Tổng hợp câu hỏi ôn thi môn kinh tế chính trị - Pdf 25

Câu 1 : Giải thích nhận thức mới của Việt Nam về kinh tế thị trường. Mối quan hệ
kinh tế thị trường với quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội nói chung và với định
hướng XHCN ở Việt Nam
Bài làm
Trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam, sự tồn tại của sản xuất hàng
hóa là tất yếu khách quan. Thị trường gắn liền với quá trình sản xuất và lưu thông
hàng hóa, vì vậy thừa nhận sản xuất hàng hóa không thể phủ định sự tồn tại khách
quan của thị trường. Chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hóa theo cơ chế thị
trường đã được khẳng định tại Đại hội VI của Đảng “phát triển nền kinh tế hàng
hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước
theo định hướng XHCN”. Quan điểm này tiếp tục được Đại hội VII xác định và
được Đại hội IX phát triển thành chủ trương xây dựng và phát triển nền KT thị
trường định hướng XHCN, đây là những bước tiến quan trọng trong quá trình tổng
kết thực tiễn cách mạng, đổi mới tư duy KT, vượt qua những quan niệm xơ cứng
về mô hình phát triển KT-XH và con đường đi lên CNXH ở nước ta, trong thời kỳ
quá độ lên CNXH, những điều kiện chung để KT hàng hóa xuất hiện vẫn còn tồn
tại.
1. Khái niêm về kinh tế thị trường:
Kinh tế thị trường là mô hình kinh tế mà ở đó các quan hệ kinh tế đều được
thực hiện trên thị trường, thông qua quá trình trao đổi, mua bán. Nói cách khác
kinh tế thị trường là nền kinh tế dựa vào thị trường để vận động và phát triển. Việc
sản xuất ra những hàng hóa gì, cần có những dịch vụ nào đều xuất phát từ nhu cầu
thị trường. Mọi sản phẩm đi vào sản xuất phân phối, trao đổi, tiêu dùng đều phải
thông qua thị trường. Quan hệ tiền tệ - hàng hóa phát triển, mở rộng và phổ biến
trong mọi hoạt động SX kinh doanh. Thái độ cư xử của từng thành viên tham gia
thị trường là hướng vào tìm kiếm lợi ích cho chính mình theo sự dẫn dắt của giá cả
thị trường.
1. Tại sao nói “kinh tế thị trường không đối lập với chủ nghĩa xã hội”
Trước đây, trong quá trình phát triển lên CNXH của các nước XHCN nói
chung và Việt Nam ta nói riêng, đã có những quan điểm ngộ nhận cho rằng chủ
nghĩa xã hội đối lập với kinh tế thị trường, phát triển kinh tế thị trường là đi chệch

thể chế kinh tế khác nhau. Không chỉ các nước tư bản mới phát triển nền kinh tế
thị trường (nền kinh tế thị trường tự do của Mỹ, nền kinh tế thị trường cộng đồng
của Nhật, nền kinh tế thị trường xã hội của CHLB Đức …) mà các nước XHCN
như Trung quốc cũng xây dựng nền kinh tế thị trường XHCN mang màu sắc Trung
Quốc. Như vậy, không có một nền kinh tế thị trường nào là “bản sao” của nền kinh
tế thị trường khác, mỗi nước cần phải tìm ra cho mình một thể chế kinh tế thị
trường phù hợp và sẽ sai lầm nếu đồng nhất nền kinh tế thị trường với chủ nghĩa
tư bản, với kinh tế thị trường TBCN.
