiện trưng cầu ý dân. Ý nghĩa của trưng cầu ý dân là ở chỗ,
thứ nhất, biểu hiện tính dân chủ; thứ hai, thông qua đó, Nhà nước phát huy được trí tuệ của toàn
dân tộc nhằm hoàn thiện Hiến pháp và pháp luật, làm cho Hiến pháp và pháp luật luôn thật sự là
của nhân dân, của chế độ dân chủ mới.
Một vấn đề quan trọng khác của Nhà nước pháp quyền mà Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm là tính
hiệu quả, tính nghiêm minh trong thực thi pháp luật xã hội chủ nghĩa. Như chúng ta đã biết, trong

triển xã hội hiện đại không phải chỉ dựa vào một yếu tố thuần tuý - hoặc đạo đức, hoặc pháp luật,
mà chính là ở mối quan hệ mật thiết và biện chứng giữa đạo đức và pháp luật. Do đó, thấm nhuần
và vận dụng sáng tạo quan điểm về sự kết hợp đạo đức cách mạng với pháp luật theo tư tưởng Hồ
Chí Minh là cơ sở đảm bảo cho việc xây dựng, củng cố và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa của nhândân, do nhândân và vì nhândân mà chúng ta đang tiến hành hiện nay.
Tính nhất quán trong tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của
nhândân, do nhândân và vì nhândân thể hiện cả ở mục đích, nguyên tắc tổ chức lẫn phương thức
hoạt động của nhà nước.Đối với các cán bộ và cơ quan nhà nước, Người đòi hỏi không những phải
làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến rộng rãi Hiến pháp và pháp luật trong nhân dân, mà còn
phải đặc biệt “gương mẫu trong việc thi hành Hiến pháp và các luật lệ”(6). Có thể khẳng định rằng,
đây là một tư tưởng cực kỳ sáng suốt và quan trọng của Hồ Chí Minh. Trong chế độ xã hội mới, Hiến
pháp và pháp luật biểu hiện ý chí, quyền lực và bảo vệ lợi ích của toàn dân; do vậy, tất cả mọi
người đều có trách nhiệm thi hành nghiêm chỉnh. Ngay cả hoạt động của các cơ quan nhà nước, của
các cán bộ trong bộ máy nhà nước cũng không được vượt ra ngoài, mà phải nằm trong khuôn khổ
quy định của Hiến pháp và pháp luật. Tôn trọng và thực hiện nghiêm túc yêu cầu mang tính nguyên
tắc này cũng có nghĩa là sẽ ngăn chặn được nguy cơ lạm dụng, làm “tha hoá” quyền lực nhà nước,
hoặc khuynh hướng coi quyền lực nhà nước là thứ quyền năng vô hạn, tuyệt đối và tách rời khỏi
nhân dân.
Tựu trung lại, theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do
nhân dân và vì nhân dân trước hết là công cụ quyền lực của nhân dân lao động, phản ánh và bảo vệ
lợi ích của nhân dân; nó được tổ chức trên cơ sở pháp luật, hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và
quản lý xã hội bằng pháp luật.
Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước cũng như việc chuyển sang nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay đòi hỏi Nhà nước phải có sự đổi mới về phương
pháp và tăng cường hiệu quả quản lý xã hội, không thể chỉ bằng những chỉ thị, mệnh lệnh, mà quan
trọng và căn bản hơn, phải bằng một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh. Điều đó quy định tính tất yếu
của việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tại Đại hội lần thứ
IX, Đảng ta khẳng định: “Nhà nước ta là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân,
là Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân
công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư

đoạn”, gây hậu quả ngược lại với mục tiêu. Xác định được như vậy vì, Hồ Chí Minh
“có sự dị ứng bẩm sinh với bệnh giáo điều rập khuôn, bệnh công thức sáo mòn”,
Người đòi hỏi không được sao chép nguyên văn những gì có sẵn, điều cốt yếu là hiểu
đúng tinh thần và biết vận dụng các nguyên lý sát với tình hình cụ thể nhằm thực
hiện mục tiêu độc lập dân tộc, tự do, hạnh phúc cho nhân dân.
