TÓM LƯỢC
Hàng tồn kho là một phần quan trọng trong tài sản lưu động và nằm ở nhiều
khâu trong quá trình cung ứng sản xuất, dự trữ và lưu thông của nhiều doanh
nghiệp. Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới đang suy thoái và nhiều đối thủ cạnh
tranh lớn mạnh tham gia vào nền kinh tế, việc quan tâm đến vấn đề về hàng tồn kho
càng trở lên quan trọng với các doanh nghiệp trong nước. Trong công tác hàng tồn
kho, công tác kế toán hàng tồn kho là một trong những hoạt động chính, quyết định
tính hiệu quả của công tác hàng tồn kho nói chung, vì vậy kế toán hàng tồn kho rất
quan trọng trong các doanh nghiệp.
Nhận thức được vai trò và vị trí to lớn của kế toán hàng tồn kho em đã
nghiên cứu, cập nhật những quy định pháp lý mới nhất về kế toán hàng tồn kho
trong doanh nghiệp thương mại, cũng như hoạt động kế toán hàng tồn kho và chọn
lọc những nội dung quan trọng nhất trên thực tiễn thu thập ở công ty cổ phần điện
máy Hà Nội để đưa vào khóa luận tốt nghiệp của mình.
Đề tài khóa luận: “ Kế toán hàng tồn kho tại công ty cổ phần điện máy Hà
Nội”.
Khóa luận gồm có phần mở đầu và được chia làm 3 chương cụ thể:
- Chương I: Cơ sở lý luận của kế toán hàng tồn kho
- Chương II: Thực trạng kế toán hàng tồn kho tại công ty cổ phần điện máy Hà Nội
- Chương III: Các kết luận và giải pháp hoàn thiện kế toán hàng tồn kho trong công
ty cổ phần điện máy Hà Nội
i
LỜI CẢM ƠN
Qua quá trình học tập, nghiên cứu tại trường Đại học Thương Mại, và đặc
biệt qua thời gian thực tập tại Công ty Cổ phần Điện máy Hà Nội, em đã tích lũy
được rất nhiều kiến thức và kinh nghiệm quý báu cho tương lai của mình. Em xin
chân thành cảm ơn các thầy cô hướng dẫn, ban lãnh đạo và các phòng ban Công ty
Cổ phần Điện máy Hà Nội đã tận tình giúp đỡ và truyền đạt kiến thức để em có thể
hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này.
Đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Ths. Đàm Bích Hà – Trường Đại
học Thương Mại, người đã giúp đỡ em nhiệt tình trong quá trình thực hiện khóa
quản lý có thể đưa ra quyết định kinh tế hữu hiệu hơn như các quyết định về mua
vào dự trữ và bán ra với số lượng là bao nhiêu? Kế toán hàng tồn kho đáp ứng nhu
cầu quản lý về mặt số lượng, giá trị, chủng loại, được chi tiết theo từng địa điểm,
thời gian, không gian nhất định, giúp cho việc quản lý của doanh nghiệp được chặt
chẽ.
Kế toán hàng tồn kho có ý nghĩa vô cùng to lớn trong khi lập báo cáo tài
chính, vì nếu sai lệch giá trị hàng tồn kho, sẽ làm sai lệch các chỉ tiêu trên báo cáo
tài chính. Nếu giá trị hàng tồn kho bị sai, dẫn đến giá trị tài sản lưu động và tổng giá
trị tài sản của doanh nghiệp thiếu chính xác, giá vốn hàng bán tính sai lệch sẽ làm
cho chỉ tiêu lãi gộp, lãi dòng của doanh nghiệp không còn chính xác. Hơn nữa, hàng
hóa tồn kho cuối kỳ của kỳ này còn hàng hóa tồn kho đầu kỳ của kỳ tiếp theo. Do
đó, sai lầm sẽ được chuyển tiếp qua kỳ sau và gây nên sai lầm liên tục qua các kỳ
của giá vốn hàng bán, lãi gộp và lãi thuần. Không những thế, số tiền của hàng hóa
tồn kho thường rất lớn nên sự sai lầm có thể làm ảnh hưởng một cách rõ ràng đến
tính hữu dụng của báo cáo tài chính.
