KẾ TOÁN BÁN MẶT HÀNG CÁM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THƯƠNG MẠI XUẤT NHẬP KHẨU TỪ SƠN - Pdf 25

SV:Ngô Tuấn Đồng Khoa Kế toán – Kiểm toán
1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA KẾ TOÁN-KIỂM TOÁN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KẾ TOÁN BÁN MẶT HÀNG CÁM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN
THƯƠNG MẠI XUẤT NHẬP KHẨU TỪ SƠN
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN : TH.S LƯU THỊ DUYÊN
SINH VIÊN THỰC HIỆN : NGÔ TUẤN ĐÔNG
LỚP : K45D2
MÃ SINH VIÊN : 09D150092HÀ NỘI 2013
HÀ NỘI – 201
SV:Ngô Tuấn Đồng Khoa Kế toán – Kiểm toán
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết, ý nghĩa của đề tài nghiên cứu.
Bán hàng là khâu cuối cùng trong quá trình hoạt động kinh doanh của một doanh
nghiệp thương mại, là quá trình chuyển giao quyền sở hữu về hàng hóa từ tay người
bán sang người mua để nhận quyền sở hữu về tiền hoặc quyền đòi tiền ở người mua.
Đối với DN, hoạt động bán hàng chính là điều kiện tiên quyết giúp DN tồn tại và phát
triển. Thông qua hoạt động bán hàng DN nhanh chóng thu hồi được vốn kinh doanh
đồng thời tạo ra lợi nhuận.
Qua thời gian nghiên cứu em nhận thấy công tác kế toán của Công ty còn tồn tại một
số hạn chế như: chưa chi tiết các khoản phải thu khách hàng thành ngắn và dài hạn,
chưa chi tiết tài khoản 642, bán hàng chủ yếu là bán chịu gây khó khăn trong việc thu
hồi nợ………….
Từ đó em nhận thấy việc nghiên cứu kế toán bán hàng từ đó hoàn thiện những hạn
chế, tồn tại đáp ứng nhu cầu xử lý thông tin nhanh hơn, chính xác hơn, phong phú hơn

toán bán hàng tại Công ty như chính sách kế toán áp dụng, các chứng từ sử dụng và
quy trình luân chuyển chứng từ, quy trình hạch toán và lên sổ………
b. Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Tham khảo các luận văn và chuyên đề của sinh viên Trường Đại học Thương Mại
các khóa trước, thu thập các dữ liệu về chế độ, quy định của Bộ tài chính.
4.2 Phương pháp phân tích dữ liệu.
Trên cơ sở số liệu đã thu thập được, thì em đã so sánh giữa thực tế và lý luận của
chuẩn mực kế toán, đánh giá, phân tích kết quả đã thu thập, để từ đó đưa ra những
ưu điểm và hạn chế trong công tác kế toán bán hàng của Công ty cổ phần TMXNK
Từ Sơn.
5. Kết cấu của khoá luận tốt nghiệp
Kết cấu của bài khoá luận gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sỏ lý luận về kế toán bán hàng trong các doanh nghiệp thương mại
3
SV:Ngô Tuấn Đồng Khoa Kế toán – Kiểm toán
Chương 2: Thực trạng kế toán bán hàng mặt hàng cám tại công ty Cổ phần
TMXNK Từ Sơn.
Chương 3: 1 số ý kiến đề xuát nhằm hoàn thiện kế toán bán hàng tại Công ty cổ
phần TMXNK Từ Sơn.
CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN BÁN HÀNG TRONG
CÁC DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI
1.1. Một số khái niệm cơ bản và lý thuyết về kế toán bán hàng trong các doanh
nghiệp thương mại
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản
Để nghiên cứu kế toán bán hàng, trước tiên phải tìm hiểu một số khái niệm mà kế toán
bán hàng sử dụng:
- Bán hàng: Là khâu cuối cùng trong quá trình hoạt động kinh doanh của một DN
thương mại, nó chính là quá trình chuyển giao quyền sở hữu về hàng hóa từ tay người
bán sang tay người mua để nhận quyền sở hữu về tiền tệ hay quyền được đòi tiền ở
người mua.( Giáo trình kế toán tài chính DNTM Đại Học Thương Mại 2011).

