câu hỏi ôn tập Lịch sử mỹ thuật Việt Nam - Pdf 25

ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP.HCM
KHOA KIẾN TRÚC MỸ THUẬT
LỊCH SỬ MỸ THUẬT VIỆT NAM
.
GVHD: Nguyễn Đỗ Đông
Câu 1: Các di chỉ khảo cổ học tuy đã chứng minh có nghệ thuật đồ
đá Việt Nam, nhưng không để lại các tác phẩm nghệ thuật độc lập và
những tác phẩm dạng “cự thạch”. Chưa có tranh hang động lớn và đẹp
như Altamira (Tây Ban Nha) hoặc những tranh khắc cảnh nhảy múa ở
hang Addaura, cũng không có những tượng vật người hay tượng bò
rừng sinh động như ở Madeleine (Pháp, từ 15000 đến 10000 năm TCN)
… Phản ánh điều gì trong mỹ cảm của người Việt cổ.
Trong tất cả các nền nghệ thuật Đông Nam Á, có lẽ nghệ thuật Việt
Nam được phương Tây biết đên ít nhất và ít được nghiên cứu thất, trừ trong
giai đoạn cổ xưa nhất (văn minh Đông Sơn). Có lẽ tại vì lâu lắm rồi, người
ta chỉ xem kỹ những tác phẩm với một nhận định không thuật lợi và các sản
phẩm mỹ nghệ thường rất hấp dẫn bởi sự dụng công điêu luyện hơn là tính
sâu sắc của nó; hơn nữa, người ta nghĩ rằng chỉ tìm thấy ở nghệ thuật Việt
Nam một dạng thức thứ yếu của nghệ thuật Trung Hoa.
Có cần nhấn mạnh là những nhận định trên là vừa sai vừa không xác
đáng không? Ngoài một hệ thống ảnh tượng học đôi khi còn là điều lờ mờ,
một sự quá đáng nào đó trong điệu bộ và tính màu mè đôi khi quá thực, các
tác phẩm thường cho thấy một cảm thức của một kiểu quan sát và một cách
diễn tả độc chất, không kể đến các tính chất của một nền kiến trúc hoàn toàn
hài hòa với các phong cảnh. Cũng cần lưu ý thêm bằng những công trình
mới đây, xuất bản bằng tiếng Việt, vẫn không đến được với phần đông người
đọc nước ngoài.
Thoạt tiên, khó kết nối sản phẩm tối cổ với nghệ thuật của thời kỳ lịch
sử vì có một điều rất quan trọng là xứ sở này có thời kỳ dài lâu đã bị người
Trung Quốc chiếm đóng (43 trước công nguyên – năm 905); do đó, nó đã
gạt bỏ những liên hệ và sự liên tục rất thực vì sự thôn tính không bóp nghẹt

Cổ Loa, Sông Đà, Miếu Môn Mỗi chiếc trống đều được khắc ghi thể hiện
khá đầy đủ về một giai đoạn của xã hội đương thời.
Những hoa văn trang trí trên trống đồng chính là mô hình vũ trụ theo
quan niệm của người Việt cổ. Có thể hình dung cái mô hình vũ trụ ấy, là
gồm "ba tầng, bốn thế giới"."Tầng trên", tương ứng với phần mà thời sau gọi
là "mặt trống đồng", gồm hai thế giới: Trời ("Mường blời") tượng trưng
bằng hình mặt trời tỏa các tia sáng (mà có người gọi bằng tên: "ngôi sao") và
"Mường tất" tượng trưng bằng các cảnh nhà cửa, người, chim, thú (mà
cũng có người gọi là cảnh "hội làng", "hội cầu mùa" vận hành quanh mặt
trời, theo chiều quay ngược kim đồng hồ). "Tầng bên" (cạnh), tương ứng với
phần "tang trống đồng" - vẫn theo cách gọi ở thời sau, là "thế giới nước"
("Mường nác"), tượng trưng bằng các hình thuyền, người chèo thuyền ("bơi
chải"), cá ("giao long"), chim nước ("hậu điểu" ). "Tầng dưới", tương ứng