Kế toán hàng tồn kho cũng là công cụ đắc lực cung cấp những thông tin
chính xác, đầy đủ về trị giá vốn hàng tiêu thụ để giúp cho việc tính toán kết quả
kinh doanh và từ đó nhà quản lý có sách lược kinh doanh phù hợp.
Như vậy, ta thấy rằng hàng tồn kho là một yếu tố rất quan trọng của các
doanh nghiệp thương mại. Chính vì thế việc nghiên cứu về kế toán hàng tồn kho
trong doanh nghiệp là rất cần thiết.
v
Qua tìm hiểu ở công ty cổ phần Điện Máy Hà Nội thì công tác kế toán hàng
tồn kho cũng được quan tâm rất nhiều, tuy nhiên về khâu tổ chức, quản lý còn nhiều
lúng túng. Vẫn còn nhiều bất cập trong quá trình luân chuyển chứng từ, sử dụng tài
khoản, phương pháp tính giá, lập dự phòng, mở các tài khoản chi tiết….Vì vậy,
công tác này chưa có định hướng một cách khoa học, đầy đủ, nhằm phát huy tối đa
vai trò của của nó.
Như vậy, việc nghiên cứu về công tác kế toán hàng tồn kho tại công ty cổ
phần điện máy Hà Nội là rất cần thiết.
công ty cổ phần Điện Máy Hà Nội.
Để đảm bảo tính toàn diện, khách quan, đề tài sử dụng phối hợp cả hai nhóm
phương pháp nghiên cứu dữ liệu thứ cấp và sơ cấp. Tuy nhiên, Dựa trên điều kiện
của bản thân, em chủ yếu dựa vào dữ liệu thứ cấp để nghiên cứu.
4.1. Phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu sơ cấp
Về cơ bản có hai phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp là phương pháp phỏng vấn và
phương pháp điều tra.
- Phương pháp phỏng vấn: có thể thực hiện trực tiếp hoặc gián tiếp. Phương
pháp này được thực hiện qua 3 bước:
Bước 1: Lập kế hoạch phỏng vấn:
+ Xác định đối tượng phỏng vấn: Giám đốc, Các nhân viên phòng kế toán
+ Dự kiến các câu hỏi phỏng vấn: Hệ thống các câu hỏi tập trung vào các vấn
đề cần làm rõ: tổ chức công tác kế toán, hệ thống chứng từ, tài khoản, sổ sách sử
dụng trong kế toán hàng tồn kho
+ Xác định thời gian phỏng vấn và thông báo trước cho người được phỏng vấn.
Bước 2: Thực hiện phỏng vấn: Khi phỏng vấn cần nêu ra các câu hỏi một cách ngắn
gọn, dễ hiểu. Quan sát, lắng nghe câu trả lời và ghi chép cẩn thận, chi tiết lại.
Bước 3: Tổng hợp kết quả.
- Phương pháp điều tra: Được tiến hành thông qua phiếu điều tra.
+ Số người cần phát phiếu: Giám đốc, Kế toán trưởng, các kế toán viên.
+ Bảng câu hỏi được thiết kế dưới hình thức trắc nghiệm để đối tượng phỏng
vấn chỉ cần chọn đáp án và khoanh tròn vào. (Phụ lục số 1)
+ Thu hồi bảng câu hỏi và tổng hợp kết quả trắc nghiệm. (Phụ lục số 2)
4.2. Thu thập dữ liệu thứ cấp:
Nghiên cứu tài liệu giống như quan sát hệ thống một cách gián tiếp. Thông qua việc
nghiên cứu tài liệu viết mà có được hình dung tổng quan về hệ thống. Các tài liệu
viết cần được nghiên cứu thường khá đa dạng, như:
+ Tài liệu giao dịch như hóa đơn, chứng từ: Phiếu nhập kho, Phiếu chi, Giấy
báo Nợ, hóa đơn GTGT
vii
vii
i
thực trạng thực hiện kế toán hàng tồn kho và mối quan hệ giữa kế toán hàng tồn kho
với công tác mua vào bán ra của doanh nghiệp.
