Xác định công thức tổ thành và chỉ số đa dạng cây gỗ cho một số ô định vị nghiên cứu sinh thái thuộc vùng Tây Nguyên và Duyên Hải Nam Trung Bộ - Pdf 25

ĐẶT VẤN ĐỀ
Ở Việt Nam, trong những năm gần đây, tình trạng lạm dụng tài nguyên
rừng vẫn thường xuyên xẩy ra và công tác quản lý chưa chặt chẽ, thêm vào đó
là sức ép về dân số, lương thực, lối sống du canh du cư làm cho rừng bị tàn
phá nhanh chóng, suy giảm cả về số lượng và chất lượng.
Có nhiều nguyên nhân làm cho diện tích rừng nước ta bị thu hẹp, chất
lượng rừng thấp, dẫn đến tác dụng phòng hộ và khả năng cung cấp gỗ và lâm
sản ngoài gỗ chưa cao. Theo đó là sự gia tăng tác hại của thiên tai, như bão,
lũ, hạn, úng … dẫn đến tổn thất lớn về tài sản, tính mạng con người và ngân
sách nhà nước.
Để khắc phục những hậu quả này, chỉ có một cách là tăng độ che phủ
của rừng. Những năm qua đã có nhiều chương trình cấp nhà nước, như
chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng, 661 và chương trình bảo vệ 9,3 triệu
ha rừng hiện có. Ngoài ra, còn có nhiều dự án của Chính phủ, của các tổ chức
nước ngoài, như PAM, SIDA… đã đem lại hiệu quả cao. Như vậy, từ cấp
quốc gia cũng như ngành lâm nghiệp đã chú trọng tới việc trồng mới và các
giải pháp phục hồi rừng tự nhiên.
Theo quan điểm sinh thái học, đặc điểm cấu trúc thể hiện rõ những mối
quan hệ qua lại giữa các thành phần của hệ sinh thái rừng và giữa chúng với
môi trường. Việc nghiên cứu cấu trúc rừng nhằm duy trì rừng như một hệ sinh
thái ổn định, có sự hài hoà của các nhân tố cấu trúc, lợi dụng tối đa mọi tiềm
năng của điều kiện lập địa và phát huy bền vững các chức năng có lợi của
rừng về kinh tế, xã hội và môi trường. Vì vậy, việc xác định các biện pháp kỹ
thuật lâm sinh tác động phù hợp nhằm sử dụng hợp lý tài nguyên rừng là
nhiệm vụ rất quan trọng. Để có cơ sở đề xuất những biện pháp kỹ thuật tác
động hợp lý và hiệu quả, cần có những hiểu biết về lâm học, mà trong đó đặc
điểm cấu trúc tổ thành được xem là một trong những cơ sở quan trọng nhất.
1
Xuất phát từ thực tiễn đó, chúng tôi thực hiện đề tài “Xác định công
thức tổ thành và chỉ số đa dạng cây gỗ cho một số ô định vị nghiên cứu
sinh thái thuộc vùng Tây Nguyên và Duyên Hải Nam Trung Bộ.” nhằm góp