với phần "thân Trống đồng", là "Cõi âm" ("Mường âm phủ", ở đó, có hình
tượng tổ tiên, với bộ trang phục hình chim - vật tổ). Như vậy, sản phẩm của
việc cụ thể hóa (hình tượng hóa) quan niệm về vũ trụ của người Việt cổ như
thế này, ngay khi mới được tạo tác - cùng lúc với việc xuất hiện các Vua
Hùng đầu tiên - thì đã vừa có tính linh thiêng của việc thu cả đất trời vào
một vật thể, vừa mang cả giá trị của sức lực và quyền uy trần thế, thu vào
cho ai làm ra (đúc được) cái phẩm vật không chỉ diệu kỳ các giá trị trừu
tượng, mà còn chính là nơi hội tụ của khả năng và kỹ thuật - công nghệ: khai
thác quặng mỏ, luyện kim đúc đồng, sáng tạo nghệ thuật (tạo dáng, trang
trí)
Trên mặt trống ở chính giữa là một mặt trời với 14 tia chiếu ra chung
quanh, sau đó là 16 vòng hoa văn. Nội dung các hoa văn phong phú, sinh
động: đó là những người hoá trang hình chim cầm lao, giáo, khèn một giàn
cồng chiêng có người đánh, người giã gạo chày đứng, hình chim bay, nhà
sàn mái hình thuyền có chim, gà đậu trên nóc và người ở bên trong, cảnh
người đang đánh trống đồng. Vòng hoa văn thứ 8 là những con hươu đang
thong thả bước và chim đang bay. Vòng thứ 10 là những con chim mỏ dài,

trình độ nhận thức nhân sinh quan cũng vươn tới một giai đoạn cao hơn, họ -
những người Việt thời Hùng Vương bên cạnh nghề trồng lúa nước họ đã biết
thể hiện bản thân, thể hiện ước vọng của mình, thể hiện sự khát khao vươn
lên, biến những sinh hoạt đời thường của mình trở thành những hình thức
văn hóa – tín ngưỡng mang khí chất và tinh thần một dân tộc.
3. So sánh với mĩ thuật thời Nguyên
Thủy để thấy rõ sự tiến bộ của mĩ thuật thời đại Hùng Vương.
Hoa văn mô phỏng trên trống đồng
Họa tiết mô phỏng trên mặt trống
a. Thời nguyên thủy:
Năm 1960, các nhà khảo cổ học Việt Nam đã tìm thấy di tích núi Đọ
thuộc xã Thiệu Khanh, Huyện Thiệu Hoá, Tỉnh Thanh Hoá. Hàng ngàn khảo
cổ được phát hiện. Mặc dù đó là Mảnh cước, Hạch Đá, các công cụ chặt,
nạo, rìu Được chế tác rất thô sơ và nghèo nàn về loại hình, song nó đã
chứng tỏ rõ sự có mặt làm ăn sinh sống của những người nguyên thuỷ trải
dài trên đất nước Việt Nam của chúng ta. Di chỉ núi Đọ được xếp tương
đuơng với giai đoạn Sen và đầu Asơn thuộc do thời kỳ đồ đá cũ, cách ngày
nay khoảng 30 vạn năm. Mặc dù vậy phải trải qua một thời gian dài chúng ta
mới tìm được một số hình khắc những dấu hiệu đầu tiên của mỹ thuật Việt
Nam thời Nguyên Thuỷ. Trên cơ sở đó đến cuối thời kỳ đồ đá mới, mỹ thuật
đã phát triển hơn một bước nửa so với thời kỳ trước, tuy vậy phải đến thời
kỳ đồ đồng, chúng ta mới tìm được nhiều tác phẩm mỹ thuật thuộc nhiều
loại nghệ thuật tạo hình. Những tác phẩm quý báu là nguồn tư liệu cho các
thế hệ con cháu ngày nay tìm hiểu và học tập vốn tinh hoa của nghệ thuật
truyền thống ông cha ta ngày xưa.
Nếu thời kỳ núi Đọ người nguyên thuỷ dùng đá ba gian để chế tạo công cụ,
thì thời kỳ đồ đá cũ con người lại dùng các đá cuội tìm được ở các bãi sông.
