Tác động của các yếu tố gia đình đến kết quả học tập của học sinh trung học phổ thông (Nghiên cứu trường hợp học sinh trung học phổ thông tại Cần Thơ) - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
VIỆN ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC

TRỊNH NGUYỄN THI BẰNG
TÁC ĐỘNG CỦA CÁC YẾU TỐ GIA ĐÌNH
ĐẾN KẾT QUẢ HỌC TẬP
CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
(Nghiên cứu trường hợp: Học sinh trung học phổ thông
tại Cần Thơ)

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Chuyên ngành: Đo lường và đánh giá trong giáo dục
(Chuyên ngành đào tạo thí điểm)

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Quý Thanh Hà Nội – Năm 2013
3

MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ 9
1. Lý do chọn đề tài 10
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 11
3. Ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn 11

2.7. Tóm tắt 26
Chương 3. THỰC TRẠNG SỰ QUAN TÂM CỦA CHA MẸ ĐỐI VỚI CON CÁI
TRONG VIỆC HỌC TẬP 27
3.1. Phân tích thống kê mô tả 27
3.1.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 27
3.1.2. Thống kê mô tả đặc điểm mẫu nghiên cứu và kết quả học tập của HS 27
3.2. Kiểm định giá trị trung bình của ĐTB ở các nhóm theo đặc điểm nhân khẩu
47
3.2.1. Theo giới tính học sinh: 47
3.2.2. Theo địa bàn trường học: 47
3.2.3. Theo giới tính của PHHS trả lời phiếu hỏi: 47
3.2.4. Theo mối quan hệ giữa PHHS và HS: 48
3.2.5. Theo yếu tố tình trạng hôn nhân của PHHS: 48
3.2.6. Theo số anh chị em của HS: 49
3.2.7. Theo số thế hệ trong gia đình HS: 49
3.2.8. Theo trình độ học vấn cao nhất của PHHS trả lời phiếu hỏi: 49
3.2.9. Theo trình độ học vấn cao nhất của vợ hoặc chồng PHHS: 50
3.2.10. Theo nghề nghiệp hiện nay của PHHS: 52
3.2.11. Theo thời gian làm việc/ngày của PHHS: 53
3.2.12. Theo thời gian chăm sóc HS/ngày của PHHS: 53
3.2.13. Theo số lần tâm sự, trò chuyện với HS: 54
3.2.14. Theo thời gian/lần tâm sự, trò chuyện với HS: 54
3.2.15. Theo thu nhập trung bình của gia đình HS/tháng: 54
3.2.16. Theo số tiền cho HS học thêm/học phụ đạo/tháng: 55
3.2.17. Theo số tiền mua dụng cụ học tập/năm học: 56
5

3.3. Đánh giá và phân tích các thang đo nhận thức, hành động của PH 56
3.3.1. Đánh giá thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach alpha 56
3.3.3 Phân tích các thang đo sự quan tâm của PH: 57