cấu trúc tổ thành trong rừng tự nhiên nhiệt đới ẩm được xem như công việc
đầu tiên và quan trọng trong nghiên cứu cấu trúc rừng.
Richards.P.W (1952 [31]) đã đi sâu nghiên cứu cấu trúc rừng mưa nhịệt
đới về mặt hình thái. Theo tác giả, một đặc điểm nổi bật của rừng mưa nhiệt
đới là tuyệt đại bộ phận thực vật đều thuộc thân gỗ và tác giả đã phân biệt tổ
thành thực vật của rừng mưa thành hai loại, đó là rừng mưa hỗn hợp có tổ
thành loài cây phức tạp và rừng mưa đơn ưu có tổ thành loài cây đơn giản.
Trong những điều kiện đặc biệt thì rừng mưa đơn ưu chỉ bao gồm một vài loài
cây. Rừng mưa thường có nhiều tầng (thường có 3 tầng, ngoại trừ tầng cây
bụi và tầng cây thân cỏ). Trong rừng mưa nhiệt đới ngoài cây gỗ lớn, cây bụi
và các loài thân cỏ còn có nhiều loài cây leo đủ hình dáng và kích thước, cùng
nhiều thực vật phụ sinh trên thân hoặc cành cây. "Rừng mưa thực sự là một
quần lạc hoàn chỉnh và cầu kỳ nhất về mặt cấu tạo và cũng phong phú nhất về
mặt loài cây".
1.1.2. Về đa dạng tầng cây gỗ
Về đa dạng hệ thực vật, trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu,
đặc biệt những công trình có giá trị vào thế kỷ XIX – XX, như Thực vật chí
Ấn Độ gồm 7 tập (1872), Thực vật chí Hải Nam (1973 – 1977), Thực vật chí
Vân Nam (1997),… Tất cả các công trình đều đã nêu lên mức độ phong phú
và đa dạng của hệ thực vật rừng ở từng vùng nhất định. Tiêu biểu là công
trình của Tolmachop ở Liên Xô (cũ) (Nguyễn Bá Thụ, 1995 [23]). Tác giả đã
đưa ra nhận định, một hệ thực vật cụ thể ở vùng nhiệt đới ẩm thường có tới
1500 – 2000 loài.
Ngày nay, đa dạng sinh học đang được nhiều nhà khoa học quan tâm,
đặc biệt việc bảo vệ đa dạng sinh học đã trở thành vấn đề quốc tế mà mọi
quốc gia đều đặt vào vị trí quan trọng. Quan trọng về lĩnh vực này là công
ước bảo tồn đa dạng sinh học được thông qua tại Hội nghị thượng đỉnh toàn
cầu ở Rio De Janeiro (1992) (Nguyễn Bá Thụ, 1995). Tại đây, định nghĩa về
4
đa dạng sinh học đã được nêu một cách đầy đủ là: Đa dạng sinh học gồm 3

5
Võ Văn Sung (2005 [20]) khi nghiên cứu cấu trúc rừng tự nhiên ven
biển tại khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu cũng cho thấy cấu
trúc tổ thành ở trạng thái II
B
và III
A2
tuân theo phân bố khoảng cách.
1.2.2. Đa dạng tầng cây gỗ
Đã có nhiều tác giả Việt Nam quan tâm nghiên cứu về đa dạng sinh
học, đặc biệt là đa dạng hệ thực vật, đầu tiên phải kể đến công trình nghiên
cứu “Thảm thực vật rừng Việt Nam” của Thái Văn Trừng (1963, 1978 [24]).
Tác giả đã tổng kết và công bố công trình nghiên cứu của mình với 7004 loài
thực vật bậc cao có mạch thuộc 1850 chi và 189 họ ở Việt Nam. Ông đã nhấn
mạnh sự ưu thế của ngành thực vật hạt kín (Angiospermae) trong hệ thực vật
Việt Nam với 6336 loài chiếm 90,9%, 1727 chi chiếm 93,5% và 239 họ chiếm
82,7% trong tổng số taxon mỗi bậc. Tiếp theo là công trình “Bước đầu nghiên
cứu rừng Miền Bắc” của Trần Ngũ Phương (1970). Tác giả chia rừng miền
Bắc Việt Nam thành 3 đai với 8 kiểu.
Đến năm 1985, Phạm Hoàng Hộ đã xuất bản “Danh lục thực vật Phú
Quốc” và công bố 793 loài thực vật có mạch trên diện tích 592km
2
. Đặc biệt
có 3 quyển “cây cỏ Việt Nam” (1991 – 1993) của tác giả đã mô tả 10.500 loài
thực vật có mạch, đó là công trình đầy đủ có hình vẽ kèm theo về toàn bộ hệ
thực vật rừng Việt Nam (1985 [10]).
Xác định các nhân tố đa dạng sinh học nói chung và đa dạng cây gỗ nói
riêng có ý nghĩa quan trọng đối với việc bảo vệ và sử dụng tính đa dạng một
cách lâu bền. Tháng 5 năm 1993, dự án “Bảo vệ đa dạng sinh học ở Việt
Nam” do tổ chức hợp tác văn hóa kỹ thuật (A.C.C.T) của các quốc gia nói