- Phương thức bán đại lý: Là phương thức mà bên chủ hàng xuất hàng giao cho bên
nhận đại lý để bán. Bên đại lý sẽ đươc hưởng thù lao đại lý dưới hình thức hoa hồng
hoặc chênh lệch giá.
- Phương thức bán hàng trả góp: Khi giao cho người mua thì hàng hóa được coi là tiêu
thụ. Người mua được trả tiền mua hàng nhiều lần. Ngoài số tiền bán hàng doanh
nghiệp còn được hưởng thêm ở người mua một khoản lãi vì trả chậm.
1.1.2.2. Phương thức thanh toán
Hiện nay các DNTM thường áp dụng 2 phương thức thanh toán:
- Phương thức thanh toán trực tiếp: Là phương thức thanh toán mà quyền sở hữu về
tiền tệ sẽ được chuyển từ người mua sang người bán ngay sau khi quyền sở hữu hàng
hóa bị chuyển giao. Thanh toán trực tiếp có thể bằng tiền mặt, ngân phiếu, séc hoặc có
thể bằng hàng hóa (nếu bán theo phương thức hàng đổi hàng). Ở phương thức này sự
vận động của hàng hóa gắn liền với sự vận động của tiền tệ.
- Phương thức thanh toán chậm trả: Là phương thức thanh toán mà quyền sở hữu về
tiền tệ sẽ được chuyển giao sau 1 khoảng thời gian so với thời điểm chuyển quyền sở
hữu về hàng hóa do đó hình thành khoản công nợ phải thu khách hàng. Nợ phải thu cần
được hạch toán quản lý chi tiết cho từng đối tượng phải thu và ghi chép theo từng lần
thanh toán. Ở hình thức này sự vận động của hàng hóa và tiền tệ có khoảng cách về
không gian và thời gian.
1.1.2.3. Các phương pháp kế toán hàng tồn kho
- Phương pháp kê khai thường xuyên: Hạch toán HTK theo phương pháp kê khai
thường xuyên là phương pháp theo dõi, ghi chép và phản ánh thường xuyên, liên tục,
6
SV:Ngô Tuấn Đồng Khoa Kế toán – Kiểm toán
có hệ thống tình hình tăng (giảm) trên sổ kế toán sau mỗi lần phát sinh nghiệp vụ nhập,
xuất.
- Phương pháp kiểm kê định kỳ: Theo phương pháp này kế toán không ghi chép,
không phản ánh thường xuyên, liên tục tình hình biến động của HTK. Cuối kỳ, căn cứ
kết quả kiểm kê hàng hóa, kế toán xác định trị giá hàng tồn kho cuối kỳ và trị giá hàng
hóa xuất kho trong kỳ

