MỤC LỤC
* Yêu cầu trong lập dự toán ngân sách nhà trường: 52
b. Phương pháp, cách thức phân bổ ngân sách nhà nước cho giáo dục đại học 52
* Phân bổ ngân sách nhà nước cho chi thường xuyên 53
* Phân bổ ngân sách nhà nước chi đầu tư xây dựng cơ bản 54
* Phân bổ ngân sách nhà nước cho hoạt động khoa học và công nghệ 55
b/ Kiểm soát chi 57
Các công cụ chủ yếu giám sát và đánh giá tài chính giáo dục đại học là: 65
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế đang đặt sức ép lớn lên các
trường đại học Việt nam nói chung và các trường đại học công lập nói riêng
trong việc nâng cao chất lượng đào tạo theo nhu cầu xã hội và đạt chuẩn quốc
tế. Tự chủ tài chính, tính trách nhiệm, minh bạch và hiệu quả cao trong huy
động và sử dụng nguồn lực tài chính là một trong những yếu tố quyết định để
các trường đại học công lập có thể đạt được những mục tiêu kể trên. Chính vì
vậy, đổi mới quản lý tài chính trong các trường đại học, tăng cường phân cấp
quản lý tài chính, phân bổ ngân sách dựa trên kết quả, đang được Bộ Giáo
dục và Đào tạo coi là những nội dung quan trọng hàng đầu của đổi mới cơ
chế quản lý tài chính giáo dục đại học. Điều này đòi hỏi phải xây dựng được
hệ thống giám sát và đánh giá tài chính dựa trên kết quả có hiệu lực, trở thành
một công cụ mạnh mẽ cho quản lý tài chính tại các trường đại học công lập;
mặt khác là cơ sở thông tin cho quản lý nhà nước để tăng cường phân cấp
quản lý tài chính.
Các trường đại học tại các nước phát triển đã có hơn 20 năm kinh
nghiệm trong giám sát và đánh giá dựa trên kết quả, trong khi ở nhiều nước
đang phát triển, kể cả Việt Nam, việc áp dụng công cụ quản lý này mới chỉ
bắt đầu. Do phải vượt qua nhiều thách thức về chính trị, tổ chức và kỹ thuật,
tại các trường đại học công lập hiện nay, giám sát và đánh giá chủ yếu vẫn là
giám sát và đánh giá thực hiện trong khi nhu cầu xây dựng hệ thống giám sát
và đánh giá dựa trên kết quả đã trở nên rất cấp bách cả từ giác độ tổ chức và
tố dẫn đến thành công trong việc xây dựng hệ thống giám sát và đánh giá khu
vực công cũng như các xu hướng ảnh hưởng đến quá trình thể chế hóa hệ
thống giám sát và đánh giá.
2
Nghiên cứu “Xây dựng hệ thống giám sát và đánh giá thế nào để hoàn
thiện công tác quản lý của nhà nước” của Keith Mackay năm 2007 phân tích
những đóng góp của giám sát và đánh giá đối với quản lý nhà nước, giới
thiệu kinh nghiệm một số quốc gia xây dựng thành công hệ thống giám sát và
đánh giá dựa trên kết quả, các bài học rút ra từ thành công và những biện
pháp củng cố hệ thống giám sát và đánh giá.
Ở trong nước hiện nay, quản lý tài chính đại học nói chung, giám sát
và đánh giá tài chính nói riêng đang thu hút được sự quan tâm của các cơ
quan quản lý giáo dục, các trường đại học, viện nghiên cứu. Bộ Giáo dục và
đào tạo đã và đang tiến hành một loạt các đề tài nghiên cứu về quản lý tài
chính đại học. Liên quan đến nội dung tài chính đại học và quản lý tài chính
đại học, đã có những công trình nghiên cứu sau:
“Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với các trường đại học công
lập ở Việt Nam” (2005), Đề tài cấp bộ B2005.38.125 do PGS.TS. Vũ Duy
Hào chủ trì, đánh giá một cách tổng quát thực trạng và những bất cập
trong cơ chế quản lý tài chính hiện hành đối với các trường công lập, từ
đó đề xuất cơ chế quản lý tài chính mới phù hợp với xu hướng áp dụng
cơ chế tự chủ tại các trường đại học công lập ở Việt Nam.