- Chương III: Các kết luận và giải pháp hoàn thiện kế toán hàng tồn kho trong
công ty cổ phần điện máy Hà Nội. Trong chương này em đã chỉ rõ những mặt mạnh
và mặt còn hạn chế khi thực hiện công tác kế toán hàng tồn kho tại công ty cổ phần
điện máy Hà Nội. Căn cứ vào thực trạng đã nghiên cứu ở phần hai, em đưa ra hệ
thống giải pháp, có một số kiến nghi đề xuất đối với các cơ quan, tổ chức có vai trò
quan trọng đối với hoạt động kế toán hàng tồn kho của công ty cổ phần điện máy
Hà Nội nhằm thúc đẩy và hỗ trợ công ty thực hiện hiệu quả công tác kế toán hàng
tồn kho
ix
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA KẾ TOÁN HÀNG TỒN KHO
1.1. Một số định nghĩa, khái niệm cơ bản
1.1.1. Khái niệm hàng tồn kho
+ Theo chuẩn mực kế toán quốc tế số 02 (IAS 02): “ Hàng tồn kho là những
tài sản được giữ để bán trong kì sản xuất kinh doanh bình thường; đang trong quá
trình sản xuất ra các thành phẩm để bán hoặc dưới hình thức nguyên vật liệu, vật
dụng sẽ được sử dụng trong quá trình sản xuất hoặc cung cấp dịch vụ.”
Theo đó, hàng tồn kho của doanh nghiệp bao gồm: hàng hóa mua vào để bán
ra, thành phẩm tồn kho trong kỳ, vật dụng chuẩn bị đưa vào quá trình sản xuất, giá
trị của sản phẩm dở dang. Đồng thời theo ISA 02, hàng tồn kho của doanh nghiệp
không bao gồm chi phí xây dựng dở dang phát sinh từ các hợp đồng xây dựng dở
dang phát sinh từ các hợp đồng xây dựng; các công cụ tài chính; gia súc, gia cầm,
nông sản và các quặng khoáng sản của các nhà sản xuất. Như vậy, chuẩn mực kế
toán quốc tế số 02 đã đưa ra khái niệm hàng tồn kho, phạm vi hàng tồn kho và khái
quát hóa được những đặc điểm của hàng tồn kho giúp cho việc xác định nội dung cụ
thể của hàng tồn kho trong doanh nghiệp thuộc các loại hình kinh doanh khác nhau.
+ Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam VAS 02: “ Hàng tồn kho là tài sản :
liên doanh, liên kết, được biếu tặng v.v
Cách phân loại này giúp cho việc xác định các yếu tố cấu thành trong giá gốc
hàng tồn kho, nhằm tính đúng, tính đủ giá gốc hàng tồn kho theo từng nguồn hình
thành. Qua đó, giúp doanh nghiệp đánh giá được mức độ ổn định của nguồn hàng
trong quá trình xây dựng kế hoặch, dự toán về hàng tồn kho.
+ Phân loại theo địa điểm bảo quản và sử dụng hàng tồn kho chia thành:
- Hàng tồn kho đang đi trên đường: là hàng tồn kho doanh nghiệp mua ngoài
đã thuộc quyền sơ hữu của doanh nghiệp nhưng còn đang trên đường vận chuyển về
doanh nghiệp hoặc đã về đến doanh nghiệp nhưng chưa được kiểm nhận nhập kho.
- Hàng tồn kho: là những hàng tồn kho đang được bảo quản trong các kho,
quầy của doanh nghiệp.
- Hàng tồn kho đang trong quá trình sản xuất: là những hàng tồn kho đang
trong quá trình sản xuất chế tạo chưa tạo thành sản phẩm.
2
- Hàng gửi bán: là những hàng tồn kho được doanh nghiệp gửi đi cho khách
hàng hoặc gửi các đại lý bán nhưng chưa xác định đươc tiêu thụ.
Cách phân loại này giúp quản lý hàng tồn kho gắn với trách nhiệm vật chất
của từng bộ phận, cá nhân trong quá trình bảo quản và sử dụng hàng tồn kho.
+ Phân loại căn cứ vào mối liên hệ với các quá trình kinh doanh hàng tồn kho chia
thành:
- Hàng tồn kho liên quan đến quá trình mua hàng: là những hàng tồn kho
được hình thành từ quá trình mua hàng như nguyên vật liệu, công cụ, dụng cụ, hàng
hóa mua ngoài;
- Hàng tồn kho liên quan đến quá trình sản xuất: là những hàng tồn kho vẫn
nằm trong quá trình sản xuất như sản phẩm dở dang.