Sau văn hoá Vi Sơn, Người Việt cổ bước vào thời kỳ đồ đá giữa, tương
đương với nền văn hoá Hoà Bình. Những dấu vết về một nền nông nghiệp sơ
khai được tìm thấy ở nhiều nơi. Lao động bằng đá còn tìm được các công cụ,

thấy tự hào với những thành quả văn hóa mà tổ tiên đã gầy dựng trong một
hoàn cảnh đầy khó khăn. Chính điều đó mà mỗi cá nhân phải biết trân quý,
giử gìn, không để những nguồn văn hóa ngoại lai làm lu mờ những giá
trị tốt đẹp ấy; đồng thơì phải biết chắt lọc những tinh hoa của thế giới để tô
điểm thêm cho nền văn hóa Việt Nam ngày thêm rạng rỡ.
Thời kỳ nguyên thủy
-Thời kỳ khởi đầu của nền văn
minh.
-Các công cụ đơn giản được chế
tác rât thô sơ và nghèo nàn về loại
hình .
-Là Mảnh rước, Hạch Đá, các
công cụ chặt, nạo, rìu
-Đến thời kỳ đồ đồng tìm được
nhiều tác phẩm mỹ thuật thuộc loại
nghệ thuật tạo hình.
Thời Vua Hùng
-Thời kỳ đầu của chế độ nhà nước
-Các tác phẩm tạo hình khá tinh
xảo và đặc sắc.
-Vừa vẽ hình vừa làm tượng, là đất
nung, đồng thau và đá, nặn tay,
đúc, rèn.
- Những sinh hoạ bình thường,
những con vật phần lớn hiền hòa,
những mẩu đề trang trí dịu dàng,
duyên dáng.
Câu 4: Tại sao nhữngnét vẽ, khắc hình người và thú, trên các đồ đồng lại
không xuất hiện trên các đồ gốm? Sự phân biệt này phản ánh điều gì?
Từ sau thời kỳ đồ đá, đồ đồng được người nguyên thủy sử dụng làm dụng cụ

cũ ghi nhiều lần được mùa to, lại còn những hiện tượng lạ như mua ra thóc, mua ra
gạo, lúa chín bông, cau chín buồng và chim thú quý xuất hiện liên tục đều biểu
hiện xã hội thái bình thịnh trị. Đời sống nhân dân ấm no nên đời sống tinh thần
càng được nâng cao, tình hình xã hội lúc bấy giờ tạo nên lối sống, văn hóa của
người Việt cổ và chính những quan niệm trong tư duy đã tạo ra những tác phẩm mỹ
thuật như: tượng Phật A Di Đà (ở chùa Phật Tích) cao 1m87 (không tính phần bệ
tượng), làm băằng tượng đá nguyên khối, ngồi thế tọa thiền, tượng được tạc một
cách đăng đối, nguyên tắc ngồi nghiêm trang, mang phong thái hiền hậu. Bên cạnh
đó, hình tượng rồng thời Lý với thân tròn lẳn, khá dài và không có vẩy, uốn khúc
mềm mại và thon dài từ đầu đến chân, rất nhẹ nhàng và thanh thoát. Con Rồng thời
này mang hình dạng của một con rắn, uốn khúc nhỏ dần về đuôi, hình tượng rồng
thể hiện tư duy của con người Đại Việt, khác với rồng Trung Hoa mang hình dạng
rồng thú, mạnh mẽ, thể hiện sức mạnh bành trướng, khác với rồng phương Tây thể
hiện cho sức mạnh của mãnh thú, cái xấu, xuất phát từ nền kinh tế nông nghiệp lúa
nước, hình tượng rồng mang biểu tượng cội nguồn của dân tộc, nguồn nước, biểu
tượng cho cái thiện,… Qua đây, cũng cho thấy được trình độ tay nghề, tư duy sáng
tạo của người nghệ nhân Đại Việt.
Câu 6: Đặc điểm cảu mỹ thuật thời Lý nói chung và đặc điểm kiến trúc, điêu
khắc nói riêng:
1. Đặc điểm chung của mỹ thuật thời Lý
-Năm 1010, Lý Công Uẩn dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long.
-Đất nước thống nhất, thanh bình, nông nghiệp được mùa, làng nghề thủ công phát
triển.
-Phật giáo được xem là quốc giáo, là chỗ dựa tinh thần cho nhân dân, được xây
dựng ở thế đất đẹp, nơi nào có thắng cảnh đẹp nơi đó có chùa tháp.
-Lập ra chế độ công tượng, nghệ thuật thời Lý đạt đến độ tinh xảo, mang tính chất
nghệ thuật kim hoàn.