“Điều tra thực trạng và kiến nghị giải pháp đổi mới đầu tư tài chính đối
với các trường đại học Việt Nam phù hợp với cơ chế thị trường và hội nhập
kinh tế quốc tế”, 2005, dự án do GS.TS. Mai Ngọc Cường làm chủ nhiệm đã
đánh giá được thực trạng đầu tư tài chính ở các trường đại học Việt Nam, chỉ
rõ những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân hạn chế trong việc đầu tư tài
chính, từ đó đưa ra khuyến nghị về quan điểm phương hướng và giải pháp đổi
mới đầu tư tài chính của các trường Đại học Việt Nam trong những năm tới
phù hợp với cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế.
đánh giá tài chính của một số trường đại học công lập ở Việt Nam. Nghiên cứu
4
điển hình được tiến hành đối với một số trường đại học công lập như trường
Đại học Kinh tế Quốc dân, trường Đại học Kinh tế (Đại học Quốc gia) và Học
viện tài chính. Trên cơ sở đó đề xuất giải pháp xây dựng hệ thống giám sát và
đánh giá tài chính dựa trên kết quả cho các trường đại học công lập.
Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu: phân tích, tổng hợp, so
sánh để xây dựng khung lý thuyết cho phân tích thực tế và đề xuất các giải
pháp hoàn thiện hoạt động giám sát và đánh giá tài chính tại các trường đại
học công lập.
Học hỏi kinh nghiệm các nước là phương pháp nghiên cứu quan trọng
được đề tài sử dụng nhằm tạo cơ sở thực tiễn cho các giải pháp. Việc tìm hiểu
kinh nghiệm các nước được thực hiện thông qua các phương tiện truyền
thông như sách, báo, mạng Internet v.v.
Với đặc thù là một đề tài phục vụ thực tiễn, phương pháp nghiên cứu
khảo sát sẽ được tiến hành tạo cơ sở cho phân tích thực trạng và kiến nghị các
giải pháp hoàn thiện hoạt động giám sát và đánh giá tài chính cho các trường
đại học công lập ở Việt Nam.
Đề tài sử dụng các phương pháp chuyên gia nhằm có được ý kiến đóng
góp của các nhà khoa học, các nhà quản lý trong lĩnh vực quản lý tài chính đại
học, đặc biệt là trong giám sát, đánh giá tài chính tổ chức giáo dục đại học.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài: tập trung vào hoạt động giám sát và
đánh giá tài chính tại một số trường đại học công lập của Việt Nam giai đoạn
2006 - 2009.
5
CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁM SÁT VÀ ĐÁNH
GIÁ TÀI CHÍNH CÁC TỔ CHỨC GIÁO DỤC ĐẠI HỌC
1.1. Khái niệm và mục đích của hoạt động giám sát và đánh giá
1.1.1. Khái niệm giám sát và đánh giá
6
Tổ chức OECD định nghĩa hai hoạt động giám sát và đánh giá một
cách khá cụ thể.
“Giám sát là một chức năng liên tục được sử dụng để thu thập có hệ
thống dữ liệu về một số chỉ số nhất định nhằm cung cấp cho các nhà quản lý
và các bên hữu quan chủ yếu một phương thức can thiệp nào đó vào tiến trình
phát triển đang diễn ra các chỉ báo về mức độ tiến bộ, mức độ đạt được các
mục tiêu và tiến độ trong sử dụng các nguồn lực được phân bổ”
3
“ Đánh giá là việc xem xét một cách có hệ thống và khách quan về
một dự án đang tiến hành và đã hoàn thành, bao gồm cả việc thiết kế, thực
hiện và kết quả của nó” Như vậy, đánh giá là nhằm xác định tính hợp lý và
tính hiện thực của các mục tiêu, hiệu quả phát triển, tác động và tính bền
vững của dự án.