có quy định khác trong chuẩn mực kế toán cụ thể.
Phù hợp
06. Việc ghi nhận doanh thu và chi phí phải phù hợp với nhau. Khi ghi nhận một khoản
doanh thu thì phải ghi nhận một khoản chi phí tương ứng có liên quan đến việc tạo ra
doanh thu đó. Chi phí tương ứng với doanh thu gồm chi phí của kỳ tạo ra doanh thu và
chi phí của các kỳ trước hoặc chi phí phải trả nhưng liên quan đến doanh thu của kỳ đó
Nhất quán
07. Các chính sách và phơng pháp kế toán doanh nghiệp đã chọn phải được áp dụng
thống nhất ít nhất trong một kỳ kế toán năm. Trường hợp có thay đổi chính sách và
phương pháp kế toán đã chọn thì phải giải trình lý do và ảnh hưởng của sự thay đổi đó
trong phần thuyết minh báo cáo tài chính.
Thận trọng
08. Thận trọng là việc xem xét, cân nhắc, phán đoán cần thiết để lập các ớc tính kế
toán trong các điều kiện không chắc chắn. Nguyên tắc thận trọng đòi hỏi:
8
SV:Ngô Tuấn Đồng Khoa Kế toán – Kiểm toán
a/ Phải lập các khoản dự phòng nhng không lập quá lớn;
b/ Không đánh giá cao hơn giá trị của các tài sản và các khoản thu nhập;
c/ Không đánh giá thấp hơn giá trị của các khoản nợ phải trả và chi phí;
d/ Doanh thu và thu nhập chỉ được ghi nhận khi có bằng chứng chắc chắn về khả năng
thu được lợi ích kinh tế, còn chi phí phải được ghi nhận khi có bằng chứng về khả năng
phát sinh chi phí.
Trọng yếu
09. Thông tin được coi là trọng yếu trong trờng hợp nếu thiếu thông tin hoặc thiếu
chính xác của thông tin đó có thể làm sai lệch đáng kể báo cáo tài chính, làm ảnh hởng
đến quyết định kinh tế của người sử dụng báo cáo tài chính. Tính trọng yếu phụ thuộc
vào độ lớn và tính chất của thông tin hoặc các sai sót được đánh giá trong hoàn cảnh cụ
thể. Tính trọng yếu của thông tin phải được xem xét trên cả phơng diện định lượng và
định tính.
* Theo chuẩn mực số 02 “ Hàng tồn kho”:

10. Doanh thu bán hàng được ghi nhận khi đồng thời thỏa mãn tất cả năm (5) điều kiện
sau:
(a) Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu
sản phẩm hoặc hàng hóa cho người mua;
(b) Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hóa như người sở hữu hàng
hóa hoặc quyền kiểm soát hàng hóa;
10
SV:Ngô Tuấn Đồng Khoa Kế toán – Kiểm toán
(c) Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn;
(d) Doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng;
(e) Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng.
11. Doanh nghiệp phải xác định thời điểm chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn
liền với quyền sở hữu hàng hóa cho người mua trong từng trường hợp cụ thể. Trong
hầu hết các trường hợp, thời điểm chuyển giao phần lớn rủi ro trùng với thời điểm
chuyển giao lợi ích gắn liền với quyền sở hữu hợp pháp hoặc quyền kiểm soát hàng
hóa cho người mua.
Trường hợp doanh nghiệp vẫn còn chịu phần lớn rủi ro gắn liền với quyền sở hữu hàng
hóa thì giao dịch không được coi là hoạt động bán hàng và doanh thu không được ghi
nhận. Doanh nghiệp còn phải chịu rủi ro gắn liền với quyền sở hữu hàng hóa dưới
nhiều hình thức khác nhau, như:
(a) Doanh nghiệp còn phải chịu trách nhiệm để đảm bảo cho tài sản được hoạt động
bình thường mà việc này không nằm trong các điều khoản bảo hành thông thường;
(b) Khi việc thanh toán tiền bán hàng còn chưa chắc chắn vì phụ thuộc vào người mua
hàng hóa đó;
(c) Khi hàng hóa được giao còn chờ lắp đặt và việc lắp đặt đó là một phần quan trọng
của hợp đồng mà doanh nghiệp chưa hoàn thành;
(d) Khi người mua có quyền huỷ bỏ việc mua hàng vì một lý do nào đó được nêu trong
hợp đồng mua bán và doanh nghiệp chưa chắc chắn về khả năng hàng bán có bị trả lại
hay không.
13. Nếu doanh nghiệp chỉ còn phải chịu một phần nhỏ rủi ro gắn liền với quyền sở hữu