-Nghệ thuật thời Lý ít chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa, chịu ảnh hưởng của
văn hóa Champa. Tiếp thu có chọn lọc văn hóa nước láng giềng, tạo ra được phong
cách độc đáo, sáng tạo, đậm đà bản sắc văn hóa nước Đại Việt.

nhận từ văn hoá ấn Độ, phía Bắc có đền Quán Thánh thờ Huyền Thiên Trần Vũ có
nguồn gốc từ văn hoá Trung Hoa có tài trừ ma quỷ.
Bên trong phòng thành chia làm hai phần lồng nhau là Hoàng thành và khu
dân cư ngăn cách bởi bức tường xây gạch, mở bốn cựa về bốn phía mang các tên
nhằm cầu phúc cho dân tộc : cửa Tường Phù ở phía đông, cửa Quang Phúc ở phía
tây, cửa Đại Hưng ở phía nam và cửa Diệu Đức ở phía bắc. Trong hoành thành,
ngay lần mới xây dựng đầu đã có trung tâm là điện Càn Nguyên làm nơi vua coi
chầu, hai bên phải trái có các điện Tập Hiền và Giảng Võ là nơi làm việc của vua.
Phía sau dựng điện Long An và Long Thuỵ làm chố nhà vua nghỉ ngơi, hai bên
phải trái có điện Nguyệt Minh và điện Nhật Quang.Phía sau là các cung Thuỷ Hoa
và Long Thuỵ.
1.2. Kiến trúc tôn giáo
Kiến trúc Phật giáo thời Lý được thư tịch nói đến nhiều và một số nơi còn để
lại dấu tích chùa tháp, mà tháp mới là công trình trung tâm.
a. Tháp phật
Tháp thời Lý là đền thờ phật giáo, trong lòng có pho tượng Phật như tháp
phật Tích, tháp Chương Sơn, tháp Tường Long Riêng tháp chùa Báo Thiên với
Hoàng thành Thăng Long
tên Đại Thắng Tư Thiêm lại mang tư cách đài chiến thắng báo công với trời.
Tháp vốn từ kiến trúc trải rộng diễn biến thành kiến trúc cao tầng bình diện vuông,
tầng dưới các cửa có tượng Kim Cương đứng trấn giữ. Các tầng càng lên cao càng
thu nhỏ dần, theo những hình tháp in trên gạch và tháp thời Trần thì chiều cao tháp
thường bằng chu vi chân tháp. Một số tháp đã khai quật có cạnh chân dài từ 8m
đến hơn 19m, như thế tháp có thể cao từ hơn 30 m đến hơn 70m, phù hợp với tháp
cảu BảoThiên được sử cũ ghi là cao vài mươi trượng và văn học xây dựng thành
hình tượng cột trụ chống trời. Nền móng tháp phải vững chắc, xây tường dầy và
dất cấp, trong nền trộn đất sét với sỏi đá. Các tháp thờ Phật thường có số tầng lẻ
biểu thị sự phát triển, dấu tích hiện vật và thư tịch cho biết thương là 5 – 7 – 9 thậm
chí 13 tầng, riêng tháp đài Chiến thắng có số tầng chắn ( 12 hay 30 tầng) lại biểu
thị sự ổn định. Vật liệu xây tháp rất phong phú. Mặt ngoài tháp được khắc rạnh,

tượng con sấu trên thành bậc cửa và
sư tử đội toà sen mà dân gian gọi là " ông Sấm" gắn liền với việc cầu đảo cần cho
nông nghiệp lứa nước.
- Chùa làng: dựng ở cùng quê hẻo xóm núi ít người qua lại ( như chùa Chèo
ở Bắc Giang, chùa Kim Hoàng ở Hà Tây), quy mô nhỏ, dấu vết còn lại hiếm hoi,
không được thư tịch đề cập. Có thể lúc đầu đây chỉ là thảo am hay mái đá. Đôi khi
có sự tham gia cảu quy tộc nhưng ở miền núi khuất nẻo.
Kết hợp dấu tích còn lại với thư tịch, ta thấy tháp thời Lý có quy mô lớn,
được xây dựng ở nơi cảnh trí đẹp, kết hợp thắng cảnh ở danh lam tạo ra một tổng
thể kiến trúc sơn thuỷ hữu tình bố cục cấn đối, hoà nhập với môi trường để hài hoà
với tự nhiên và nâng quy mô lên nhiều lần. Những công trình này gắn với quý tộc
cũng gắn với toàn dân, cầu chúc hoàng đồ củng cố và nhân dân an lạc.
