Câu hỏi ôn tập Lịch sử tư tưởng Việt Nam - Pdf 75

Câu 1: Cơ sở hình thành của hệ thống tư tưởng Việt Nam:
Qúa trình hình thành và phát triển của tư tưởng Việt Nam được tính từ
thời sơ cổ đến năm 1958.
Được chia làm các thời kỳ :
 Thời kì bắc thuộc từ 110 TCN đến năm 938.
 Thời kì phục hồi và xây dựng quốc gia độc lập từ năm 939 đến hết thế kỉ XIV.
 Thời kì ổn định thịnh vượng của chế độ phong kiến Việt Nam thế kỉ XV .
 Thời kì khủng hoảng chia cắt và sụp đổ của chế độ phong kiến từ thế kỉ XVI đển
thế kỉ XVIII.
 Thời kì nhà Nguyễn thế kỉ XIX.
 Thời kì tiếp nhận tư tưởng phương tây đầu thế kỉ XX.
Với sự phát triển KT-XH, VH tinh thần ở hai thời kì đầu đã tạo cơ sở cho sự hình thành và
phát triển của tư tưởng triết học của dân tộc- triết học Việt Nam trong các thời kì lịch sử tiểp theo.
Cơ sở xã hội
Vào cuối giai đoạn văn minh sông Hồng, trên cơ sở văn hóa Đông Sơn phát triển rực rỡ, nhà
nước Văn Lang ra đời, mặc dù đó là nhà nước phôi thai, kết cấu cộng động nguyên thủy vẫn chưa
hoàn toàn bị tiêu diệt. Nếu phát triển bình thường, nghĩa là quốc gia đó sẽ đi theo qui luật phân hóa
giai cấp, phân công lao động, phát triển chế độ tư hữu... nhưng những quá trình đó chỉ mới bắt đầu
thì nhà Tần, rồi đến nhà Hán xâm lược đặt ách nô dịch hơn 1000 năm. Và cái cộng động mang
đậm màu sắc nguyên thủy đáng lẻ bị phá vỡ một cách tự nhiên trong quá trình phát triển của nhà
nước Văn Lang thì nay lại phải cố kết lại để tạo nên sức mạnh chống xâm lược và đồng hóa.
Với chiến thắng Bạch Đằng chấm dứt 1000 năm bắc thuộc, không lâu nước ta lại rơi vào loạn
12 sứ quân. Đinh Tiên Hoàng thống nhất đất nước, nhưng chẳng mấy chốc Lê Đại Hành lại phải
đem quân chống Tống . Từ đó, qua Lý- Trần- Hồ không có triều đại nào không có kháng chiến
chống xâm lược. Tưởng chừng sau kháng chiến chống quân Minh, nước ta có một nền hoà bình
lâu dài, nhưng chỉ 90 năm sau đã xảy ra chiến tranh Nam Bắc Triều , rồi tiếp đến Trịnh Nguyễn
phân tranh. Tây Sơn lên chưa được bao lâu thì nhà Nguyễn thay thế. Nhà Nguyễn thống nhất được
gần nửa thế kỉ thì Pháp đã nổ súng xâm lược.
Đã chiến tranh thì không thể có sự phát triển bình thường được. Sức sản xuất, khoa học kỹ
thuật chậm phát triển. Sự phát triển không bình thường của xã hội Việt Nam còn thể hiện ở cấu
trúc kinh tế xã hội. Nhìn đại thể, xã hội Việt Nam là một xã hội nông nghiệp với xã họi làng xã,

lưu hoàng để vẻ lên người, biết đến nhịp điệu, dùng ký hiệu để ghi. Đây là quá trình hình thành
hoạt động đếm và phạm trù số lượng, từ đó ra đời các số đếm tách khỏi vật đếm. Họ có quan niệm
về thời gian, vũ trụ. Họ tôn thờ sức mạnh tự nhiên như mưa, gió, đặc biệt là Mặt Trời đã trở thành
thần linh của họ.
Cách đây khoảng 4000 năm, người Việt đã bước vào giai đoạn đồng thau - thời kì tiền Đông
Sơn. Đến thời kì Đông Sơn, kĩ thuật đồng thau phát triển cao với sự ra đời của những trống đồng.