nước rất đa dạng và phong phú. Tất cả các công trình nghiên cứu đều có giá
trị lý luận và thực tiễn ở những mức độ khác nhau và đều phục vụ cho mục
đích kinh doanh, lợi dụng rừng có hiệu quả và lâu dài. Trên đây mới chỉ đề
cập một số nghiên cứu về phân chia trạng thái rừng, công thức tổ thành tầng
cây gỗ, đa dạng tâng cây gỗ có liên quan đến đề tài. Những vấn đề này, đặc
biệt là công thức tổ thành và đa dạng tầng cây gỗ được các tác giả trong nước
quan tâm nhiều hơn. Xu hướng nghiên cứu cũng chuyển dần từ định tính sang
định lượng.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các trạng thái III
B
, III
B
+ Gi, IV
B
,
IV
A
trên 07 ÔĐVNCST và ở các vị trí khác nhau tại vùng Tây Nguyên và
Duyên Hải Nam Trung Bộ. Với các trạng thái đã bị tác động nhưng đã đựơc
phục hồi thì các quy luật bắt đầu ổn định nhất, đề tài nghiên cứu về chu kỳ 3
7
của các trạng thái. Từ đó cho thấy, cần phải nghiên cứu cho từng đơn vị cụ
thể mới có khả năng ứng dụng rộng rãi trong thực tiễn.
8
Chương 2
MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU
2.1. Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1. Mục tiêu tổng quát
Góp phần hoàn thiện cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc nghiên cứu

2.3.3. Chỉ số đa dạng loài
− Chỉ số đa dạng loài theo ô đo đếm
− So sánh chỉ số đa dạng loài giữa các ô đo đếm trong cùng ÔĐVNCST
và giữa các ÔĐVNCST có cùng trạng thái.
2.4. Phương pháp nghiên cứu
2.4.1. Mô tả các ô điều tra
2.4.1.1. ÔĐVNCST 149-90
ÔĐVNCST 149-90 nằm ở xã Ninh Sơn, huyện Ninh Hòa, tỉnh Khánh
Hòa, thuộc kiểu rừng gỗ lá rộng, trạng thái ưu thế là III
B
. Rừng có chức năng
phòng hộ có độ cao 300 m, độ dốc 15
0
chu kỳ điều tra 3.
2.4.1.2. ÔĐVNCST 420-79
ÔĐVNCST 420-79 nằm ở xã Đắk Kôi, huyện Kon Plông, tỉnh Kon
Tum, thuộc kiểu rừng lá rộng thường xanh trạng thái ưu thế III
B
+ Gi. Rừng
có chức năng phòng hộ, có độ cao 1670 m, độ dốc 15
0
chu kỳ điều tra 3.
2.4.1.3. ÔĐVNCST 428-89
ÔĐVNCST 428-89 nằm ở xã Cát Sơn, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định,
thuộc kiểu rừng lá rộng thường xanh, trạng thái ưu thế IV
B
. Đây là rừng
phòng hộ có độ cao 460 m, độ dốc 16
0
, chu kỳ điều tra 3.

phòng hộ đầu nguồn có độ cao 900 m, độ dốc 18
0
, chu kỳ điều tra 3.
2.4.2. Phương pháp luận tổng quát
Rừng là một thực thể phức tạp của tự nhiên, giữa các cá thể trong quần
thể và giữa cá thể với hoàn cảnh sinh thái luôn có mối liên hệ chặt chẽ, ảnh
hưởng lẫn nhau. Từ lúc hình thành đến khi già cỗi, cây rừng dần hình thành
các mối quan hệ phức tạp với các thành phần rừng. Ban đầu là sự thích nghi
với các điều kiện khí hậu, đất đai, sau đó sinh trưởng và phát triển, cạnh tranh,
tác động lẫn nhau giữa các cây rừng cùng loài hoặc khác loài. Lúc này, những
loài có quan hệ tương hỗ sẽ cùng tồn tại, ngược lại nếu là quan hệ đối lập
nhau thì loài có sức sống yếu sẽ bị đào thải hoặc tồn tại trong tình trạng bị
chèn ép. Kết quả sẽ dẫn tới sự biến đổi về thành phần và số lượng loài (tính
đa dạng thực vật), thay đổi về tầng thứ và mật độ (cấu trúc rừng), nói khác đi
là rừng đang vận động và biến đổi theo quy luật của tự nhiên.
Nhìn chung, quy luật vận động và biến đổi của rừng thay đổi theo từng
giai đoạn. Ở giai đoạn non, ít có sự cạnh tranh giữa các loài cây nên thành
phần và số lượng loài cây tái sinh lớn, tính đa dạng thực vật cao và cấu trúc
rừng đơn giản. Giai đoạn rừng khép tán, do cây rừng cạnh tranh về ánh sáng,
độ ẩm, chất dinh dưỡng nên xuất hiện sự phân hóa và tỉa thưa tự nhiên, làm
cho cấu trúc rừng ngày càng phức tạp, số lượng cây trong cùng loài giảm
xuống, thậm chí một số loài bị biến mất khỏi danh sách trong quần xã, làm
11
giảm tính đa dạng thực vật. Đến giai đoạn rừng già, cấu trúc và tính đa dạng
thực vật mới dần ổn định.
Có thể thấy, trong quá trình tiến hóa, chọn lọc tự nhiên của tất cả các
thành phần rừng là tất yếu và luôn diễn ra, lặp đi lặp nhiều lần theo chiều
hướng nhằm tiến tới hệ sinh thái rừng có cấu trúc ổn định với tính đa dạng
thực vật cao nhất.
Như vậy, quy luật vận động và biến đổi của rừng kéo theo sự biến đổi