- Hàng tồn kho liên quan đến quá trình bán hàng: là những hàng tồn kho
đang ở vị trí sẵn sàng để bán như thành phẩm, hàng hóa.
Cách phân loại này giúp quản lý hàng tồn kho kho với quản lý các quá trình
sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp.
1.2. Nội dung nghiên cứu về kế toán hàng tồn kho
• Xác định giá gốc hàng tồn kho
Giá gốc hàng tồn kho được xác định tùy thuộc vào nguồn hình thành, cụ thể:
- Đối với hàng tồn kho được mua ngoài:
- Đối với hàng tồn kho do doanh nghiệp tự gia công - chế biến
Giá gốc hàng
tồn kho
=
Trị giá thực tế của hàng tồn
kho xuất gia công chế biến
+
Chi phí chế
biến
- Đối với hàng tồn kho thuê ngoài gia công chế biến
Giá gốc
hàng tồn kho
=
Trị giá thực tế của hàng tồn
kho xuất gia công chế biến
+
Chi phí
giao,
nhận
+
Tiền công
gia công
- Đối với hàng tồn kho nhận góp vốn liên doanh, cổ phần thì giá thực tế là giá do
các bên tham gia góp vốn đánh giá.
b. Ghi nhận cuối kì
4
Giá gốc
kho thuộc lô nào và đơn giá thực tế của lô đó để tính trị giá vốn thực tế của vật tư,
hàng hoá xuất kho.
Phương pháp tính theo giá đích danh được áp dụng đối với doanh nghiệp có ít
loại mặt hàng hoặc mặt hàng ổn định và nhận diện được.
(b) Phương pháp bình quân gia quyền:
Theo phương pháp bình quân gia quyền, giá trị của từng loại hàng tồn kho
được tính theo giá trị trung bình của từng loại hàng tồn kho tương tự đầu kỳ và giá
trị từng loại hàng tồn kho được mua hoặc sản xuất trong kỳ. Giá trị trung bình có
thể được tính theo thời kỳ hoặc vào mỗi khi nhập một lô hàng về, phụ thuộc vào
tình hình của doanh nghiệp.
(c) Phương pháp nhập trước, xuất trước;
Phương pháp nhập trước, xuất trước áp dụng dựa trên giả định là hàng tồn kho
được mua trước hoặc sản xuất trước thì được xuất trước, và hàng tồn kho còn lại
cuối kỳ là hàng tồn kho được mua hoặc sản xuất gần thời điểm cuối kỳ. Theo
phương pháp này thì giá trị hàng xuất kho được tính theo giá của lô hàng nhập kho
ở thời điểm đầu kỳ hoặc gần đầu kỳ, giá trị của hàng tồn kho được tính theo giá của
hàng nhập kho ở thời điểm cuối kỳ hoặc gần cuối kỳ còn tồn kho.
(d) Phương pháp nhập sau, xuất trước.
5
Phương pháp nhập sau, xuất trước áp dụng dựa trên giả định là hàng tồn kho
được mua sau hoặc sản xuất sau thì được xuất trước, và hàng tồn kho còn lại cuối
kỳ là hàng tồn kho được mua hoặc sản xuất trước đó. Theo phương pháp này thì
giá trị hàng xuất kho được tính theo giá của lô hàng nhập sau hoặc gần sau cùng, giá
trị của hàng tồn kho được tính theo giá của hàng nhập kho đầu kỳ hoặc gần đầu kỳ
còn tồn kho.
1.2.1.2. Kế toán hàng tồn kho theo quy định của chế độ kế toán kế toán (Ban hành
và công bố theo Quyết định số 149/2001/QĐ-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2001 của
Bộ trưởng Bộ Tài chính)
a. Chứng từ kế toán
Tổ chức chứng từ kế toán hàng tồn kho là quá trình tổ chức việc lập, ghi
Như vậy, theo phương pháp này, thủ kho phải mở thẻ (sổ) kế toán chi tiết để theo
dõi cả về số lượng còn kế toán phải mở thẻ (sổ) kế toán chi tiết để theo dõi cả về số
lượng và giá trị từng thứ, từng loại hàng tồn kho. Qui trình kế toán cụ thể:
- Tại kho: Thủ kho sử dụng “thẻ kho” để gi chép hàng ngày tình hình nhập, xuất,
tồn kho của từng thử vật tư, hàng hóa theo chỉ tiêu số lượng trên cơ sở các chứng từ
nhập, xuất hàng tồn kho.