Thời kì Đông Sơn đã hình thành tư duy lưỡng hợp giữa khô và ướt, lửa và nước, nhật và
nguyệt, chim và rắn, thấp và cao...Văn hóa, phong tục, thần thoại, trống đồng,... Ở đây đều biểu
hiện tính lưỡng hợp, giao tranh, giao hòa giữa các yếu tố đối lập. Đặc điểm này in đậm dấu ấn của
nó trong các mặt thể hiện của văn hóa nhận thức, nghệ thuật, tính ngưỡng dân gian Việt Nam.
Chẳng hạn như thần thoại phản ánh thế lưỡng hợp trong các cặp rồng – tiên, núi - biển trong Sơn
Tinh - Thủy Tinh. Triết lý âm dương, tính ngưỡng Mẫu, tam phủ và tứ phủ trong quan niệm về vũ
trụ thiên nhiên, tách biệt sự sống và cái chết trong các di tích mộ, tín ngưỡng phồn thực...Tiêu biểu
nhất cho quan niệm về thế giới là truyện Bánh Chưng- Bánh Dày.
Sang thời kì xây dựng và tồn tại của nước Văn Lang, người Việt đã bước ra khỏi thời kì sơ sử,
mà đã bước vào thời kì con người đã có kiến thức và quan điểm chính xác về nhân sinh quan, vũ
trụ quan, nhận thức về âm dương, ngũ hành, tam tài. Chính ngay thời đại này, các nền tảng chính
của tư tưởng yêu nước dân chủ,nhân đạo đã bắt đầu có nền móng vững vàng và đã định hình rõ nét
qua một loại các thần thoại và truyền thuyết trước và trong giai đoạn Văn Lang, có sức sống vĩnh
cữu trong lòng dân tộc.
Những phương diện thể hiện của tư tưởng bản địa thời kì này thường nằm trong thần thoại
Việt Nam đã xuất hiện trước và trong thời Hùng Vương, qua đó đã thể hiện tư tưởng yêu nước, ý
thức cộng đồng dân tộc ban đầu được thẻ hiện qua các thần thoại và truyền thuyết:
Thần thoại họ Hồng Bàng: là nơi phát tích của khái niệm “đồng bào” (cùng một cái
bọc mà ra) của Lạc Long Quân và Âu Cơ, nhấn mạnh rằng người Việt dù ở đâu trên lãnh thổ Việt
Nam cũng đều có cùng một gốc; thần thoại Kinh Dương Vương cũng nói lên Việt và Hán cùng có
chung một tổ tiên – đó là Viêm Đế họ Thần Nông, chứ không phản Hán là Hạ mà Việt là Man Di.
Thần thoại sơn thần núi Tản (thần Tản Viên, thần núi Ba Vì, Sơn Tinh): Tương truyền
đây là một trong 50 vị thần theo cha xuống biển, sau đó nhớ mẹ, thần đã qua cửa Thần Phù, ngược
sông Hồng lên ngự đỉnh Ba Vì, trở thành vị đệ nhất phúc thần của người Việt khi thần đã đảm

là Hùng Vương thứ nhất, Hùng Vương thứ hai... cho đến Hùng Vương thứ 18. Xây dựng được
nguyên tắc đó không phải dễ nếu không có tinh thần vì nước vì dân, Tổ quốc trên hết, trước hết,
đặt cái chung lên trên cái riêng, không có cái cá nhân chủ nghĩa. Khác hẳn với xã hội Trung Hoa-
một tổ chức phong kiến, cha truyền con nối, có tước có lộc, có chức vụ hẳn hoi trong triều đình và
ngoài xã hội, có phân biệt rõ ràng các giai cấp, không được phép lẫn lộn.
Xã hội Giao Chỉ thời Hùng Vương nói chung là công xã thị tộc có tổ chức cao, còn mang tính
dân chủ tự do.Vua quan và dân cùng cày ruộng, tắm sông, cùng múa hát. Ngôi vua không nhất
thiết phải truyền cho con mà vẫn có thể truyền cho người có đức có tài qua thi tuyển ( còn di tích
của chế độ mẫu hệ, phụ nữ có quyền có nhiều chồng, nên vua không nhất thiết phải truyền ngôi
cho con, nên trong truyền thuyết không thấy có hoàng hậu của vua Hùng mà chỉ có con gái của
vua có tên chung là Mị Nương). Người thời Hùng Vương chưa có họ, theo văn hóa trọng tình, thờ
cúng người chết là một đạo riêng của người Giao Chỉ đã xuất hiện.Các vua Hùng đã là những
người có học thức và biết chữ Hán.