2. Nghệ thuật điêu khắc
Bia chùa Phân Tích cho biết tại đây năm 1057 vua Lý Thánh Tông dựng cây
tháp cao ngàn trượng trong tháp có pho tượng bằng đá thếp vàng cao 6 thước,
trước thềm bày mười con thú cũng bằng đá. Một số chùa thời Lý cũng có bia đề
cập tới tượng tròn và chạm khắc trang trí.
2.1. Tượng tròn
Tượng tròn thời Lý hiện còn có tượng Phật, Kim Cương người chim và
tượng thú. Mỗi loại còn được vài pho
a. Tượng phật Thế Tôn
Chùa Một Cột
Các chùa Phật Tích, Ngô Xá
( Chương Sơn) và Kim Hoàng đều chỉ để
lại mỗi chùa một pho tượng Phật.
Các chùa Thầy, chùa Chèo và
chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh
không còn tượng nhưng còn bệ
tượng và toà sen thích hợp với
một pho tượng Phật ngồi trên.Các

là nhân vật thần thoại, nửa trên là người nhưng ngoài đôi tay còn thêm đôi cánh,
nửa dưới hoàn toàn là chim. ở Long Đọi, người chim đánh chũm choẹ, còn ở Phật
Tích có người chim đánh trống cơm, có người chim gẩy đàn nguyệt. Là nhân vật
thần thoại song từng phần lại rất thực, hoạt động nghệ thuật sôi nổi, nét mặt tập
trung vào âm thanh cảu những nhạc cụ đang biểu diễn, đôi canh cũng như vỗ theo
và những túm lông đuôi uốn lượn bay lên mềm mại. Có thể xem đây là những nhạc
công thiên thần.
d. Tượng thú
Nếu ở bệ tượng Phật thường có tượng sư tử đội toà sen mà dân gian gọi là "
ông Sấm", thì ở thềm tầng bậc thứ 2 cảu chùa Phật Tích có 5 cặp tượng thú dàn
thành một hành ngang hai bên cửa đối nhau. ông Sấm ở chùa Bà Tấm chỉ có phần
đầu, hai con đội chung một toà sen, ở thế nằm cao 1m, rộng 1m36, còn ở chùa
Hương Lãng (Hưng Yên) chỉ có một con chạm cả phần đuôi, dài 2m30 còn phần
đầu như ở chùa Bà Tấm. Hình dáng là con sư tử phủ phục đội toà sen, trán có chữ
Vương là chúa rừng xanh. Ngoài những lông xù cuộn xoáy, dọc chân và quanh
mép còn có hang hoa văn dấu hỏi tựa nhau, quang miệng có những bông hoa nhiều
cánh, phần đuôi được trang trí rất kỹ, có lẽ do sư tử gầm như tiếng sấm, lại cũng do
ước vọng cần mưa nên địa phương gọi là " ôngSấm"
2.2. Chạm khắc trang trí
Trong điêu khắc Lý đặc biệt phải kể đến mảng chạm nổi trên đá với sự tinh
khéo như chạm vàng, bạc. ở đây nổi lên một số đề tài là rồng, nhạc công, vũ nữ và
hoa lá.
a. Hình rồng rắn
Có một số con rồng rất lớn, thân đuôi ra dài vài mét ( như ở cột đá chùa
Dạm, đế bia chùa Long Đọi và chùa Chương Sơn, trong ao rồng cảu Phật Tích),
song phần lớn là những con rồng nhỏ dài mười phân nằm trong một số đồ án gọn
xinh theo các hình tròn, thoi, chữ nhật, lá đề, nửa lá đề nhưng luôn thống nhất về
cấu tạo : đầu to với bờm tóc mượt bay, răng nanh cuộn xoắn với môi trên lại có
thêm đường viền thành chiếc mào phập phồng như ngọn lửa, mũi như đoạn vòi co
dãn, lông mày cuộn vòng lên cả hai đầu và cạnh đó là hình trang trí chứ S không

đầu vào giữa là trống cơm và trống da, đàn nguyệt và nhị, tiêu và sáo, đàn tranh và
đàn thập lục, cặp phách nở và chập.