- Tại phòng kế toán: Kế toán sử dụng sổ kế toán chi tiết để ghi chép hàng ngày
tình hình nhập – xuất cho từng vật tư, hàng hóa theo chỉ tiêu số lượng và giá trị của
từng thứ vật tư, hàng hóa trên cơ sở các chứng từ nhập, xuất hàng tồn kho.
Cuối tháng, thủ kho và kế toán hàng tồn kho tiến hành đối chiếu số liệu giữa thẻ
kho và sổ chi tiết. Sau đó, căn cứ vào sổ chi tiết, kế toán lập bảng kê tồng hợp nhập
– xuất – tồn đối chiếu với số liệu trên sổ kế toán tổng hợp.
c. Kế toán tổng hợp hàng tồn kho tại doanh nghiệp thương mại
c1. Phương pháp tổ chức kế toán tổng hợp hàng tồn kho
Phương pháp tổ chức kế toán hàng tồn kho gồm có 2 phương pháp: phương
pháp kê khai thường xuyên và phương pháp kiểm kê định kì.
+ Phương pháp kê khai thường xuyên:
• Phương pháp KKTX theo dõi và phản ánh thường xuyên liên tục có hệ thống
tình hình + Nhập - Xuất - Tồn kho hàng tồn kho trên sổ kế toán.
• Sử dụng TK nhóm 15 để phản ánh biến động (tăng, giảm )HTK trong kỳ trên
cơ sở chứng từ kế toán. Do vậy, có thể xác định trị giá HTK tại bất cứ thời
điểm nào trong kỳ kế toán. Cuối kỳ kế toán, căn cứ vào số liệu kiểm kê thực
7
tế vật tư, hàng hoá tồn kho, so sánh với số liệu vật tư, hàng hoá tồn kho trên
sổ kế toán. Về nguyên tắc số liệu tồn kho thực tế luôn luôn phù hợp với số
liệu trên sổ kế toán. Nếu có chênh lệch phải xác định nguyên nhân và xử lý
theo quyết định của cấp có thẩm quyền.
• Tính giá vốn xuất kho căn cứ các chứng từ xuất kho và phương pháp tính giá
áp dụng: Giá thực tế xuất = Số lượng xuất x Đơn giá tính cho hàng xuất.
Ưu điểm: Phương pháp này có độ chính xác cao và cung cấp thông tin về hàng tồn
- Hàng hoá mua vào dùng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch
vụ thuộc đối tượng chịu thuế GTGT tính theo phương pháp trực tiếp hoặc dùng vào
hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ không thuộc đối tượng chịu thuế
GTGT, thì giá gốc hàng hoá mua vào được phản ánh theo tổng giá thanh toán (Bao
gồm cả thuế GTGT đầu vào).
2. Giá gốc của hàng hoá mua vào được tính theo từng nguồn nhập và phải
theo dõi, phản ánh riêng biệt trị giá mua và chi phí thu mua hàng hoá.
3. Để tính giá trị hàng hoá xuất kho, kế toán có thể áp dụng một trong bốn
phương pháp tính giá trị hàng tồn kho theo quy định trong Chuẩn mực kế toán số 02
“Hàng tồn kho”.
4. Chi phí thu mua hàng hoá trong kỳ được tính cho hàng hoá tiêu thụ trong
kỳ và hàng hoá tồn kho cuối kỳ. Việc lựa chọn tiêu thức phân bổ chi phí thu mua
hàng hoá tuỳ thuộc tình hình cụ thể của từng doanh nghiệp nhưng phải thực hiện
theo nguyên tắc nhất quán.
5. Kế toán chi tiết hàng hoá phải thực hiện theo từng kho, từng loại, từng
nhóm, thứ hàng hoá.