Theo các khái niệm này, giám sát và đánh giá là hai hoạt động có tính
bổ trợ cho nhau. Trong đó, hoạt động giám sát mang tính miêu tả nhằm cung
cấp thông tin về tình trạng tương đối của việc thực hiện kế hoạch ở một thời
điểm nào đó hoặc trong khoảng thời gian nhất định so với các mục tiêu và chỉ
tiêu đặt ra trong kế hoạch. Còn hoạt động đánh giá cho phép nhận định các
mục tiêu và các chỉ tiêu có đạt được hay không và vì sao thông qua các bằng
chứng nhất định. Đánh giá có vai trò làm sáng tỏ những thực trạng và xu
hướng mà hệ thống giám sát đã phát tín hiệu.
Theo UNFPA, giám sát hay theo dõi là “quá trình liên tục xem xét việc
thực hiện các hoạt động dựa theo kế hoạch đã được lập bằng cách thu thập và
phân tích các chỉ số đã được xây dựng. Theo dõi cung cấp các thông tin
thường xuyên về tiến độ nhằm đạt được kết quả (đầu ra, kết quả, mục tiêu)
thông qua hệ thống lưu trữ các tài liệu và báo cáo”.
4
Mục đích chủ yếu của
3
hoạt động này được thể hiện trong bảng 1.
Bảng 1: So sánh hoạt động giám sát và đánh giá
8
Giám sát Đánh giá
1. Mục đích Cung cấp thông tin ban đầu
về thực trạng thực hiện các
dự án, chương trình hay các
kế hoạch so với các chỉ tiêu
và mục tiêu; báo trước cho
các nhà quản lý các vấn đề
khó khăn và cung cấp cho họ
các lựa chọn cho việc điều
chỉnh
Cung cấp thông tin phân tích vì
sao các kết quả, mong muốn đạt
được hay không đạt được; cung
cấp cho các nhà quản lý các lựa
chọn chiến lược và chính sách
2. Nhiệm vụ Thường xuyên thu thập các
số liệu để tính toán các chỉ số
và mức độ đạt được so với
chỉ tiêu đề ra:
- theo dõi
- phân tích
- ghi nhận tiến độ
Khảo sát quá trình thực hiện;
đánh giá kết quả đạt được và
không đạt được; phát hiện kết
quả không lường trước; phân
tích sâu nguyên nhân chủ quan
hoạt động mang lại có thể tồn
tại lâu dài sau khi hoạt động đó
kết thúc không?
5. Chủ thể
nhận thông tin
của hoạt động
giám sát và
đánh giá
Những người tiến hành hoạt
động đánh giá và các nhà
quản lý
Các nhà quản lý, các lực lượng
có liên quan đến lợi ích của tổ
chức
9
1.1.2.Mục đích của hoạt động giám sát và đánh giá
Giám sát và đánh giá cung cấp các thông tin phản hồi về các hoạt động
của tổ chức nhằm các mục đích sau:
- Xác định tính hợp lý của các mục tiêu đã đặt ra, từ đó có sự điều chỉnh
kịp thời các mục tiêu đặt ra cho phù hợp với các mục đích của tổ chức và phù
hợp với khả năng thực tế của tổ chức
- Giám sát và đánh giá nhằm phát hiện và điều chỉnh những sai lệch xảy
ra trong quá trình hoạt động của tổ chức, để đạt được mục tiêu của tổ chức
một cách có kết quả và hiệu quả
- Giám sát và đánh giá nhằm xác định tính hiệu lực, hiệu quả, tác động
và tính bền vững của các hoạt động tổ chức từ đó rút ra những bài học kinh
nghiệm cho quá trình ra quyết định trong tương lai như các quyết định phân
bổ nguồn lực, quyết định các dịch vụ cung cấp
- Hiểu về thực trạng và xu thế biến động của tổ chức nhằm đổi mới các
hoạt động của tổ chức trong tương lai
kịp thời; (3) quyết định liệu có cần một hình thức đánh giá sâu rộng hơn tiếp
theo hay không
5
.
Tuy nhiên, muốn giám sát và đánh gía tốt hoạt động của một tổ chức,
chúng ta cần xây dựng được một hệ thống các chỉ số giám sát và đánh giá tốt.