- Phiếu nhập kho
12
SV:Ngô Tuấn Đồng Khoa Kế toán – Kiểm toán
- Phiếu thu (Mẫu số 01 – TT/BB):
- Phiếu chi (Mẫu số 02 – TT/BB):
Ngoài ra còn có: Bảng kê bán lẻ hàng hóa, hóa đơn cước phí vận chuyển, thuê kho bãi,
bốc dỡ hàng hóa, hợp đồng kinh tế với khách hàng, các chứng từ phản ánh tình hình
thanh toán, giấy báo nợ, báo có của ngân hàng…
1.2.2.2. Tài khoản sử dụng.
Kế toán bán hàng chủ yếu sử dụng những tài khoản sau:
* TK 511 “ Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ”: phản ánh doanh thu của khối
lượng hàng hóa đã bán, dịch vụ đã cung cấp không phân biệt đã thu được tiền hay sẽ
thu được tiền.
Kết cấu tài khoản:
- Bên nợ TK 511: phản ánh thuế XK, thuế TTĐB, thuế GTGT theo phương pháp trực
tiếp của số hàng hóa sản phẩm tiêu thụ; Các khoản chiết khấu thương mại, giảm giá
hàng bán, hàng bán bị trả lại phát sinh trong kỳ; Cuối kỳ kết chuyển Doanh thu thuần
để xác định kết quả.
- Bên có TK 511: phản ánh Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ thực tế phát sinh
trong kỳ.
TK này cuối kỳ không có số dư.
TK 511 có 4 TK cấp 2:
TK 5111 “Doanh thu bán hàng hóa”
TK 5112 “Doanh thu bán các thành phẩm”
TK 5113 “Doanh thu cung cấp dịch vụ”
TK 5118 “Doanh thu cung cấp dịch vụ khác”
13
SV:Ngô Tuấn Đồng Khoa Kế toán – Kiểm toán
* TK 632 “Giá vốn hàng bán”: Tài khoản này được dùng để phản ánh giá trị thực tế
của một số sản phẩm hàng hóa, dịch vụ đã được xác định là tiêu thụ

Số dư cuối kỳ bên có thuế GTGT phải nộp cuối kỳ.
Ngoài ra, kế toán bán hàng còn dùng một số tài khoản sau:
TK 157 “Hàng gửi bán”
TK 521 “Các khoản giảm trừ doanh thu”:
TK 5211 “Chiết khấu thương mại”
TK 5212 “Hàng bán bị trả lại”
TK 5213 “Giảm giá hàng bán”
1.2.2.3. Trình tự kế toán
Kế toán nghiệp vụ bán hàng ở DNTM kế toán hàng tồn kho theo phương pháp
kê khai thường xuyên và tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ
* Kế toán nghiệp vụ bán buôn hàng hóa
a. Kế toán bán buôn qua kho.
a1. Kế toán nghiệp vụ bán buôn theo hình thức giao hàng trực tiếp cho khách hàng.
- Khi bán thành phẩm, hàng hóa, căn cứ vào hóa đơn GTGT, phiếu thu kế toán ghi
tăng tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, phải thu khách hàng (111,112,131) theo giá
thanh toán của hàng hóa, đồng thời ghi tăng doanh thu bán hàng và thuế GTGT
phải nộp.
- Căn cứ vào phiếu xuất kho kế toán ghi tăng TK 632: giá vốn hàng hóa đồng thời
ghi giảm TK 156, 155: Trị giá hàng hóa thực tế xuất kho.
15
SV:Ngô Tuấn Đồng Khoa Kế toán – Kiểm toán
- Nếu hàng hóa bán có bao bì đi kèm tính giá riêng, kế toán ghi giá bán bao bì đã
có thuế vào bên Nợ TK 111,112,131 và phản ánh trị giá thực tế xuất kho của bao bì
vào bên Có TK 153, và thuế GTGT đầu ra của bao bì vào TK 333(33311).
a2. Kế toán nghiệp vụ bán buôn theo hình thức gửi hàng cho khách hàng.
- Căn cứ vào PXK phản ánh giá trị thực tế của hàng bán, kế toán ghi tăng TK 157:
hàng gửi bán đồng thời ghi giảm TK 156, 155: hàng hóa, thành phẩm.
- Nếu có bao bì đi kèm với hàng gửi bán tính giá riêng thì trị giá của bao bì kế
đươc ghi tăng TK 138 ( 1388): Phải thu khác theo giá xuất kho và ghi giảm TK
153: Trị giá thực tế xuất kho của bao bì.