Chính ngay từ thời đại này, các nền tảng chính trị tư tưởng yêu nước; dân chủ; nhân đạo; tính
bản địa sâu sắc trong nhận thức đã bắt đầu có nền móng vững vàng và đã được định hình rõ nét
qua một loạt các thần thoại, truyền thuyết trước và trong giai đoạn Văn Lang, có sức sống vĩnh
cữu trong lòng dân tộc.
 Thần thoại họ Hồng Bàng: là nơi phát tích của khái niệm niệm “đồng bào” (cùng một
cái bọc mà ra) của Lạc Long Quân và Âu Cơ, nhấn mạnh rằng người Việt dù ở đâu trên lãnh thổ
Việt Nam cũng đều có cùng một gốc; thần thoại Kinh Dương Vương cũng nói lên Việt và Hán
cùng có chung một tổ tiên – đó là Viêm Đế họ Thần Nông, chứ không phản Hán là Hạ mà Việt là
Man Di.
Về nguồn gốc họ Hồng Bàng của Tổ tiên ta rất cao đẹp. Theo tục truyền thì vua Đế
Minh là cháu ba đời vua Thần Nông đi tuần thú phương Nam đến núi Nghĩa Lĩnh thuộc tỉnh Phú
Thọ bây giờ gặp nàng tiên, lấy nhau đẻ con lấy tên là Lộc Tục. Sau Đế Minh phong cho Lộc Tục
làm vua phương Nam xưng là KInh Dương Vương.
Kinh Dương Vương lấy con gái Động Đình Quân là Long Nữ đẻ ra Sùng Lãm nối
ngôi làm vua xưng danh là Lạc Long Quân.
Lạc Long Quân lấy con gái vua Đế Lai tên là Âu Cơ đẻ một lần được một trăm quả
trứng nở ra một trăm con trai. Lạc Long Quân bảo Âu Cơ “ Ta là dòng dõi Long Quân còn hậu là

văn minh Việt Nam mà tổ tiên ta để lại thật không thể có tưởng tượng nào cao đẹp hơn, lý thú hơn
tượng hình một bọc trăm trứng nở thành trăm con, sau này sinh hóa ra toàn thể con dân Việt Nam.
Cùng trong một bọc sinh ra không có kẻ trước người sau, trăm trưng đều thụ hưởng cùng tình yêu
thương rộng rãi như Trời Đất bao la hùng vĩ. Trăm người con sống chung với nhau, một mà là
trăm, trăm mà là một, kẻ ở trên núi cao, kẻ ở dưới biển sâu không chỉ là một gốc rồi chia ra ngành
lớn, ngành nhỏ, nhánh đầy nhánh vơi mà là chung cùng một bọc.
Từ khởi đầu cho đến Hùng Vương thứ 18 không có việc tranh chấp địa vị, không
chém giết nhau vì đất đai, không ganh ghét nhau vì quyền lợi. Không cần chờ đến lúc xung khắc
để ghét nhau, biết tiên liệu trước sự việc như không ở được với nhau lâu thì chia con ra mà đi mỗi
người một phương để giữ nguyên vẹn cái tình với nhau (như Lạc Long Quân), không biết lấy cớ gì
để giải bày nổi oan khi thấy anh về thì thà chết còn hơn(như em nhà họ Cao);nhẫn nhục chịu
đựng(như Chử Đồng Tử);lấy nghĩa cha con làm trọng(như Chử Đồng Tử)lấy tình vợ chồng thì
hơn(như cây trầu và cây cau).
Những sản phẩm nói trên không đơn thuần là trí tưởng tượng mà là hồi quang của
hiện thực xã hội Việt Nam ,Tổ tiên ta ngày trước.Có thể nói những câu chuyện về thời đại Hùng
Vương là một thể sử thi trong thời đại lập quốc.
Thần thoại sơn thần núi Tản (thần Tản Viên, thần núi Ba Vì, Sơn Tinh): Tương truyền
đây là một trong 50 vị thần theo cha xuống biển, sau đó nhớ mẹ, thần đã qua cửa Thần Phù, ngược
sông Hồng lên ngự đỉnh Ba Vì, trở thành vị đệ nhất phúc thần của người Việt khi thần đã đảm
nhiệm công việc trông nom cuộc sống của dân, cứu dân khỏi nạn yêu tinh, bệnh hoạn đói khổ.