Điều kiện của một hệ thống chỉ số tốt là (1) đủ đo lường các nội dung giám
sát và đánh giá, không nên quá nhiều chỉ số; (2) có thể dễ dàng thu thập thông
tin để tính các chỉ số; (3) các chỉ số phải phản ánh được mục đích và mục tiêu
của giám sát và đánh giá của các cơ quan quản lý
d. Các phương pháp giám sát và đánh giá
Các phương pháp giám sát và đánh giá có thể được phân loại theo nhiều
tiêu chí khác nhau. Nếu phân loại theo mục đích của hoạt động giám sát và
5
WB, Monitoring and evaluation: some tools, methods and approaches, trang 6
11
đánh giá thì có hai phương pháp (1) giám sát và đánh giá sự thực hiện và (2)
giám sát và đánh giá dựa trên kết quả. Sự phân biệt 2 phương pháp này sẽ
được trình bày ở mục sau.
e. Quy trình giám sát và đánh giá
Về truyền thống, giám sát và đánh giá nói chung được thiết kế theo một
quy trình tương đối thống nhất bao gồm (1) Xác định mục tiêu, nội dung và
các tiêu chuẩn giám sát và đánh giá; (2) Xác định chủ thể giám sát và đánh
giá; (3) Xác định phương pháp, các công cụ và kỹ thuật giám sát đánh giá; (4)
Thu thập và phân tích dữ liệu; và (5) Báo cáo kết quả giám sát và đánh giá
1.2. Giám sát, đánh giá thực hiện và giám sát, đánh giá dựa trên kết quả
1.2.1. Giám sát và đánh giá sự thực hiện
Giám sát và đánh giá sự thực hiện là một quá trình liên tục thu thập
thông tin, phân tích số liệu về các chỉ số thực hiện công việc để so sánh liệu
các kế hoạch, các chính sách các chương trình hay các dự án đang được thực
Trọng tâm của RBM là “chuỗi kết quả” – đó là chuỗi quan hệ nhân quả
cần thiết nhằm đạt được các mục tiêu mong đợi – bắt đầu từ đầu vào, qua các
hoạt động, tạo nên đầu ra và dẫn đến các kết quả và tác động (hay còn gọi là
6
WB, 2005, Mười bước tiến tới hệ thống giám sát và đánh giá dựa trên kết quả, tr 21
Tác động (mục
tiêu tổng thể)
Các kết quả
(kết cục)
Các đầu vào
Các đầu ra
Các hoạt động
Các nguồn vật chất, tài chính và nhân lực cần thiết để tiến
hành các hoạt động
Các hoạt động và công việc cần thiết nhằm sử dụng các
nguồn lực để sản xuất các đầu ra cụ thể
Các kết quả trung hạn (được tạo ra từ các đầu ra)
Các sản phẩm, các dịch vụ tạo ra
Các ảnh hưởng dài hạn dự tính hay không dự tính, tiêu cực
hoặc tích cực (ảnh hưởng đến tổ chức, đến các bên liên quan
và đến xã hội, cộng đồng
Các
kết
quả
Sự
thực
hiện
13
mục tiêu tổng thể). Chuỗi kết quả là cơ sở để xây dựng các chỉ số giám sát và
đánh giá.
cho các cơ quan quản lý và các bên liên quan.
-Trái với giám sát và đánh giá quá trình (PME), RBME chú ý vào việc
đạt được những kết quả và những tác động quan trọng đối với tổ chức cũng
như các bên liên quan và trong nội bộ tổ chức. RBME hỗ trợ cho việc làm rõ
các mục tiêu ngắn hạn và dài hạn của tổ chức. Các cơ quan quản lý nhà nước
và các bên liên quan có thể sử dụng từ RBME cho những lập luận về ngân
sách cho các tổ chức.
-RBME giúp phát hiện những kế hoạch, những quyết định có tiềm năng
qua phát hiện những kết quả không dự kiến. RBME cũng giúp phát hiện
những điểm yếu của các kế hoạch và các quyết định và điều chỉnh các điểm
yếu này.