- Khi hàng gửi bán được xác định là tiêu thụ, kế toán ghi tăng tiền mặt, tiền gửi
ngân hàng, phải thu của khách hàng đồng thời ghi tăng doanh thu và thuế GTGT
đầu ra.
- Đồng thời kế toán phản ánh trị giá vốn hàng bán vào TK 632 và ghi giảm TK 157:
hàng gửi đi bán.
c .Các trường hợp phát sinh trong bán hàng:
- Khi phát sinh các khoản chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán, kế toán phản
ánh vào Nợ TK 521, TK thuế GTGT đầu ra (TK 3331), và ghi có TK tiền mặt, tiền
gửi ngân hàng, hay phải thu khách hàng.
- Đối với hàng bán bị trả lại thì phản ánh doanh thu của hàng bán bi trả lại tương
tự như chiết khấu thương mại và giảm giá hàng bán. Nhưng nếu số hàng bị trả lại
đơn vị đã chuyển về nhập kho thì phản ánh vào TK 156, nếu chưa về nhập kho thì
phản ánh vào TK 157.
- Cuối kì kết chuyển khoản chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán, hàng bán bị
trả lại, để xác định doanh thu thuần
- Chiết khấu thanh toán: Khi thanh toán có phát sinh khoản chiết khấu thanh toán
cho khách hàng do khách hàng thanh toán sớm trước thời hạn ghi trong hợp đồng,
kế toán phản ánh số chiết khấu khách hàng được hưởng vào TK chi phí tài chính
(TK 635) và phản ánh số tiền thực thu vào TK 111,112,131.
- Trường hợp kế toán thừa, thiếu trong quá trình bán
Trường hợp hàng gửi đi bán phát sinh thiếu hàng hóa chưa xác định được
nguyên nhân, kế toán chỉ phản ánh doanh thu theo số tiền bên mua chấp nhận thanh
toán và trị giá hàng hóa thiếu phản ánh vào TK 1381
Trường hợp phát sinh thừa chưa xác định được nguyên nhân, kế toán chỉ
phản ánh doanh thu theo hóa đơn bên mua đã chấp nhận thanh toán, trị giá hàng
thừa kế toán phản ánh vào TK 3381.
* Kế toán nghiệp vụ bán lẻ hàng hóa:
- Hàng ngày hoặc định kì, khi nhận được bảng kê bán hàng hóa của mậu dịch viên,
kế toán xác định giá bán chưa thuế, thuế GTGT đầu ra của hàng hóa đã tiêu thụ.
17