Thần còn là con rể vua Hùng, người đã chiến thắng Thủy Tinh (đại diện cho thế lực mưa lũ, lụt
lội).
Truyền thuyết Thánh Gióng: cho thấy tư tưởng yêu nước là sợi chỉ đỏ xuyên suốt cuộc
hành trình của tư tưởng Việt Nam: yêu nước là dựng nước và giữ nước. Thánh Gióng mang đậm
màu sắc Việt Nam, không phải là một vị thần bạo lực như kiểu thần phương Tây. Sức mạnh của
Gióng là sức mạnh gom góp lại của toàn dân tộc (ăn cơm của cả làng). Đứa trẻ trong nôi 3 năm vụt
trưởng thành trong trách nhiệm của người anh hùng, tiếng nói đầu tiên là tiếng nói yêu nước.
Tiếng nói yêu nước ấy chính là nền tảng cho sức lớn phi thường, tiếp nhận thêm sức mạnh dân tộc,
trở thành con người kì vĩ sau một cái vươn vai.tầm vóc kì vĩ ấy đủ sức đáp ứng cho một nhiệm vụ
cực kì khó khăn, nhưng cả thiên nhiên, đất nước đều cùng ủng hộ ( ngựa sắt, roi sắt, tre ngà...).

biểu như Giác Hoàng Trần Nhân Tông, người đã sáng lập ra phái thiền Trúc Lâm. Các thiền sư có
vai trò đặc biệt sư Vạn Hạnh, Minh Không, Không Lộ, Mãn Giác(có những bài thơ thiền, xuân
đáo, bách khoa lạc...). Dấu ấn của Phật giáo trong văn hóa Việt Nam vô cùng sâu sắc, bởi nó đáp
ứng được cả hai nhu cầu, vừa nhân văn vừa siêu việt.
Tư tưởng Phật giáo trong thơ văn Lý - Trần chủ yếu là tư tưởng của phái Thiền tông. Nó bao gồm
các tác phẩm về triết học và những cảm hứng Phật giáo, cùng là những tác phẩm về lịch sử Phật
giáo thời Lý - Trần. Nhiều bài thơ phú, kệ, minh do các sư tăng trí thức viết, bàn về các khái niệm
sắc - không, tử - sinh, hưng - vong, quan hệ giữa Phật và Tâm, đạo và đời, con người và thiên
nhiên, phản ánh sự minh triết và niềm lạc quan của cá nhân trong cuộc sống và thời đại. Sư Mãn
Giác để lại những câu thơ nổi tiếng về cảm hứng đó.
"Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai"
(nghĩa là : Chớ tưởng xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua sân trước nở cành mai)
Một số nhà vua và quý tộc sùng Phật đã biên soạn những tác phẩm về giáo lý nhà Phật như
các cuốn Khóa hư lục, bài Thiền tông chi nam của Trần Thái Tông, Thiền lâm thiết chủy ngữ lục
của Trần Nhân Tông, Tuệ trung thượng sĩ ngữ lục của Trần Tung.
Dòng thơ văn yêu nước, dân tộc cũng đã giữ một vị trí rất quan trọng trong thơ văn Lý - Trần. Nó
phản ánh tinh thần bất khuất, anh dũng chống giặc, lòng trung quân ái quốc cũng như lòng tự hào
dân tộc qua những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm. Thuộc loại này có thể kể bài thơ Nam quốc
sơn hà của Lý Thường Kiệt, Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn, bài Phú sông Bạnh Đằng của
Trương Hán Siêu, hoặc những bài thơ của vua tôi nhà Trần trong cuộc kháng Nguyên như 2 câu
thơ nổi tiếng của Trần Nhân Tông:
"Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã
Sơn hà thiên cổ điện kim âu”
(Xã tắc hai phen chồn ngựa đá
Non sông ngàn thuở vững âu vàng)
Một số tác phẩm đã nói lên ý thức tìm về cội nguồn, sưu tập những truyền thuyết, thần tích nói
về lịch sử và nhân vật lịch sử thời quốc sơ Văn Lang - Âu Lạc cũng như các thời kỳ sau. Hai tác
phẩm tiêu biểu là Việt Điện u linh của Lý Tế Xuyên và Lĩnh Nam chích quái của Trần Thế Pháp.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status