c. Hình hoa lá
Trên nhiều mặt phẳng cảu kiến trúc và của bệ tượng người xưa thường chạm
hoa lá theo từng băng dài, phần lớp là cúc sen đan xen nhau. Dây hoa với nhữg lá
nhỏ toả về hai bên là chung cho cả hai thứ hoa, uốn lượn bao lấy từng bông hoa
tròn. Hoa được cách điệu nhưng có thể nhận ra sen và cúc, có khi chỉ là hoa cúc
nhưng nhìn góc độ khác nhau, đều lớn như nhau. Hai loại hoa này thường được
gán cho hai tính chất thanh cao ( sen) và ẩn sĩ ( cúc), song trong văn hoá tâm linh
nó còn mang ý nghĩa sâu sắc hơn. Nhà thơ Trần Nguyên Đán ở thời Trần đã nhận
ra ở hoa cúc có khí mạnh và tài năng cảu trời đất, nó coi thường cả uy của sương
và sự lấn củatuyết.
3. Nghệ thuật hội hoạ
Trang thời Lý cách ngày nay rất xa, thường vẽ trên tường vách của công
trình kiến trúc, một số tranh độc lập có thể vẽ trên gỗ hoặc giấy, vải nên rất khó
bảo quản và bảo dưỡng. Tường đổ, nhà cháy, nấm mốc, nắng mưa do con người
và thời tiết gây ra đã cướp đi tất cả. Tuy nhiên, qua thư tịch có thể chút ít về tranh,
và một phần hình vẽ trên gốm có thể cho biết thêm yếu tố hội hoạ đương thời.
Thư tịch xưa cho hay các vua Lý " ở trên lầu bốn tầng Tất cả cung điện ở Thăng
Long đều sơn son, cột vẽ rồng, hạc và tiên nữ". Các chùa lại càng hay dùng tranh
vẽ để trang trí và giáo dục Phật tử. Chùa Phật Tích có " cung sơn điện vẽ san sát
trong núi" có " cung Quảng vẽ hoạ nhi hồng" có " góc cao vẽ sao ngưu và sao đẩu
sáng láng". Nếu những hình vẽ trên chủ yếu để trang trí, thì ở một số chùa khác lại
mang rõ ý nghĩa giáo dục, chẳng hạn bia chùa Linh Xứng núi Ngưỡng Sơn ( Thanh
Hoá).
Câu 7: Đánh giá giá trị của mỹ thuật thời Lý?
Kéo dài 215 năm (1009 - 1225) với 9 đời vua trị vì đất nước, nhà Lý đã đạt
được nhiều thành tựu trên nhiều lĩnh vực, trong đó có mỹ thuật. Mỹ thuật thời
Lý là một kết quả của quá trình sáng tạo đồ sộ và đặc sắc, mang giá trị nghệ
thuật cũng như giá trị lịch sử văn hóa to lớn. Mỹ thuật bao gồm hội họa, điêu

thuật cổ điển của người Việt ở thời kỳ Đông Sơn, trải qua hàng nghìn năm, cho
đến thời Lý bất thần xuất hiện trở lại khiến nhiều người ngỡ ngàng. Các yếu tố
thời đại như sự phát triển của vương quốc Đại Việt, sự trưởng thành của ý thức
dân tộc đã giúp triều Lý nâng tầm các giá trị truyền thống.
Lý Thái Tông là ông vua đầu tiên của
triều Lý biểu dương trống đồng, vật tiêu biểu
của thời kỳ Hùng Vương. Ông nâng trống đồng
lên hàng thần linh bảo hộ cho cả vương
triều, với việc thờ thần Trống Đồng ở đền
Đồng Cổ (Hà Nội)
Nguyên Viện trưởng Viện Mỹ thuật Việt
Nam Nguyễn Tiến Cảnh nhận định, ngoài
các yếu tố truyền thống, mỹ thuật thời Lý
còn chịu ảnh hưởng của văn hóa Chămpa ở
phương Nam, nhà Tống phương Bắc, cũng
như văn hóa các nước Đông Nam Á. Khi đã
hội tụ, chọn lọc và kết tinh lại thành những
hạt ngọc của nền văn hóa ở nhiều thể loại,
thì nó lại làm nhiệm vụ khuyếch tán ra các vùng xung quanh: đó là chùa Phật
Tích (Bắc Ninh), chùa Long Đọi (Hà Nam), chùa Chương Sơn (Nam Định) Kiến
trúc, hiện vật ở các di tích này vẫn thể hiện rõ sự giao thoa văn hóa của nước
Đại Việt và các quốc gia lân cận dưới thời vương triều Lý.