-RBME hỗ trợ tăng cường tính minh bạch và tính trách nhiệm trong tổ
chức, và trách nhiệm của tổ chức đối với môi trường. Xã hội thông tin ngày
càng phát triển đòi hỏi tổ chức cần phải xây dựng một hệ thống GSĐG để
chứng minh được các kết quả ngày càng tích cực của tổ chức.
1.3. Giám sát và đánh giá tài chính các trường đại học công lập dựa trên
kết quả
1.3.1. Tài chính đại học công lập
a. Tài chính đại học công lập
Tài chính đại học công lập (hay tài chính các trường đại học) là tổng hợp các
quan hệ kinh tế được biểu hiện bằng tiền tệ, gắn liền với việc hình thành và sử
dụng các quĩ tiền tệ của các trường đại học để phục vụ cho mục đích đào tạo,
giảng dạy, nghiên cứu và ứng dụng của các trường.
Đặc trưng cơ bản của tài chính đại học là bao gồm những quan hệ tài chính
theo cơ chế hướng đến mục tiêu phúc lợi xã hội và sau đó mới là mục tiêu lợi
nhuận. Ở các trường đại học, nhờ quá trình thu hút vốn, phân bổ vốn cho hoạt
15
động đào tạo và nghiên cứu mà các trường có được nguồn tài chính phục vụ
những mục đích về đào tạo của các trường.
Các quan hệ tài chính của các trường đại học công lập bao gồm
Xét theo sự vận động của các nguồn tài chính, hoạt động tài chính của
các trường đại học có thể được phân loại thành các hoạt động:
- Hoạt động thu hút và huy động các nguồn tài chính: đây là nhóm các
hoạt động đảm bảo các nguồn tài chính cho nghiên cứu và đào tạo của các
trường đại học
- Hoạt động phân bổ các nguồn tài chính: đây là nhóm các hoạt động
đảm bảo các khoản mục chi tiêu đã được dự toán sẽ có được các nguồn tài
chính để hoạt động
- Hoạt động sử dụng các nguồn tài chính: đây là nhóm hoạt động có tính
chất chuyển tài chính sang các dạng vật chất khác để đảm bảo cho hoạt động
nghiên cứu và đào tạo của các trường đại học
- Hoạt động cân đối thu chi và trích lập các quỹ trong các trường đại
học: đây là các hoạt động đảm bảo các quỹ cần thiết để tái đầu tư và đổi mới
cơ sở vật chất cho các trường đại học
d. Mối quan hệ giữa tài chính đại học công lập và các mục đích của các
trường đại học
Tài chính đại học liên quan, quyết định và bị chi phối bởi ba mục tiêu
của một trường đại học, đó là mục tiêu chất lượng, tiếp cận và hiệu quả
7
.
- Mục tiêu chất lượng: nguồn tài chính cho các trường đại học bị ảnh
hưởng rõ rệt bởi chất lượng đào tạo của các trường và ngược lại
- Mục tiêu tiếp cận: giải quyết công bằng xã hội, ai là người được hưởng
lợi từ giáo dục đại học và ai là người phải chi trả cho giáo dục đại học
- Mục tiêu hiệu quả: giải quyết mối quan hệ giữa các khoản chi phí của
7
Jonestone, D.B, 2009, financing higher education: who pays and other issues, trang 1
17
nhà nước, của sinh viên, người học, của các gia đình và những người đóng
thuế (chính là thu nhập của các trường) với đầu ra của các trường (số lượng
chính các trường đại học
Từ "kết quả" thể hiện rằng giám sát đánh giá tài chính đại học tập trung
vào các kết quả/các ảnh hưởng của các hoạt động tài chính mà không tập
trung vào bản thân các hoạt động tài chính như phạm vi của giám sát và đánh
giá tài chính đại học truyền thống
8
.