Bảng 3.3. Nghề nghiệp hiện nay của PHHS 28
Bảng 3.4. Thời gian làm việc/ngày của PHHS 28
Bảng 3.5. Thời gian chăm sóc con, em/ngày của PHHS 29
Bảng 3.6. Tần suất chăm sóc con, em của PHHS 29
Bảng 3.7. Thời gian/lần tâm sự, trò chuyện với HS 29
Bảng 3.8. Thu nhập trung bình của GĐ HS/tháng 30
Bảng 3.9. Số tiền cho HS học thêm, học phụ đạo/tháng 30
Bảng 3.10. Số tiền mua dụng cụ học tập/năm học 31
Bảng 3.11. Giá trị trung bình từng khía cạnh của nhận thức về sự quan tâm ở nhà
của PH đối với nhóm HS nam và nhóm HS nữ 32
Bảng 3.12. Giá trị trung bình từng khía cạnh của nhận thức về sự quan tâm ở nhà
của PH đối với nhóm HS ngoài trung tâm TP và nhóm HS trung tâm
TP 33
Bảng 3.13. Giá trị trung bình từng khía cạnh của nhận thức về sự quan tâm ở
trường của PH đối với nhóm HS nam và nhóm HS nữ 35
Bảng 3.14. Giá trị trung bình từng khía cạnh của nhận thức về sự quan tâm của
PH (ở trường) đối với nhóm HS ở ngoài trung tâm TP và nhóm HS ở
trung tâm TP. 36
Bảng 3.15. Đồ thị biểu diễn giá trị trung bình từng khía cạnh của nhận thức về sự
mong đợi, kì vọng của PH đối với nhóm HS nam và nhóm HS nữ 38
Bảng 3.16. Giá trị trung bình từng khía cạnh của nhận thức về sự mong đợi, kì
vọng của PH đối với nhóm HS ngoài trung tâm TP và nhóm HS ở
trung tâm TP. 38
Bảng 3.17. Giá trị trung bình từng khía cạnh của hành động thể hiện sự quan tâm
ở nhà của PH đối với nhóm HS nam và nhóm HS nữ 40
8

Bảng 3.18. Giá trị trung bình từng khía cạnh của hành động thể hiện sự quan tâm
ở nhà của PH đối với nhóm HS ngoài trung tâm TP và nhóm HS ở
trung tâm TP. 41

Qui trình nghiên cứu 24

Hình 3.1 Đồ thị biểu diễn sự phân tán của phần dư 62

10

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đã từ lâu nhân loại đã phát hiện ra rằng yếu tố “con người” là yếu tố trung tâm,
có vai trò quyết định đối với sự phát triển của xã hội. Và hiện nay, xã hội đang bước
vào nền kinh tế tri thức thì yếu tố “con người”, đặc biệt là những con người có trình
độ, có kĩ năng, phát triển toàn diện về mọi mặt lại càng được quan tâm nhiều hơn.
Chính vì vậy mà vấn đề giáo dục con người như thế nào để đáp ứng được những
yêu cầu mới đang rất được chú trọng.
Đối với Việt Nam, sự quan tâm đến vấn đề giáo dục được thể hiện qua tỉ trọng
GDP của chính phủ đầu tư cho giáo dục, qua sự hợp tác quốc tế về giáo dục giữa
các nước, thể hiện qua các văn bản luật về giáo dục Và trong những năm gần đây,
các nhà quản lý giáo dục đã tiến hành đổi mới chương trình đào tạo, phương pháp
dạy học, tăng cường phương tiện dạy học, nâng cao trình độ chuyên môn của giáo
viên, xã hội quan tâm, đầu tư nhiều hơn cho hoạt động giáo dục Các biện pháp
nhằm mục đích để nâng cao chất lượng giáo dục thông qua việc tác động lên các
yếu tố thuộc về nhà trường và vận động sự tham gia của các lực lượng xã hội qua
hoạt động xã hội hoá giáo dục. Nhưng chất lượng và hiệu quả giáo dục vẫn còn thấp
so mục tiêu đào tạo và so với các nước khác trong khu vực, trên thế giới. Từ đó,
một câu hỏi đặt ra phải chăng còn những nguyên nhân từ phía lực lượng giáo dục
khác mà chúng ta chưa quan tâm ?
Một trong các nguyên lý giáo dục đã chỉ ra rằng ”Giáo dục nhà trường kết hợp
với giáo dục gia đình và ngoài xã hội”. Và chủ tịch Hồ Chí Minh cũng từng nói
”Phải mật thiết liên hệ với gia đình học trò. Bởi vì giáo dục trong nhà trường, chỉ
là một phần, còn cần có sự giáo dục ngoài xã hội và trong gia đình để giúp cho việc

3. Ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài đem lại một số ý nghĩa cho giáo viên bộ môn,
giáo viên chủ nhiệm, cán bộ quản lý giáo dục và các bậc phụ huynh những ý nghĩa
như sau:
• Đối với các trường THPT: Kết quả nghiên cứu góp phần giúp nhà
trường nắm bắt được tầm quan trọng của các yếu tố gia đình đối với kết quả
12

học tập của học sinh. Từ đó tăng cường gắn kết mối quan hệ giữa nhà trường
và gia đình nhằm góp phần nâng cao kết quả học tập của học sinh.
• Đối với cán bộ quản lý giáo dục phải có chính sách, kế hoạch chỉ đạo cụ
thể để phối hợp với gia đình trong công tác giáo dục học sinh. Phát huy các
yếu tố có lợi, hạn chế các tác động có hại đến quá trình học tập của HS.
• Đối với học sinh và các bậc phụ huynh: kết quả nghiên cứu này cũng
giúp cho bản thân học sinh và các bậc phụ huynh nhận biết rõ ràng các yếu tố
từ phía gia đình tác động đến kết quả học tập. Từ đó có ý thức, thái độ và
hành động phù hợp để đạt được kết quả học tập cao nhất.
4. Phạm vi và phương pháp nghiên cứu của đề tài
*Phạm vi của đề tài
Nghiên cứu này thực hiện tại 05 trường THPT trên đại bàn TP Cần Thơ (04
trường ở quận và 01 trường ở huyện ngoại thành). Đề tài sử dụng kết quả học tập
của học sinh khối 12. Do đây là năm học cuối cấp, năm học có tính chất quyết định
cho tương lai của HS. Và đây cũng là năm học thứ 3 ở môi trường THPT nên phần
lớn các em đã nắm vững phương pháp học nên ta có thể loại trừ đi sự chênh lệch về
kinh nghiệm học tập giữa các em.
Từ những giới hạn đã nêu trên, có thể nói rằng tác động của nhà trường là như
nhau cho tất cả học sinh khối 12. Do đó, sự tác động của nhà trường không thuộc
phạm vi của nghiên cứu này. Đề tài này chỉ đề cập đến sự tác động của yếu tố từ
phía gia đình lên kết quả học tập của học sinh.
* Phương pháp nghiên cứu

 Nhóm giả thuyết có sự khác biệt về KQHT dưới tác động của các yếu
tố:
H1. Có sự khác biệt về KQHT của HS theo nhóm giới tính phụ huynh.
H2. Tình trạng hôn nhân của phụ huynh có ảnh hưởng đến KQHT của HS.
H3. Nghề nghiệp của PH có ảnh hưởng đến KQHT của HS.
14

H4. Có sự khác biệt về KQHT giữa các HS theo nhóm thu nhập trung bình
hàng tháng của gia đình.
 Nhóm giả thuyết đồng biến giữa KQHT với các yếu tố:
H5. HS sống trong gia đình càng có nhiều thế hệ thì KQHT của HS càng
cao.
H6. Trình độ học vấn của PH càng cao thì KQHT của con cái càng cao.
H7. Thời gian của PH chăm sóc con càng nhiều thì KQHT của con cái
càng cao.
H8. PH tâm sự, trò chuyện với cao cái càng nhiều lần/ngày thì KQHT của
con cái càng cao.
H9. Thời gian mỗi lần PH tâm sự, trò chuyện với HS càng dài thì KQHT
của con cái càng cao.
H10. Số tiền của PH đầu tư cho con tham gia các lớp học thêm, học phụ
đạo càng nhiều thì KQHT của con cái càng cao.
H11. Số tiền của PH cho con mua dụng cụ học tập càng nhiều thì KQHT
của con cái càng cao.
 Nhóm giả thuyết nghịch biến giữa KQHT với các yếu tố:
H12. HS sống trong gia đình có càng nhiều anh chị em thì KQHT của HS
càng giảm.
H13. Thời gian làm việc trung bình hàng ngày của PH càng ít thì KQHT
của con cái càng cao.
6. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
6.1 Khách thể nghiên cứu