Hồ Chí Minh đứng vượt hẳn lên những người đương thời ở tầm tư duy và cái nhìn
biện chứng. Bôn ba khắp biển, hiểu rõ ngọn ngành những tinh hoa cũng như những
khiếm khuyết mà phong trào cách mạng đã trải qua để khi về tới tổ quốc hôn nắm
đất quê hương đang đói nghèo, đau khổ. Người hiểu rõ cần phải làm gì cho nhân dân
mình tiếp nhận tinh hoa của nền văn minh phương Tây mà Người đã có nhiều năm
chiêm nghiệm, học hỏi, để rồi gắn kết với bản lĩnh và tri thức cách mạng, Hồ Chí
Minh thấy được những vấn đề mà có thể những người khác chưa thấy hoặc thấy chưa
rõ.
Bằng chứng là mãi gần 60 năm sau tuyên ngôn độc lập và tổng tuyển cử (6/1/1946)
lập ra Quốc Hội đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, ra đời hiến pháp năm
1946 vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền vẫn còn gặp không ít trở ngại do sự áp
đặt máy móc và giáo điều của mô hình “chuyên chính vô sản” trong tư duy về nhà
nước. Có thấm thía chuyện này mới hiểu sâu ý nghĩa của việc Hồ Chí Minh đặt viên
gạch đầu tiên cho nền móng của một nhà nước pháp quyền.
2. Về “dân chủ đại diện” và “dân chủ trực tiếp”.
Qua tổ chức Tổng tuyển cử 6.1.1946 bầu ra Quốc hội đầu tiên của Nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà, có thể thấy rõ bản lĩnh của Hồ Chí Minh trong cách mạng vận
dụng, cách thức thực hiện dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp.
Khi dùng dân chủ đại diện, Hồ Chí Minh đã không hoàn toàn theo chỉ dẫn của C.Mác
cũng như không theo Lê Nin về mô hình dân chủ hội đồng, tức là dân chủ Xô Viết.
…Ở đây thể hiện rõ những yếu tố pháp quyền nổi lên trên nguyên tắc quyền lực và tổ
chức quyền lực trong nội dung của Hiến pháp, nét nổi bật là việc kiểm soát quyền lực
nhà nước chứa đựng tinh thần khoan dung của truyền thống. Ngay tại điều 1 của
Hiến pháp đã nổi rõ lên tinh thần ấy “Nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà là một nước
dân chủ, tất cả các quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam không

nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ”.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, quyền lực thống nhất ở nhân dân chứ không ở bất cứ tổ
chức đại diện nào khác. Chẳng hạn, Quốc hội là cơ quan quyền lực Nhà nước cao
nhất, chứ không phải là cơ quan được trao tất cả quyền lực của nhân dân bộ quyền
lực chỉ ở nhân dân mà thôi. Trong các Hiến pháp của ta, Quốc hội được trao một số
quyền, Chủ tịch một số quyền, Chính phủ được trao một số quyền, Toà án, Viện kiểm
sát được trao một số quyền, chính quyền cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã được trao một
số quyền. Tất cả đều là quyền của dân, và dân trao quyền đó. Hồ Chí Minh ngay từ
ngày đầu thành lập chính quyền Nhà nước đã khẳng định “Nhà nước là công bộc của
dân”. Đây chính là vận dụng một cách sáng tạo kinh nghiệm xây dựng Nhà nước của
cổ kim Đông Tây vào hoàn cảnh cụ thể của nước ta phù hợp với truyền thống văn
hoá Việt Nam.
Cùng với cách xác định nói trên, cơ cấu tổ chức quyền lực Nhà nước được thể hiện
trong Hiến pháp năm 1946 móng cho một Nhà nước của dân, do dân và vì dân, trong
đó các quyền tự do, bình đẳng về chính trị và xã hội của người công dân được công
nhận và được bảo đảm bằng luật pháp.