- Trình tự hạch toán (kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường
xuyên, doanh nghiệp nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ)
Doanh nghiệp thương mại với 2 hoạt động chủ yếu là hoạt động mua hàng hoá
và hoạt động xuất kho bán hàng hóa cho người tiêu dùng hay các đơn vị trung gian.
Vì thế, kế toán hàng tồn kho chủ yếu gồm các nghiệp vụ liên quan đến tình hình
nhập biến động ( nhập, xuất) theo giá thực tế của các loại hàng hóa trong doanh
nghiệp.
Cụ thể:
• Khi mua hàng hóa nhập kho kế toán căn cứ hóa đơn mua về và các chứng từ
liên quan phản ánh ghi tăng giá trị hàng hóa, đồng thời ghi giảm tiền mặt,
9
tiền gửi ngân hàng hoặc tăng phải trả người bán. Nếu phát sinh chi phí trong
quá trình mua thì ghi tăng chi phí thu mua, tăng thuế GTGT đầu vào được
khấu trừ. Trường hợp doanh nghiệp được hưởng chiết khấu, giảm giá, được
dõi về hiện vật và giá trị trên sổ kế toán chi tiết theo nơi sử dụng, theo đối tượng
thuê và người chịu trách nhiệm vật chất. Đối với công cụ, dụng cụ có giá trị lớn,
quý hiếm phải có thể thức bảo quản đặc biệt.
5. Đối với các công cụ, dụng cụ có giá trị nhỏ xuất dùng cho sản xuất, kinh doanh
phải ghi nhận toàn bộ một lần vào chi phí sản xuất, kinh doanh.
6. Trường hợp xuất dùng công cụ, dụng cụ một lần có giá trị lớn và có thời gian sử
dụng vào sản xuất, kinh doanh dưới một năm thì giá trị công cụ, dụng cụ xuất dùng
được ghi vào Tài khoản 142 “Chi phí trả trước ngắn hạn” và phân bổ dần vào chi
phí sản xuất, kinh doanh cho các kỳ kế toán tháng hoặc quý trong năm.
7. Trường hợp công cụ, dụng cụ xuất dùng vào sản xuất, kinh doanh có giá trị lớn
và có thời gian sử dụng cho sản xuất, kinh doanh trên một năm thì giá trị công cụ,
dụng cụ xuất dùng được ghi vào Tài khoản 242 “Chi phí trả trước dài hạn” và phân
bổ dần vào chi phí sản xuất, kinh doanh.
- Trình tự hạch toán (kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường
xuyên, doanh nghiệp nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ).
Công cụ dụng cụ trong doanh nghiệp thương mại chỉ dùng để hỗ trợ cho việc bán
hàng. Vì vậy, người ta kế toán theo dõi công cụ dụng cụ thông qua các hoạt động
nhập, xuất.
+ Khi nhập kho, công cụ dụng cụ được hạch toán tương tự như mua hàng
hóa.
+ Khi xuất kho, trị giá công cụ dụng cụ giảm, ghi tăng chi phí bán hàng
(Phụ lục số 4: Trình tự hạch toán kế toán công cụ dụng cụ)
- Sổ kế toán
Nếu áp dụng theo hình thức kế toán nhật ký chung, kế toán sử dụng các sổ sau:
+ Nhật ký chi tiền
+ Nhật ký mua hàng (nếu có)
+ Sổ cái tài khoản 153 và các tài khoản có liên quan
1.2.1.3. Kế toán dự phòng giảm giá hàng tồn kho
- Tài khoản sử dụng
TK 159 “Dự phòng giảm giá hàng tồn kho”
- Trình tự hạch toán
12
Cuối kì kế toán năm (hoặc quý, tháng), ghi lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho
lần đầu tiên ghi tăng giá trị dự phòng giảm giá hàng tồn kho.