nguyên tắc từ trái sang phải, từ trên xuống dưới), mỗi OĐĐ có diện tích
400m
2
(20m x 20m) (hình 2.3.)
20 m
2 3 4
5
6 7 8 9 10
11 12 13 14 15
16 17 18 19 20
21 22 23 24 25
Hình 2.3. Sơ đồ 1 ô đo đếm
13
(1) (2)
(4) (3)
1
0
0
0

m
1000m
500 m
5
0
0

m
Tên cây
D
(cm)
H
VN
(m)
H
dc
(m)
Phẩm
chất
Ghi chú
2.4.4. Phương pháp xử lý số liệu
Việc chỉnh lý tài liệu quan sát, lập các dãy phân bố thực nghiệm, biểu
đồ thực nghiệm, tính toán các đặc trưng mẫu, … được xử lý đồng bộ trên máy
tính với chương trình Excel 2003 và SPSS 16.0.
2.4.4.1. Phân loại trạng thái rừng hiện tại
Đề tài sử dụng phương pháp phân loại của Loeschau (1960) được Viện
Điều tra Quy hoạch rừng nghiên cứu và bổ sung. Căn cứ vào tổng tiết diện
ngang (

=
hamG /
2
), trữ lượng (

=
hamM /
3
), độ tàn che (P) và một số

: Rừng thứ sinh qua khai thác chọn kiệt, đang phục hồi,
khả năng khai thác bị hạn chế, cấu trúc rừng bị phá vỡ hoặc thay đổi cơ bản.
Kiểu phụ này có thể chia thành một số trạng thái cụ thể:
Trạng thái III
A1
: Rừng mới qua khai thác chọn kiệt, cấu trúc rừng đã bị
phá vỡ hoàn toàn, tán rừng bị phá vỡ thành từng mảng lớn, tầng trên còn sót
lại một số cây cao nhưng phẩm chất xấu, nhiều dây leo bụi rậm, tre nứa xâm
lấn. Độ tàn che S < 0,3, ∑G < 10 m
2
/ha, ∑G
D > 40
< 2 m
2
/ha, trữ lượng < 80
m
3
/ha. Tuỳ thuộc vào mật độ tái sinh mà nó có thể chia nhỏ hơn nữa.
Trạng thái III
A2
: Rừng qua khai thác kiệt bắt đầu phục hồi, đặc trưng
của trạng thái này là đã hình thành tầng giữa vươn lên chiếm ưu thế với lớp
cây đại bộ phận có đường kính 20 – 30cm. Rừng có 2 tầng trở lên, tầng trên
15
tán không liên tục được hình thành chủ yếu từ những cây cũ còn lại, còn có
những cây to khoẻ vượt tán. Độ tàn che của rừng S = 0,3 – 0,5, ∑G = 10 – 15
m
2
/ha, ∑G
D > 40

0,7, ∑G > 26 m
2
/ha, ∑G
D > 40
> 5 m
2
/ha.
Tuỳ theo nguồn gốc khác nhau của rừng được phân chia thành 2 kiểu
phụ:
Kiểu phụ IV
A
: Rừng nguyên sinh
Kiểu phụ IV
B
: Rừng thứ sinh phục hồi đã phát triển đến giai đoạn ổn
định
2.4.4.2. Tính toán các chỉ tiêu cần thiết trong ô tiêu chuẩn
a) Xác định công thức tổ thành:
+ Xác định tổng số cá thể của từng loài (n
i
)
+ Tổng số loài (m)
+ Xác định tổng số cá thể chung cho các loài