Cần phải hiểu rằng, phải trải qua mấy thế kỷ của nền dân chủ phương Tây mới đến
được chỗ nhìn nhận toàn bộ các quyền mà Nhà nước phải bảo đảm cho công dân có
ba loại quyền: Quyền chính trị, quyền kinh tế và quyền xã hội. Trong tư tưởng Hồ
Chí Minh, tự do kinh tế là có công ăn việc làm, có mức sống xứng đáng với con người
theo khả năng kinh tế của đất nước, trước nhất là quyền tự do của số đông người
chứ không chỉ là quyền tự do của giới kinh doanh, mặc dù Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng
rất coi trọng quyền tự do của giới kinh doanh, điều đó đã được pháp 1946. Như vậy
là cùng với các quyền chính trị, Hồ Chí Minh đã đặt những quyền kinh tế và xã hội rất
quan trọng ngay từ đầu, đặt ra một cách thiết thực và cố gắng thực hiện từng phần.
Hơn sáu mươi năm của hành trình dân tộc, những nền móng ban đầu của “Nhà nước
pháp quyền Việt Nam” củng cố và xây đắp thành hình hài ngày một rõ nét mà lại
dần dà bị chìm đi bởi sự áp đặt của mô hình “chuyên chính vô sản”. Thế nhưng, sự
vận động của thực tiễn đã trả về cho cái nền tảng ban đầu ấy sức thuyết phục và ý
nghĩa sâu sắc tầm cao trí tuệ và bề dày văn hoá trong tư duy về Nhà nước của Hồ

- Mỹ, nhất là kinh nghiệm tổ chức, điều hành đời sống xã hội, Hồ Chí Minh cho rằng, quản lý xã
hội bằng pháp luật là dân chủ, tiến bộ và có tính chất phổ biến đối với các xã hội hiện đại.
Nhận thức được tầm quan trọng của luật pháp, từ rất sớm, Hồ Chí Minh đã đề cập đến vai trò
của chúng trong điều hành và quản lý xã hội. Năm 1919, tám yêu sách của nhân dân An Nam gửi
tới Hội nghị Véc- xây đã có 4 điểm liên quan đến vấn đề pháp quyền, còn lại liên quan đến công
lý và quyền con người.
Sau này, bản Yêu sách của nhân dân An Nam được Hồ Chí Minh chuyển thành "Việt Nam yêu
cầu ca", trong đó yêu cầu thứ bảy là:
"Bảy xin hiến pháp ban hành,
Trăm điều phải có thần linh pháp quyền"
(1)
"Trăm điều" là một đại lượng được sử dụng theo cách ẩn dụ để đề cập một cái chung, bao quát.
Còn "thần linh pháp quyền" là một cách nói theo ngôn ngữ ngày nay, là ý thức, tinh thần pháp
luật phải chi phối, chỉ đạo mọi hành vi, hoạt động của bộ máy, cơ quan nhà nước; môi trường
pháp lý phải bao trùm mọi mặt, mọi lĩnh vực đời sống xã hội. Đây là tư tưởng rất đặc sắc của Hồ
Chí Minh, phản ánh nội dung cốt lõi của Nhà nước dân chủ mới - Nhà nước quản lý xã hội bằng
pháp luật. Đồng thời, đây cũng là nguyên tắc xuyên suốt trong hoạt động quản lý nhà nước của
Người.
Sau Cách mạng Tháng Tám, năm 1945, Hồ Chí Minh đề ra một trong sáu nhiệm vụ cấp bách của
Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa là: Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ. Cùng với chủ
trương xây dựng Hiến pháp, ngày 10-10-1945, Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh SL/47 cho phép sử
dụng một số điều khoản của pháp luật cũ để điều chỉnh các quan hệ dân sự. Trong nhận thức
của Hồ Chí Minh, pháp luật của các chế độ xã hội có những giá trị nhân bản chung mà chúng ta
có thể kế thừa, phát triển. Ở đây, Hồ Chí Minh đã nhìn nhận pháp luật trong chiều sâu văn hóa
của nó.