- Đồng thời kế toán ghi: Có TK 003: Trị giá hàng hóa nhận đại lý đã tiêu thụ
- Khi thanh toán tiền cho bên giao đại lý kế toán ghi giảm tiền mặt hoặc tiền gửi
ngân hàng.
* Kế toán bán hàng trả góp và các trường hợp xuất khác được coi là hàng bán.
a. Kế toán bán hàng trả góp
18
SV:Ngô Tuấn Đồng Khoa Kế toán – Kiểm toán
Khi hạch toán bán hàng trả góp, doanh thu được ghi nhận theo giá bán ngay (hoặc
giá bán thông thường), thuế GTGT tính trên giá bán trả ngay, phần chênh lệch giữa
giá bán trả góp (bằng giá bán trả ngay cộng lãi trả góp) với giá bán trả ngay gọi là
lãi do bán hàng trả góp và được hạch toán vào doanh thu nhận trước. Định kỳ khi
thu tiền, kế toán phản ánh phần lãi của từng kỳ vào doanh thu hoạt động tài chính.
- Khi xuất hàng bán giao cho khách hàng, kế toán ghi nhận doanh thu bán hàng
theo giá bán trả ngay chưa có thuế, lãi trả góp phản ánh vào TK 3387
- Kế toán xác định giá vốn hàng hóa đã bán trả góp
- Định kỳ thu nợ của khách hàng: phản ánh số tiền thu về từng kỳ đồng thời ghi
nhận lãi trả góp từng kỳ vào doanh thu hoạt động tài chính ( TK 515)
b. Trường hợp xuất hàng hóa để trả lương cán bộ công nhân viên
Trường hợp này được hạch toán như tiêu thụ hàng hóa ra bên ngoài nhưng
ghi nhận theo doanh thu bán hàng nội bộ và xác định giá vốn hàng bán.
c. Trường hợp xuất bán hàng hóa ra để đổi lấy hàng hóa khác:
- Hàng hóa xuất ra để đổi lấy hàng hóa khác cùng loại, cùng giá (trao đổi cùng bản
chất) thì kế toán viên vẫn lập hóa đơn phản ánh hàng đổi hàng nhưng không ghi
nhận doanh thu.
- Hàng hóa xuất ra để đổi lấy hàng hóa khác loại, khác giá (trao đổi không cùng
bản chất). Nếu DN nhận hàng trước rồi mới trả hàng sau, hàng hóa coi như mua
chịu, đồng thời kế toán ghi trị giá vốn của số hàng xuất trao đổi. Nếu DN giao hàng
trước rồi mới nhận hàng sau thì hàng hóa coi như bán chịu, kế toán phản ánh doanh
thu theo giá hợp lí của số hàng đem trao đổi. Đồng thời kế toán phản ánh giá vốn
của số hàng xuất trao đổi. Khi nhận hàng kế toán phản ánh giá hợp lý của hàng hóa

ánh vào bên nợ TK 611 “ Mua hàng”
- Cuối kì, căn cứ vào kết quả kiểm kê hàng hóa tồn kho kế toán phản ánh trị
giá hàng hóa tồn kho cuối kì vào TK 611.
- Đồng thời xác định và kết chuyển trị giá vốn thực tế của hàng hóa đã tiêu thụ
trong kì vào TK 632
1.2.2.4. Sổ kế toán theo quyết định 48
Doanh nghiệp được áp dụng 1 trong 4 hình thức kế toán sau và phải áp dụng nhất quán
ít nhất trong 1 năm tài chính:
- Hình thức kế toán Nhật ký chung;
- Hình thức kế toán Nhật ký - Sổ Cái;
- Hình thức kế toán Chứng từ ghi sổ;
- Hình thức kế toán trên máy vi tính.
20
SV:Ngô Tuấn Đồng Khoa Kế toán – Kiểm toán
- Hình thức kế toán Nhật ký chung
Đặc trưng cơ bản của hình thức kế toán Nhật ký chung: Tất cả các nghiệp vụ kinh tế,
tài chính phát sinh đều phải được ghi vào sổ Nhật ký, mà trọng tâm là sổ Nhật ký
chung, theo trình tự thời gian phát sinh và theo nội dung kinh tế (định khoản kế toán)
của nghiệp vụ đó. Sau đó lấy số liệu trên các sổ Nhật ký để ghi Sổ Cái theo từng
nghiệp vụ phát sinh.
- Hình thức kế toán Nhật ký - Sổ Cái
Đặc trưng cơ bản của hình thức kế toán Nhật ký - Sổ Cái: Các nghiệp vụ kinh tế, tài
chính phát sinh được kết hợp ghi chép theo trình tự thời gian và theo nội dung kinh tế
(theo tài khoản kế toán) trên cùng một quyển sổ kế toán tổng hợp duy nhất là sổ Nhật
ký - Sổ Cái. Căn cứ để ghi vào sổ Nhật ký - Sổ Cái là các chứng từ kế toán hoặc Bảng
tổng hợp chứng từ kế toán cùng loại.
- Hình thức kế toán Chứng từ ghi sổ
Đặc trưng cơ bản của hình thức kế toán Chứng từ ghi sổ: Căn cứ trực tiếp để ghi sổ
kế toán tổng hợp là “Chứng từ ghi sổ”. Việc ghi sổ kế toán tổng hợp bao gồm:
+ Ghi theo trình tự thời gian trên Sổ Đăng ký Chứng từ ghi sổ;