=
=
m
i
i
nN

A
2
+ … + k
n
A
n
Trong đó: A
i
là tên loài
k
i
là hệ số từng loài cây, k
i
được tính theo công thức sau:
100.
N
n
k
i
i
=
(2.2)
b) Xác định chỉ số IV%:
Chỉ số IV% được xác định theo phương pháp của Daniel Marmillod
(Vũ Đình Huề, (1984 [9]) và Đào Công Khanh, (1996 [12])
2
%%
%
GN
IV

m là số loài trong quần xã
* Mức độ đa dạng loài:
+ Hàm số liên kết Shannon – Wiener:
Đây là chỉ số đa dạng sinh học thường được vận dụng. Hàm số này
được hai tác giả là Shannon và Weiner đưa ra năm 1949 dưới dạng:

=
−=
m
i
ii
ppH
1
log
(2.5)
Trong đó: n
i
là số lượng cá thể của loài i trong quần xã
p
i
là tỷ lệ cá thể của loài i: p
i
= n
i
/N
Hoặc:
( )

−=
ii

2
11
2
2
21
/)(/)(
)()(
nHDnHD
HDHD
k
+
+
=
(2.8)
Trong đó: n
1
và n
2
là số cá thể ứng với khu vực 1 và 2 cần so sánh. Còn
phương sai của H được tính theo công thức:
2
22
2
1
)ln()(ln
)(
n
m
n
pppp

thống ngẫu nhiên với trường hợp N rất lớn so với n
i
. Với N không quá lớn so
với n
i
thì dùng công thức:









−=
m
ii
N
n
N
n
D
1
2
1
1
1
(2.11)
d) So sánh mức độ đa dạng loài giữa các OTC cùng trạng thái:

, F
2
, n
1
, n
2
là tần số luỹ tích và dung lượng ở mẫu 1 và mẫu 2.
19
Bước 2: Xác định
( )
α
D
theo công thức:
( ) ( )
21
21
.
.
nn
nn
KD
+
=
αα
(2.13)
Khi so sánh 2 mẫu, đề tài chọn K
(0.05)
= 1,36
Nếu
^

σ
là phương sai lý thuyết theo phân bố đều
Người ta chứng minh được rằng, nếu đại lượng ngẫu nhiên X có phân
phối đều trên
[ ]
ba,
thì:
( )
12
2
2
ab
lt

=
σ
(2.15)
1
=∆
thì
2
tt
σ
=
2
lt
σ
: Khi đó số loài ở các cỡ đường kính bằng nhau, sự
phong phú về kích thước của loài là cao nhất.


3 31.78 313.48 973
Ô
420-79
1 23.60 216.62 485
III
B
+ Gi2 46.37 456.47 790
3 43.10 445.22 905
Ô
428-89
1 36.82 396.15 1192
IV
B
2 36.55 397.96 999
3 37.49 417.43 932
Ô
128-84-2
1 30.02 325.87 564
IV
B
2 35.17 382.11 572
3 32.14 344.47 542
Ô
124-71
1 40.98 431.74 775
IV
A
2 36.30 406.07 833
3 44.60 493.18 707
Ô

).
Trạng thái III
B
ÔĐVNCST 149-90 thuộc kiểu rừng gỗ lá rộng. Trạng thái này trước
đây đã khai thác chọn và phục hồi phát triển khá mạnh. Rừng có chức năng
phòng hộ và cấu trúc có sự phân tầng, đa dạng về loài cây, ổn định về tổ
thành, mật độ cây tái sinh cao, chất lượng tái sinh tốt, xuất hiện nhiều loài cây
có giá trị kinh tế. Mật độ giữa các OĐĐ biến động từ 861 cây /ha đến 973
cây/ha, tổng diện ngang dao động từ 28.07 m
2
/ha đến 33.56 m
2
/ha, trữ lượng
từ 291.64m
3
/ha đến 326.57m
3
/ha.
Trạng thái III
B
+ Gi
ÔĐVNCST 420-79 thuộc kiểu rừng lá rộng thường xanh. Đây là trạng
thái rừng đặc trưng của Tây Nguyên với tầng cây gỗ phát triển mạnh, lớp cây
tái sinh mật độ lớn, cấu trúc phức tạp không đồng nhất, một số diện tích bị
khai thác chọn mạnh, cây tái sinh nhiều. Mật độ giữa các OĐĐ biến động lớn
từ 425 đến 905 cây/ha, tổng diện ngang dao động lớn từ 23.06 m
2
/ha đến
46.37 m
2