Với chiến lược phục hưng văn hóa truyền thống của dân tộc, kết hợp với yếu tố
thời đại và ảnh hưởng của các nền văn hóa Chămpa ở phía Nam, nhà Tống ở
phương Bắc, mỹ thuật thời Lý được coi là kết tinh của 1.000 năm trước đó và là
sự mở đầu cho 1.000 năm sau.
Quá trình Phật giáo hóa Đông Á và Đông Nam Á diễn ra muộn nhất ở Đại Việt
với vai trò quốc giáo của Phật giáo trong thời nhà Lý và nhà Trần. Mỹ thuật Lý
là giai đoạn mỹ thuật vương quyền và mỹ thuật Phật giáo cực thịnh, hoàn chỉnh
nhất.Tính chất vương quyền thể hiện ở kết cấu, quy hoạch và quy mô kiến trúc

bí, mềm mại, uyển chuyển và dày đặc của nghệ thuật trang trí kiến trúc cũng
như các thành phần điêu khắc giàu chất trang trí trên hai chất liệu chính là đá
và gạch nung là sự đối lập hữu cơ với tính hoành tráng, đồ sộ uy nghi của các
công trình. Đường cong họa tiết, các đồ án hình tròn, bán viên và hoa dây lên
ngôi, làm mẫu mực cho các thời kỳ sau. Nghệ thuật gốm đạt đỉnh cao chưa từng
có với gốm men ngọc, men lam và men nâu của các “lò quan” cung đình cũng
như “lò chợ” dân gian. Điêu khắc - tháp Chăm, gốm Lý Trần Mạc và tượng gỗ -
đình chùa Bắc bộ thế kỷ XVI-XVIII chắc chắn là ba đóng góp đáng kể nhất của
văn hóa Việt Nam vào văn hóa nhân loại.
Câu 8: Phân tích đặc điểm của mỹ thuật thời Trần- Hồ. So sánh với mỹ
thuật thời Lý để làm rõ sự khác nhau giữa 2 thời kỳ này.
p.1. Một số đặc điểm của mỹ thuật thời Trần-Hồ:
a. Sự thừa kế những tinh hoa văn hoá thời Lý
Nhà Trần kế tiếp ngay sau thời Lý. Vì vậy khi bắt đầu được thành lập, nhà
Trần thừa hưởng toàn bộ gia sản văn hoá thời Lý nhất là về mặt kiến trúc. Mãi
đến sau kháng chiến chống quân Nguyên Mông, kinh thành Thăng Long bị tàn
phá nặng nề đến năm 1289 nhà Trần mới cho xây dựng lại kinh đô.
Các công trình kiến trúc từ thời Lý như tháp Báo Thiên, chùa Dạm, chùa
Phật Tích… vẫn còn tồn tại sừng sững và đẹp đẽ. Những công trình kiến trúc,
những tác phẩm nghệ thuật điêu khắc từ thời Lý là cơ sở, nền
móng cho mĩ thuật thời Trần phát triển. Mĩ thuật có sự thay
đổi về phong cách phù hợp với diều kiện, hoàn cảnh xã hội mới.
Tuy vậy cũng không thể có ngay một phong cách khác, mà cần có
thời gian. Sự chuyển biến về phong cách sẽ diễn ra từ từ trên cơ
sở thừa kế những tinh hoa của văn hoá nghệ thuật thời Lý.
Điều này có thể thấy rõ qua một số tác phẩm và hình tượng nghệ thuật tiêu biểu,
nhất là trong nghệ thuật chạm khắc trang trí. Những đề tài, hình tượng nghệ
thuật ít có sự thay đổi. Trong chạm khắc ta lại gặp những nội dung đề tài quen
thuộc. Đó là sóng nước, rồng, hoa sen, hoa văn tay mướp, phượng, người chim,
mây, mặt trời…. Về hình thức thể hiện cũng có nhiều sự đồng nhất. Hoa văn sóng


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status