mở sổ chi tiết, tài khoản chi tiết…… và các giải pháp còn chung chung thiếu thực tiễn.
Một số công trình mà em đã tham khảo như:
- Chuyên đề: “ Kế toán bán hàng linh kiện máy tính tại Công ty TNHH thương
mại dịch vụ công nghệ thông tin- TSI” của sinh viên Tô Hồng Nhiệm- HK1A- K5
năm 2011 đại học Thương mại.
- Chuyên đề tốt nghiệp “Kế toán bán điều hòa tại Công ty cổ phần công nghệ
ASA” của sinh viên Hồ Thị Xuân Hải Lớp K5HK1C đại học Thương mại năm 2011.
- Chuyên đề tốt nghiệp “Hoàn thiện kế toán bán mặt hàng máy vi tính tại Công Ty
Cổ Phần Phát Triển Công Nghệ Nam Việt” của sinh viên Nguyễn Thị Hồng Yến
K44D Đại học Thương mại năm 2012.
2.1.2. Đánh giá ảnh hưởng của nhân tố môi trường đến kế toán bán hàng trong
doanh nghiệp thương mại.
23
SV:Ngô Tuấn Đồng Khoa Kế toán – Kiểm toán
2.1.2.1. Giới thiệu khái quát về đơn vị
a. Quá trình hình thành và phát triển.
Công ty CP Thương mại XNK Từ sơn là một Công ty cổ phần hạch toán kinh tế độc
lập, tự chủ về tài chính, có tư cách pháp nhân và chịu sự quản lý trực tiếp của Cục thuế
Tỉnh Bắc Ninh.
Tên Công ty: Công ty CP Thương mại Xuất Nhập Khẩu Từ Sơn
Địa chỉ: Số 9 phố Minh Khai, phường Đông ngàn, TX Từ Sơn – Tỉnh Bắc Ninh
Điện thoại: 0241.3831628
Năm 2001 công ty được thành lập và bắt đầu đi vào hoạt động với tổng số
diện tích là: 4.200m2, với tổng số công nhân viên là 38 người, do mới hình thành
nên số vốn của công ty có : 3.339.601.585đồng.
Sau 2 năm đi vào hoạt động, sang năm 2003 công ty đã mở rộng được sang nhiều thị
trường khác lân cận và số lượng cán bộ cũng tăng thêm 22 người.
Đến nay công ty đã đi vào hoạt động tương đối ổn định nên đã có nhiều cổ đông góp
vốn. Lúc này tổng số vốn của công ty là: 9.900.000.000đồng.
* Ngành nghề kinh doanh: KD thương mại tổng hợp

chịu sự giám sát của Hội đồng quản trị và chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị và
trước pháp luật về việc thực hiện các quyền và nhiệm vụ được giao.
Lập chương trình, kế hoạch hoạt động của hội đồng quản trị. tổ chức các chương
trình, nội dung, tài liệu phục vụ cuộc họp. Tổ chức và giám sát quá trình thực hiện các
quyết định của hội đồng quản trị đề ra.
* Giám đốc công ty:
25

Trích đoạn CA BRANCH TRANSFER 10/06/ Những hạn chế, tồn tại, nguyên nhân.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status