từ 325.87m
3
/ha đến 382.11m
3
/ha.
Trạng thái IV
A
ÔĐVNCST 124- 71 thuộc kiểu rừng lá rộng thường xanh. Trạng thái
này trước đây đã khai thác chọn và phục hồi phát triển khá mạnh. Rừng có
chức năng phòng hộ và cấu trúc có sự phân tầng, đa dạng về loài cây, ổn định
về tổ thành, mật độ cây tái sinh cao, chất lượng tái sinh tốt, xuất hiện nhiều
loài cây có giá trị kinh tế. Mật độ biến động khá lớn, từ 707 cây /ha đến 833
cây/ha, tổng diện ngang dao động từ 36.30 m
2
/ha đến 44.60 m
2
/ha, trữ lượng
từ 406.07m
3
/ha đến 493.18m
3
/ha.
ÔĐVNCST 128-84-1 thuộc kiểu rừng lá rộng thường xanh. Đây là
rừng phòng hộ, đây là trạng thái rừng đặc trưng của Tây Nguyên với tầng cây
gỗ phát triển mạnh lớp cây tái sinh mật độ lớn, cấu trúc ổn định, cây tái sinh
nhiều. Mật độ lâm phần khá đồng đều giữa các OĐĐ từ 698 đến 798 cây/ha,
tổng diện ngang dao động từ 39.72 m
2
/ha đến 40.70 m
2

khối, phòng trừ sâu hại, chống xói mòn đất, duy trì độ phì đất và bảo vệ môi
trường sinh thái.
Việt Nam có sự ưu đãi của thiên nhiên về điều kiện đất đai và khí hậu
nên đã có khu hệ thực vật rừng tự nhiên nhiệt đới điển hình, đồng thời cũng
mang lại tính phức tạp trong cấu trúc rừng. Chính vì vậy công tác kinh doanh
và bảo tồn rừng cũng trở nên khó khăn hơn. Theo P. W Richards (1952), rừng
mưa hỗn loài là đặc trưng điển hình phổ biến của rừng mưa, có tổ thành loài
cây phức tạp nhất, tỷ lệ những loài cây có giá trị phù hợp với mục đích kinh
doanh thường rất thấp. Theo Phùng Ngọc Lan (1986), phương pháp chung xử
lý rừng mưa là phải cải tạo theo hướng đơn giản hoá tổ thành và giảm sự
chênh lệch tuổi của các loài cây trong quần thể. Như vậy, nghiên cứu rừng tự
nhiên nhiệt đới làm cơ sở đề xuất các giải pháp lâm sinh thì cấu trúc rừng là
nội dung không thể thiếu được. Vì vậy, công thức tổ thành sẽ là chỉ tiêu phản
ánh tổng hợp vai trò của các loài cây trong hệ sinh thái rừng.
3.2.1. Tổ thành theo phần trăm số cây (N%)
Tổ thành theo phần trăm số cây tính theo công thức (2.1) và (2.2) làm
chỉ tiêu biểu thị hệ số tổ thành.
Biểu 3.2. Công thức tổ thành của các trạng thái theo N%
OĐVNCST
Ô
đo
đếm
Công thức tổ thành
Số
loài
(n)
Ô
149-90
1 26.95TTrắng + 22.88TR + 6.27TV + 4.88RRM +
4.76LH + 4.30KV + 4.07NĐ + 2.79RG + 2.67VA +

+ 2.10DN + 2.10XT + 1.88MV + 18.90CLK
56
Ô
428-89
1
15.52CChỉ + 5.79KKiền + 4.61DR + 4.53TTía +
4.03 Ư + 3.78TR + 3.52ĐPT + 3.44PM +
3.36TTrắng + 2.68NV + 2.60D + 2.27GĐ + 2.18KV
+ 2.10GV + 2.10GBL + 2.10SN + 2.01GT +
1.85BL + 1.85CR + 1.76TV + 1.51CK + 1.26CTầng
+ 1.09LH + 24.08CLK
98
2
15.92CChỉ + 4.80PM + 4.60Kkiền + 4.60LM +
4.10KV + 3.90TV + 3.60Ư + 2.90Ttía + 2.80SH +
2.70CK + 2.60TR + 2.40NVàng + 2.00DL +
2.00GĐ + 2.00GT + 2.00TTrắng + 2.00VS +
1.90GBL + 1.80BL + 1.60ĐPT + 1.60D + 1.50SLX
+ 1.40Đ + 1.30Cchim + 23.92CLK
89
3 10.30CChỉ + 9.87TV + 7.08TR + 4.40KV + 3.76Ư 94
25

Trích đoạn KẾT LUẬN, TỒN TẠI, KIẾN NGHỊ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status