Ngoài ra, trong giai đoạn trước đổi mới, việc cho rằng kinh tế thị trường là đối
lập với CNXH là do căn cứ trên những luận điểm sau đây của Mác và Ăngghen:
chủ nghĩa cộng sản là xóa bỏ buôn bán; cùng với việc xã hội nắm lấy những tư
liệu sản xuất thì sản xuất hàng hóa cũng bị loại trừ và do đó sự thống trị của hàng
hóa đối với những người sản xuất cũng bị loại trừ. Thực ra những luận điểm của
CácMác và Ăngghen chỉ là những dự đoán về giai đoạn cao của chủ nghĩa cộng
sản chứ không phải nói về giai đoạn thấp của chủ nghĩa cộng sản : giai đoạn chủ
nghĩa xã hội. Nói về giai đoạn chủ nghĩa xã hội, Mác đã nhấn mạnh : đó là một xã
hội vừa thoát thai từ xã hội tư bản chủ nghĩa, vì vậy về mọi phương diện kinh tế,
đạo đức, tinh thần nó vẫn còn mang những dấu vết của xã hội cũ, nói cách khác,
hệ thống kinh tế – xã hội của CNXH còn mang nhiều dấu ấn của phương thức
sản xuất tư bản chủ nghĩa. Như vậy, làm sao xóa ngay được cái “dấu vết” đặc
trưng của chủ nghĩa tư bản là kinh tế hàng hóa cũng như không thể xóa bỏ chế độ
tư hữu ngay lập tức mà chỉ có thể cải tạo xã hội hiện nay một cách dần dần, “chỉ
khi nào đã tạo nên một khối lượng tư liệu sản xuất cần thiết cho việc cải tạo đó thì
khi ấy mới có thể thủ tiêu được chế độ tư hữu” (C.Mác và Ăngghen toàn tập –
NXB Chính trị quốc gia, Hà nội, 1995, tập 4, trang 469). Mặt khác - trong giai
đoạn này - khi mỗi người lao động vẫn còn lệ thuộc vào sự phân công lao động xã
hội, vẫn còn sự đối lập giữa lao động chân tay và lao động trí óc; lao động vẫn là
phương tiện để sinh sống chứ chưa trở thành nhu cầu bậc nhất của mỗi người, sức
sản xuất của xã hội chưa đạt đến mức của cải tuôn ra dào dạt để phân phối theo
nhu cầu thì vẫn phải đi con đường vòng, tức là thực hiện phân phối thông qua trao

tế thị trường đã từng tồn tại và phát triển qua những phương thức sản xuất khác
nhau. Thị trường đã xuất hiện từ khi công xã nguyên thủy tan rã. Ở Trung quốc thị
trường đã xuất hiện từ thời Thần Nông – 5000 năm trước công nguyên. Kinh tế thị
trường phát triển trong lòng XH phong kiến. Dưới chế độ CNTB, theo Mác thì nó
đạt đến đỉnh cao khi sức lao động trở thành hàng hóa và sẽ tồn tại sau CNTB - nếu
trước CNTB kinh tế thị trường còn manh nha ở cấp độ thấp thì cùng với CNTB nó
dần dần chi phối toàn bộ cuộc sống XH của con người trong xã hội đó và vươn ra
thị trường toàn cầu. Thực tế đó đã làm cho người ta ngộ nhận đó là sản phẩm đặc
trưng của CNTB. Song kinh tế thị trường là phạm trù lịch sử. Nó có thời điểm ra
đời thì cũng có thời điểm kết thúc. Ngày nay dưới CNTB, kinh tế thị trường vẫn
tiếp tục phát triển; nó xuyên qua các biên giới quốc gia, hình thành nên thị trường
toàn cầu, nó không chỉ biến sức lao động cơ bắp mà cả lao động trí tuệ thành hàng
hóa. Mặt khác nó cũng đang bị giới hạn bởi định hướng của nền kinh tế thị trường
TBCN.
2. Cơ sở nào nói kinh tế thị trường cần thiết cho xây dựng chủ nghĩa xã hội
ở Việt Nam
Bắt đầu từ sau Đại hội Đảng lần VI, nhận thức đúng về vai trò quan trọng của
nền kinh tế thị trường trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Thực tiễn đã dạy
3
chúng ta rằng “Sản xuất hàng hóa không đối lập với chủ nghĩa xã hội, mà là thành
tựu phát triển của nền văn minh nhân loại, tồn tại khách quan, cần thiết cho công
cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và cả khi chủ nghĩa xã hội đã được xây dựng”
(Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII). Cương lĩnh xây dựng đất nước
trong thời kỳ mới quá độ lên CNXH chỉ rõ nhiệm vụ phải phát triển một nền kinh
tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng XHCN. Điều này cho thấy đã có sự
đổi mới về nhận thức của Đảng và Nhà nước ta từ việc coi kinh tế hàng hóa thị
trường thị trường đối lập với CNXH sang nhận thức kinh tế thị trường không
những không đối lập mà nó còn cần thiết cho quá trình xây dựng CNXH ở Việt
Nam. Như vậy, kinh tế thị trường cần thiết như thế nào đối với quá trình xây dựng
chủ nghĩa xã hội ở nước ta ?