+ Sự tham gia của cha mẹ, bao gồm các hoạt động khác nhau cho phép cha mẹ
tham gia vào quá trình giáo dục ở trường và ở nhà.
Đến đây Christenson và các đồng sự đã bổ sung được các yếu tố về sự kì
vọng, môi trường học tập ở nhà, môi trường tình cảm gia đình, kỉ luật, sự tham gia
giáo dục ở nhà của cha mẹ. Điều này tạo nên cái nhìn đầy đủ hơn về tác động của
gia đình đến KQHT của HS.
16

Trong phân tích của mình về thành tích của học sinh lớp tám, Sui-Chu và
Willms [15] đã góp phần bổ sung thêm cho nghiên cứu của Epstein khi đề cập đến
sự tham gia của phụ huynh ở trường là: liên hệ với nhân viên nhà trường, tình
nguyện và tham dự các hoạt động ở trường như hội nghị phụ huynh-giáo viên. Sui-
Chu và Willms [15] cũng chỉ ra sự tham gia của cha mẹ ở nhà còn thể hiện qua việc
thảo luận tại nhà về hoạt động của trường, theo dõi hoạt động của HS ở nhà.
Tuy nhiên đến năm 1999, nghiên cứu khá toàn diện Evans [12] bổ sung thêm
một số yếu tố từ phía gia đình tác động đến KQHT của HS, Evans đã đề cập đến 6
nhóm yếu tố ảnh hưởng đến KQHT của HS:
(i) Đặc điểm nhân khẩu học: tuổi, bối cảnh văn hoá và ngôn ngữ, giới tính,
loại trường, tình trạng kinh tế xã hội, nơi ở.
(ii) Đặc điểm tâm lý HS: sự chuẩn bị cho việc học tập, chiến lược học tập,
cam kết mục tiêu, động lực học tập.
(iii) KQHT trước đây: KQHT chung, KQHT môn học, KQ các kì thi, học đại
học.
(iv) Các yếu tố xã hội: sự hỗ trợ của gia đình và bạn bè, chế độ học tập, tài
chính.
(v) Các yếu tố thể chế: cam kết của tổ chức, học tập tích hợp, hội nhập xã hội,
kì vọng, đặc điểm của khoá học, bản chất của khoá học, hoạt động giảng dạy, quản
trị.
Trong các yếu tố mà tác giả Evans đề cập đến thì yếu tố ”Sự hỗ trợ của gia
đình” và ”sự kì vọng” là những yếu tố từ phía gia đình tác động lên KQHT của HS.

thành phố.
1.2 Các nghiên cứu về KQHT của HS
Có những quan điểm và cách thức đo lường kết quả học tập của học sinh trong
học tập, theo Hamer (2003) trích trong Võ Thị Tâm (2010) kết quả học tập có thể
được đo lường qua thông qua điểm của môn học. Clarke & ctg (2001) trích trong
Võ Thị Tâm (2010) cho rằng KQHT còn do học sinh tự đánh giá về quá trình học
tập và kết quả tìm kiếm việc làm. Còn Young & ctg (2003) trích trong Võ Thị Tâm
18