Vì vậy giám sát tài chính đại học theo định hướng kết quả là một hoạt
động theo dõi và báo cáo một cách thường xuyên những thông tin về tài chính
của các trường đại học bao gồm: thông tin về nguồn tài chính, các hoạt động
thu hút, phân bổ, sử dụng các nguồn tài chính, những đầu ra và những kết quả
dự kiến của các hoạt động tài chính của các trường. Còn đánh giá tài chính đại
học theo định hướng kết quả là hoạt động thu thập và phân tích thông tin một
cách hệ thống về các hoạt động tài chính, những đặc điểm, những kết quả và
tác động của các hoạt động tài chính nhằm xác định giá trị của các hoạt động
tài chính ở các trường đại học. Những thông tin từ hoạt động đánh giá tài
chính đại học được sử dụng để hoàn thiện, đổi mới các chính sách của các cơ
quan nhà nước đối với tài chính giáo dục đại học.
Hệ thống giám sát đánh giá tài chính dựa trên kết quả là một tập hợp
các yếu tố bao gồm các mục tiêu và các tiêu chuẩn giám sát đánh giá tài
chính, các chỉ số giám sát và đánh giá tài chính, quá trình, các công cụ, các
phương pháp và hệ thống thông tin giám sát đánh giá giám sát và đánh giá tài
chính, các kế hoạch giám sát và đánh giá, bộ máy tổ chức, các mối quan hệ
quyền hạn, trách nhiệm và phối hợp nhằm đảm bảo cho các tổ chức, các cơ
quan nhà nước hoàn thành chức năng giám sát và đánh giá tài chính một cách
một cách hiệu lực và hiệu quả nhất.
1.3.2.2. Vai trò của giám sát và đánh giá tài chính các trường đại học dựa
8
Results Based Monitoring and Evaluation, Toolkit, 2nd Edition 2009
19
quan nhà nước cần phải xây dựng một hệ thống giám sát và đánh giá để
chứng minh được các kết quả ngày càng tích cực của các can thiệp của nhà
nước, đó là cơ sở để tăng cường sự ủng hộ của cộng đồng xã hội đối với quản
lý tài chính đối với các trường đại học.
-Những thông tin công bố công khai, minh bạch của nhà nước về tài
chính của các trường đại học và những ảnh hưởng của chúng đối với chất
lượng, công bằng và hiệu quả của giáo dục đại học có vai trò chứng minh uy
tín, vị thế của các trường. Sự công nhận này như là một "hộ chiếu" để các
trường đại học nhận được sự ủng hộ của người học và có thể thâm nhập sâu
hơn vào "thị trường người học", từ đó tăng cường tiềm lực tài chính của các
trường trong tương lai.
1.3.2.3. Mục tiêu của giám sát và đánh giá tài chính đại học dựa trên kết quả
Mục tiêu của giám sát và đánh giá tài chính đại học là đảm bảo các
nguồn lực tài chính được huy động, được sử dụng, các hoạt động tài chính
được tiến hành và các đầu ra dự kiến sẽ hướng tới đạt được những kết quả,
những tác động mong muốn về chất lượng, công bằng và hiệu quả trong giáo
dục đại học.
1.3.2.4 Chủ thể giám sát và đánh giá tài chính các trường đại học
Giám sát và đánh giá tài chính đại học là một trong những nội dung của
quản lý của nhà nước đối với tài chính các trường đại học vì vậy chủ thể
giám sát chủ yếu là các cơ quan quản lý nhà nước đối với tài chính các
trường đại học.
- Các cơ quan quản lý trực tiếp các trường đại học: các trường đại học
21
công lập có sử dụng một phần vốn ngân sách nhà nước cho hoạt động đào
tạo và nghiên cứu. Vì vậy các cơ quan quản lý nhà nước đối với các trường
sẽ giám sát và đánh giá các hoạt động huy động, phân bổ và sử dụng nguồn
tài chính này nhằm đạt được các mục tiêu của giáo dục đại học. Các cơ
quan quản lý trực tiếp về tài chính đại học công lập có thể là Bộ quản lý về
giáo dục, Bộ quản lý ngành (nếu trường đại học thuộc ngành), Chính phủ
chính
- Chi phí
cho hoạt
động tài
chính
- Cơ sở
vật chất
cho hoạt
động tài
chính
- Công
nghệ
hoạt
động tài
chính
Các
hoạt
động tài
chính cơ
bản:
- Huy
động các
nguồn
tài
chính?
- Phân
bổ các
nguồn
tài chính
- Sử
khoản thu và chi?