Cuối kì kế toán năm (hoặc quý, tháng) tiếp theo, thì tùy vào số chênh lệch khoản
dự phòng giảm giá hàng tồn kho phải lập cuối kỳ kế toán năm nay với khoản dự
phòng giảm giá hàng tồn kho đã lập ở cuối kì kế toán năm trước mà ghi tăng hoặc
giàm giá trị dự phòng giảm giá hàng tồn kho. ( Phụ lục số 5: Trình tự hạch toán dự
phòng giảm giá hàng tồn kho)
- Sổ kế toán
Nếu áp dụng theo hình thức kế toán nhật ký chung, kế toán sử dụng các sổ sau:
+ Nhật ký chi tiền
+ Nhật ký mua hàng (nếu có)
+ Sổ cái tài khoản 159 và các tài khoản có liên quan
1.3. Kế toán hàng tồn kho theo quan điểm kế toán quản trị
1.2.2.1. Xác định mô hình tổ chức kế toán quản trị
Trên thế giới hiện nay có hai quan điểm cơ bản về tổ chức công tác kế toan doanh
nghiệp, đó là:
- Quan điểm 1: Tổ chức kế toán quản trị kết hợp chặt chẽ với kế toán tài chính trong
cùng một bộ máy.
- Quan điểm 2: Tổ chức kế toán quản trị độc lập với kế toán tài chính.
1.2.2.2. Nội dung kế toán quản trị hàng tồn kho
+ Xác lập các chỉ tiêu phục vụ yêu cầu quản lý hàng tồn kho
Để quản lý tốt hàng tồn kho đòi hỏi các doanh nghiệp phải xây dựng các chỉ
tiêu định mức cho hàng tồn kho.
Định mức dự trữ hàng tồn kho là xác định số lượng và giá trị mức tồn kho
hợp lý (tối ưu), lượng đặt hàng và tiến độ nhập hàng phù hợp, đảm bảo những yêu
cầu quản trị hàng tồn kho. Định mức dự trữ hàng tồn kho phải đảm bảo theo 2 mục
tiêu sau:
Mục tiêu an toàn: Số lượng hàng tồn kho dự trữ đủ để đảm bảo cho việc sản
kinh doanh của doanh nghiệp
14
15
CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG VỀ KẾ TOÁN HÀNG TỒN KHO TẠI CÔNG
TY CỔ PHẦN ĐIỆN MÁY HÀ NỘI
2.1 Tổng quan tình hình và ảnh hưởng nhân tố môi trường đến kế toán hàng
tồn kho tại công ty cổ phần điện máy Hà Nội
2.1.1. Tổng quan về hàng tồn kho và kế toán hàng tồn kho tại công ty cổ phần
điện máy Hà Nội
Công ty cổ phần điện máy Hà Nội là doanh nghiệp kinh doanh thương mại
với hai hoạt động chủ yếu là hoạt động mua hàng hóa và hoạt động bán hàng hóa
cho người tiêu dùng hay các đơn vị trung gian. Công ty cũng là nhân tố góp phần
thúc đẩy sản xuất trong nước cả về mặt số lượng và chất lượng hàng nhằm đáp ứng
nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao của mọi tầng lớp dân cư, góp phần mở rộng giao
lưu hàng hóa, mở rộng các quan hệ mua bán trong và ngoài nước.
Đối với các doanh nghiệp thương mại như công ty cổ phần điện máy Hà Nội
thì hàng tồn kho có vai trò như một tấm đệm an toàn giữa giai đoạn mua hàng và
bán hàng trong một chu kì sản xuất kinh doanh. Vì vậy, công tác kế toán hàng tồn
kho của doanh nghiệp đang được chú trọng cả về quy mô và chất lượng trong
những năm gần đây.
Tuy nhiên, thời buổi kinh tế thị trường với sự biến đối liên tục về giá cả, chất
lượng, chủng loại và xu hướng sản phẩm nên hàng tồn kho tại doanh nghiệp đã xảy
ra hiện tượng “đắp chiếu” chờ tiêu thụ, vòng quay chậm lại, doanh số bán hàng
giảm sút…. Điều này cho thấy thực trạng về cung và cầu hàng hóa khi nền kinh tế
gặp khó khăn nên công tác kế toán hàng tồn kho của doanh nghiệp vẫn chưa phát
huy hết vai trò của mình.
Đồng thời, công tác kế toán hàng tồn kho của doanh nghiệp vẫn còn non trẻ,
trong các khâu trong công tác tổ chức, quản lý chưa hợp lý, còn thiếu kinh nghiệm
và thiếu tính chuyên nghiệp. Vì vậy, nếu như không có công cuộc đổi mới, thay đổi
cách thực hiện, tư duy của các nhà quản trị trong quản trị hàng tồn kho thì trong