- Phát triển kinh tế thị trường thúc đẩy nhanh quá trình XH hóa và làm
cho nền kinh tế nước ta phát triển năng động, bởi vì :
+ Cơ chế thị trường là một cơ chế tự vận động của thị trường theo quy luật
nội tại vốn có của nó, trong đó có một loạt các quy luật kinh tế cùng đồng thời vận
động và quan hệ hữu cơ với nhau. Sự tác động của các quy luật giá trị, cạnh tranh,
sự vận động của quy luật cung - cầu, quy luật lưu thông tiền tệ, quy luật lợi nhuận
… đã tạo sự tác động tổng hợp có tác dụng tích cực trong nền SX hàng hóa, nó có
4
tác dụng lựa chọn các tiến bộ, đào thải cái lạc hậu, trì trệ, kém phát triển. Vị vậy,
kinh tế thị trường đòi hỏi người sản xuất phải tích cực, năng động, thường xuyên
cải tiến kỹ thuật và tổ chức quản lý nhằm phục vụ tốt nhất cho nhu cầu thị trường,
nó có tác dụng trực tiếp hướng dẫn các doanh nghiệp lựa chọn lĩnh vực hoạt động,
mặt hàng, quy mô, công nghệ và hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh nhằm đạt
hiệu quả cao nhất. Nhờ vậy, sự phát triển của kinh tế thị trường có tác dụng kích
thích SX và lưu thông hàng hóa phát triển.
+ Phát triển kinh tế thị trường đòi hỏi phải đào tạo ngày càng nhiều cán bộ
quản lý và lao động có trình độ cao. Muốn thu nhiều lợi nhuận, họ phải vận dung
nhiều biện pháp để quản lý kinh tế, ứng dụng nhanh những thành tựu KH-KT để
nâng cao sức SX của lao động, hạ giá trị cá biệt của hàng hóa thấp hơn giá trị thị
trường của nó, nhờ đó có ưu thế trong cạnh tranh và thu lợi nhuận siêu ngạch nhiều
hơn. Qua các cuộc cạnh tranh trên thị trường, những nhân tài quản lý kinh tế và lao
động thành thạo xuất hiện ngày càng nhiều và đó là dấu hiệu quan trọng cho tiến
bộ kinh tế. Kinh tế thị trường cũng mang lại tính dân chủ, xác định rõ quyền hạn và
trách nhiệm của mỗi thành viên khi tham gia vào một quá trình kinh tế.
+ Phát triển nền kinh tế thị trường là phù hợp với sự phát triển nền SX XH,
cũng có nghĩa là sản xuất XH ngày càng phong phú, đáp ứng như cầu đa dạng của
mọi người. Thông qua thị trường, nhu cầu tiêu dùng của xã hội sẽ được thỏa mãn.
Sự tiêu dùng của nhân dân sẽ tái tạo nhu cầu, kích thích nhu cầu mới đòi hỏi SX
phải đáp ứng. Thị trường có tác dụng kiểm tra mức độ thỏa mãn nhu cầu và khả
năng SX. Nó còn là nơi so sánh giá trị hàng hóa, do đó thúc đẩy người SX`tìm mọi

cho thị trường tự phát theo con đường TBCN .
- Thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối đổi mới của Đảng lấy SX
gắn liền với cải thiện đời sống nhân dân, tăng trưởng kinh tế đi đôi với tiến bộ và
công bằng XH, khuyến khích làm giàu hợp pháp gắn liền với xóa đói giảm nghèo.
* Nền kinh tế thị trường gồm nhiều thành phần, trong đó kinh tế nhà nước
giữ vai trò chủ đạo.