- Sự minh bạch tài
chính của các
trường đại học?
Các kết quả
- Chất lượng giáo
dục:
+ Tỷ lệ sinh viên tốt
nghiệp bằng khá trở
lên?
+ Tỷ lệ sinh viên tốt
nghiệp đúng hoặc
sớm hơn thời hạn?
+ Trình độ chuyên
môn của giáo viên?
+ Cơ sở vật chất,
học liệu cho dạy và
học?
- Công bằng giáo
dục
+ Cơ cấu sinh viên
trúng tuyển?
+ Cơ cấu sinh viên
tốt nghiệp theo
vùng miền?
+ Mức học phí và
trợ cấp cho các đối
tượng khác nhau?
- Hiệu quả:
+ Chi phi xã
cộng đồng,
người học
và gia đình
họ?
- Khả năng
thu hút tài
chính dài
hạn?
Thực
trạng:
Tài
chính
của các
trường
đã đảm
bảo tạo
ra được
những
đầu ra,
kết quả
và
những
ảnh
hưởng
mong
muốn?
Các đầu
vào:
- Nhân
lực tài
các
nguồn tài
chính?
Các đầu ra:
- Các nguồn được
huy động? Cơ cấu?
Số lượng? Thời
gian? Mục đích chi?
- Kết quả chi cho các
khoản mục chi
thường xuyên (chi
lương, chi chuyên
môn nghiệp vụ)?
- Kết quả chi không
thường xuyên (cho
đầu tư, chi cho
nghiên cứu khoa
học)
- Khả năng chi trả và
cân đối thu chi của
các trường đại học?
- Cơ cấu nợ của các
trường?
- Quỹ để tái đầu tư?
- Việc tuân thủ
những quy đinh nhà
nước đối với các
khoản thu và chi?
- Sự minh bạch tài
chính của các trường
Các ảnh
hưởng
- Việc làm
cho sinh
viên
- Thu nhập
trung bình
sau khi tốt
nghiệp
khoảng 3
năm
- Khả năng
nâng cao
bằng cấp
(học thạc
sĩ) và các
khóa học
khác?
- Uy tín của
trường?
- Sự tín
nhiệm của
cộng đồng,
người học
và gia đình
họ?
- Khả năng
thu hút tài
chính dài
hạn?
chính của các
trường đã thay
đổi ra sao? Có
những thay đổi
nào đã xảy ra
ngoài kế hoạch?
Các kết
quả
- Các trường đang và
sẽ đạt được các kết
quả về chất lượng,
công bằng và hiệu
quả trong giáo dục
đại học?
- Trường đã đảm bảo
được sự minh bạch,
công khai về tài
chính?
- Khả năng cân đối
tài chính của trường
đã đạt được và theo
hướng đảm bảo chất
lượng, công bằng và
hiệu quả trong giáo
dục đại học ?
- Nguyên nhân
nào dẫn đến
không đạt được
hoặc chậm đạt
được những kết
chi?
- Kết quả chi cho
các khoản mục chi
thường xuyên (chi
lương, chi chuyên
môn nghiệp vụ)?
- Kết quả chi không
thường xuyên (cho
đầu tư, chi cho
nghiên cứu khoa
học)
- Khả năng chi trả
và cân đối thu chi
của các trường đại
học?
- Cơ cấu nợ của các
trường?
- Quỹ để tái đầu tư?
- Việc tuân thủ
những quy đinh nhà
nước đối với các
khoản thu và chi?
- Sự minh bạch tài
chính của các
trường đại học?
Các kết quả
- Chất lượng giáo
dục:
+ Tỷ lệ sinh viên tốt
nghiệp bằng khá trở
Các ảnh
hưởng
- Việc làm
cho sinh
viêKiểm
toán nhà
nước
bình sau khi
tốt nghiệp
khoảng 3
năm
- Khả năng
nâng cao
bằng cấp
(học thạc sĩ)
và các khóa
học khác?
- Uy tín của
trường?
- Sự tín
nhiệm của
cộng đồng,
người học
và gia đình
họ?
- Khả năng
thu hút tài
chính dài
hạn?