(2010) xác định KQHT của học sinh cũng có thể được định nghĩa là những đánh giá
tổng quát của chính học sinh về kiến thức là kỹ năng họ thu nhận được trong quá
trình học tập các môn học cụ thể tại trường.
Do điều kiện, tình hình thực tế của giáo dục Việt Nam hiện nay, điểm trung
bình các môn học được dùng để phản ánh hết trình độ tri thức, kĩ năng của học sinh
có được sau một quá trình học tập. Những học sinh có điểm số cao nghĩa là trình độ
tri thức, kĩ năng tương ứng. Chính vì vậy tôi sử dụng ĐTB (là điểm trung bình
chung của tất cả các môn học) để đánh giá KQHT của HS.
1.3 Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa đặc điểm cá nhân, gia đình và
KQHT của HS.
Kết quả nghiên cứu của Anderson Kermyt G. [6] về cơ cấu gia đình có ảnh
hưởng quan trọng đến việc ghi danh đi học, trình độ học vấn cao nhất họ đã có và
độ tuổi đi học trễ cho thấy rằng trẻ em sống tốt nhất khi chúng phải sống với cả cha
mẹ ruột của chúng, và chúng sống tồi tệ nhất khi không sống chung với cha mẹ. Các
khác biệt này qua các loại của các gia đình vẫn còn sau khi kiểm soát cho các yếu tố
kinh tế xã hội hộ gia đình, cho thấy rằng sự khác biệt kết quả học không phải là kết
quả của nguồn tài nguyên khác nhau trên khắp các gia đình, mà là những khác biệt
về ưu đãi để đầu tư vào chăm sóc của trẻ em do mối quan hệ khác nhau. Các kết quả
từ Nam Phi phù hợp với nhiều nghiên cứu trước đây.
Daniele Checchi, Francesco Franzoni et al [10] đã xác định mô hình nhằm dự
đoán mối quan hệ đầu tư cho giáo dục của cha mẹ và KQHT của con cái. Cơ sở của

xét các kết quả này để có mối liên hệ chặt chẽ với đề tài là rất cần thiết.
1.4 Cơ sở lý thuyết
1.4.1. Một số khái niệm, lý thuyết
1.4.1.1 Phụ huynh học sinh (phụ huynh)
Được định nghĩa là bao gồm: cha mẹ ruột, cha mẹ kế, ông bà, bố mẹ nuôi,
người giám hộ, và những người có trách nhiệm chính cho việc phát triển, giáo dục,
mang lại cuộc sống tốt cho trẻ.
1.4.1.2 Các yếu tố gia đình
Được định nghĩa là bao gồm: tình trạng hôn nhân của PH, số anh chị em ruột
[2], số thế hệ trong gia đình, trình độ học vấn của PH, nghề nghiệp của PH, thời
gian làm việc của PH, thời gian PH dành cho HS (chăm sóc, trò chuyện) [5], nhân
tố tài chính (số tiền mua dụng cụ học tập, số tiền cho HS học thêm, học phụ đạo
20

hàng tháng), nhận thức và hành động thể hiện sự quan tâm của PH đối với HS (sự
quan tâm ở nhà, ở trường và sự kì vọng của PH).
1.4.2 Khung lý thuyết của nghiên cứu
Theo tổng quan tài liệu, mô hình lý thuyết của Daniele Checchi, Francesco
Franzoni et al [10], Dickie (1999) trích trong Võ Thị Tâm (2010) và mục đích,
phạm vi của đề tài, tác giả xây dựng mô hình lý thuyết cơ bản của đề tài như sau:


2.2. Mẫu nghiên cứu
Theo tính toán thì mẫu nghiên cứu cần lấy là 378.
Mẫu được lựa chọn ngẫu nhiên từ HS khối 12 ở 05 trường THPT trên đại bàn
TP Cần Thơ . Trong đó có 01 trường ở huyện ngoại thành, 01 ở quận cách xa trung
tâm TP, 02 trường ở quận gần trung tâm TP, 01 trường ở quận trung tâm TP. Cách
chọn này giúp mẫu nghiên cứu của tôi có đầy đủ các đối tượng của dân số cần
nghiên cứu, mẫu mang tính đại diện cao.
Khi tiến hành nghiên cứu trong thực tế, tôi đã phát được 998 phiếu hỏi. Sau khi
tiến hành loại bỏ các phiếu hỏi không đạt yêu cầu
1
thì còn lại 448 phiếu. Vì vậy kích
thước mẫu dùng để xử lý chính thức là n=448 (lớn hơn 378).