Sau năm 1954, khi miền Bắc bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đất nước đạt được
nhiều thành tựu quan trọng, nhiều quy định trong Hiến pháp năm 1946 không còn phù hợp, Hồ
Chí Minh đã chủ trương sửa đổi và ban hành Hiến pháp mới - Hiến pháp năm 1959. Trong tư
duy Hồ Chí Minh, một khi điều kiện kinh tế - xã hội thay đổi thì pháp luật, nhất là đạo luật "gốc" -
Hiến pháp, cũng phải thay đổi để bảo đảm khả năng điều chỉnh hợp lý các quan hệ xã hội đã

nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật; pháp chế chỉ bảo đảm khi các quy phạm pháp luật được thực
thi trong các quan hệ xã hội; mọi hành vi vi phạm pháp luật phải bị xử lý. Như vậy, trong thực thi
luật pháp, việc thưởng phạt phải nghiêm minh. Vì nếu thưởng phạt không nghiêm minh thì người
cúc cung tận tụy lâu ngày cũng thấy chán nản, còn người hư hỏng, vi phạm pháp luật, kỷ luật sẽ
ngày càng lún sâu vào tội lỗi, làm thiệt hại cho nhân dân. Trong một nước, thưởng phạt phải
nghiêm minh thì nhân dân mới yên ổn, kháng chiến mới thắng lợi, kiến quốc mới thành công.
Muốn pháp luật nghiêm minh, phát huy hiệu lực, cần có các điều kiện:
Trước hết, pháp luật đó phải đúng và phải đủ. Pháp luật đúng là pháp luật phản ánh trung thành
bản chất các quan hệ xã hội khách quan, tiếp cận đến chân lý, mà chân lý là tất cả những gì phù
hợp với lợi ích của nhân dân. Còn pháp luật đủ là phải có tính đồng bộ, bao quát được các mặt,
các loại quan hệ, các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Thứ hai, pháp luật phải đến được với dân, "đi vào giữa dân gian". Để pháp luật được thực thi
trong đời sống xã hội phải chú trọng giáo dục, tuyên truyền pháp luật cho mọi đối tượng dân cư,
làm cho họ biết, hiểu và thực hiện đúng. Trong điều kiện dân trí còn thấp, học vấn hạn chế, văn
hóa dân chủ chưa cao, việc tuyên truyền, giáo dục pháp luật càng trở nên cần thiết.
Trong quan niệm của Hồ Chí Minh, tuyên truyền, giáo dục pháp luật là một "công đoạn" trong
toàn bộ quy trình xây dựng - thông qua, ban hành - thực hiện, giám sát - sửa đổi, điều chỉnh
pháp luật. Tại Hội nghị thảo luận Luật Hôn nhân và Gia đình, vấn đề này đã được Hồ Chí Minh
chỉ rõ: "công bố đạo luật này chưa phải đã là mọi việc đều xong, mà còn phải tuyên truyền giáo
dục lâu dài mới thực hiện được tốt"
(3)
. Muốn dân hiểu, dân nhớ để làm theo, trong tuyên truyền
phải biết cách diễn đạt đơn giản, ngắn gọn, nhưng tuyệt đối chính xác, phù hợp với đặc điểm
tâm lý, tính cách, văn hóa của các đối tượng dân cư từng khu vực, từng miền trên đất nước.
Thứ ba, cán bộ trực tiếp thực thi luật pháp phải thật sự công tâm và nghiêm minh. Hồ Chí Minh
yêu cầu cán bộ, đảng viên có nhiệm vụ "gương mẫu chấp hành pháp luật của Nhà nước, kỷ luật
của các đoàn thể cách mạng của quần chúng mà mình tham gia". Người nhiều lần phê phán
những cán bộ, đảng viên không chấp hành pháp luật của Nhà nước, cá nhân chủ nghĩa sinh ra
tự do chủ nghĩa, không tôn trọng pháp luật và thể lệ nhà nước, làm gương xấu cho quần chúng
nhân dân.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status