Bảng 2.2 Đặc điểm mẫu nghiên cứu
Mẫu n=448
Tần số Tần suất
Giới tính (học sinh)
Nam 177 39,5%
Nữ 271 60,5%
Địa bàn trường học
Trung tâm TP
2
166 37,1%
Ngoài trung tâm TP 282 62,9%

1
Phiếu hỏi không đạt yêu cầu là những phiếu có nhiều hơn 15% tổng số thông tin cần thu thập bị bỏ trống.
2
Được qui ước là những trường học đóng trên địa bàn Quận Ninh Kiều-quận trung tâm của TP Cần Thơ.
Trong nghiên cứu này, trường THPT Châu Văn Liêm là thuộc địa bàn trung tâm TP.

thể thao, nghiên cứu của Miriam R. Linver, Pamela E. Davis-Kean et al [11] ở môn
23

Toán và Khoa học đều kết luận có sự khác biệt về KQHT của HS nam và HS nữ. Ở
Việt Nam, khi phân tích số liệu điều tra mức sống của Việt Nam 1997-1998, Le
Van Chon (2000) [16] nhận thấy rằng SV nữ vượt trội hơn SV nam về KQHT. Phát
hiện này cho thấy rằng tỉ lệ SV nữ cao hơn SV nam học tại các trường công và tỉ lệ
SV nữ nhỏ hơn SV nam tại các trường tư. Điều này cho thấy rằng bình quân nam có
KQHT thấp hơn nữ bởi vì SV học ở trường công có chất lượng học tập cao hơn là
chất lượng SV học ở trường tư.
Vì vậy ta có thể xem xét yếu tố giới tính sẽ có mối quan hệ với các yếu tố:
ĐTB, nhận thức của PH về sự quan tâm, hành động của PH thể hiện sự quan tâm
đối với HS.
2.4.3.2 Địa bàn trường HS theo học
Có nhiều cách để chia HS thành các nhóm nhỏ dựa trên các tiêu chuẩn khác
biệt, như phân chia theo địa bàn trường HS đang theo học. Tương ứng với mục tiêu
của đề tài này, HS được phân loại thành 2 nhóm: HS học tại các trường trung tâm
thành phố Cần Thơ và HS học tại các trường nằm ngoài trung tâm thành phố Cần
Thơ. HS học tại các trường trung tâm thành phố Cần Thơ thì được gọi là HS ở trung
tâm thành phố. HS học tại các trường nằm ngoài trung tâm thành phố Cần Thơ thì
được gọi là HS ở ngoài trung tâm thành phố. Tại Việt Nam, HS ở trung tâm TP có
điều kiện sống tốt hơn, cha mẹ quan tâm hơn HS ở ngoài trung tâm TP
Vì vậy ta có thể xem xét yếu tố địa bàn HS theo học sẽ có mối quan hệ với các
yếu tố: ĐTB, nhận thức của PH về sự quan tâm, hành động của PH thể hiện sự quan
tâm đối với HS.
2.5. Qui trình nghiên cứu


học tập của học sinh.
+ Xác định mức độ tác động của yếu tố này lên kết quả học tập.
2.6. Thang đo
Thang đo
Cơ sở lý thuyết
Định tính
Phân tích nhân tố
EFA
Kiểm tra trọng số EFA, nhân tố,
phương sai trích.
Cronbach alpha

Kiểm tra tương quan biến tổng,
kiểm tra cronbach alpha
Định lượng
chính thức
n=448

RA Phương trình hồi qui
25

Có 20 khái niệm được sử dụng trong nghiên cứu này trong đó có 6 khái niệm
ở dạng tiềm ẩn và 14 khái niệm ở dạng biến quan sát.
Các khái niệm ở dạng biến quan sát bao gồm: tuổi, giới tính, mối quan hệ thân
thuộc, tình trạng hôn nhân của PHHS, số anh chị em trong gia đình, số lượng thế
hệ trong gia đình, trình độ học vấn của PHHS, nghề nghiệp của PHHS, thời gian
làm việc của PHHS, thời gian PHHS dành chăm sóc cho con em, số lần tâm sự với


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status