Trong kinh tế thị trường TBCN thì sở hữu tư bản tư nhân giữ vai trò thống
trị, còn trong kinh tế thị trường của chúng ta mặc dù cũng có nhiều thành phần
kinh tế, trong đó có cả kinh tế tư bản, kinh tế tư nhân nhưng giữ vai trò chủ đạo
vẫn là sở hữu công cộng về TLSX, tức là công hữu bao gồm : kinh tế nhà nước,
kinh tế tập thể và phần của kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể trong các cơ sở kinh tế
liên doanh hỗn hợp - dần dần trở thành nền tảng, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ
đạo, kể cả sở hữu những ngành then chốt, kể cả tỷ trọng trong nền kinh tế
Việc xác lập vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước là vấn đề có tính nguyên
tắc và là sự khác biệt có tính chất bản chất giữa kinh tế thị trường định hướng
XHCN với kinh tế thị trường TBCN. Ở đây, ta cần nhận thức rõ ràng, mỗi thành
phần kinh tế trong thời kỳ quá độ lên CNXH có bản chất kinh tế xã hội riêng, chịu
sự tác động của các quy luật kinh tế riêng nên bên cạnh sự thống nhất của các
thành phần kinh tế còn có những khác biệt và mâu thuẫn khiến cho nền kinh tế thị
trường ở nước ta có khả năng phát triển theo những phương hướng khác nhau. Vì
vậy, nền kinh tế nhà nước phải được xây dựng và phát triển có hiệu quả, để thực
hiện tốt vai trò chủ đạo của mình, đồng thời nhà nước phải thực hiện tốt vai trò
quản lý vĩ mô kinh tế xã hội để đảm bảo cho nền kinh tế phát triển theo định hướng
XHCN.
* Cơ chế vận hành nền kinh tế là cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà
nước XHCN :
Tuy nền kinh tế thị trường có nhiều điểm tích cực nhưng nền kinh tế thị
trường cũng có những khuyết tật như : mang tính tự phát, bất ổn định, chạy theo
lợi nhuận nên gây ra những hiện tượng tiêu cực như : hàng giả, lừa dối, trốn thuế
và các hiện tượng kinh tế ngầm khác. Vì vậy, đi đôi với phát triển kinh tế thị

do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện. Vì vậy, mỗi bước tăng trưởng
kinh tế phải gắn liền với cải thiện đời sống… Việc phân phối thông qua các quỹ
phúc lợi XH và tập thể có ý nghĩa quan trọng để thực hiện mục tiêu đó. Về chính
sách xã hội : chúng ta chủ trương làm giàu nhưng đó là làm giàu hợp pháp, cùng
với làm giàu phải xóa đói giảm nghèo, hạn chế sự phân cực qáu đáng giàu nghèo
trong nền kinh tế thị trường, sự phân hóa giàu nghèo là khó tránh khỏi, phải chấp
nhận nhưng phải hạn chế nó, phải chăm lo tiến bộ và công bằng XH ngay trong
quá trình phát triển kinh tế chứ không phải đến khi kinh tế phát triển mới lo chính
sách XH.
* Nền kinh tế thị trường XHCN cũng là nền kinh tế mở hội nhập. Thực hiện
mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại theo hướng đa dạng hóa, đa phương hóa các
hình thức đối ngoại, gắn thị trường trong nước với thị trường khu vực và thế giới,
thực hiện những thông lệ trong quan hệ kinh tế quốc tế, nhưng vẫn giữ vững độc
lập chủ quyền và bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc trong quan hệ kinh tế đối ngoại
Trên đây là các nguyên tắc trên để đảm bảo cho kinh tế thị trường định
hướng XHCN. Đây là mô hình kinh tế tổng quát của chúng ta trong thời kỳ quá độ
và cũng là một điểm quan trọng làm sáng tỏ hơn nội dung con đường đi lên CNXH
ở nước ta.
4. Những nguyên tắc nào đảm bảo cho kinh tế thị trường đảm bảo định
hướng XHCN
Để phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta, Đảng đã xác
định những nguyên tắc cơ bản cần phải đảm bảo như sau :
- Về mục tiêu : việc phát triển nền kinh tế thị trường phải nhằm mục tiêu
từng bước nâng cao đời sống vật chất của nhân dân lao động, gắn tăng trưởng kinh
tế với việc xây dựng và hoàn thiện quan hệ SX XHCN
- Về phương tiện : chúng ta phải xây dựng thành công nền kinh tế dựa trên
LLSX hiện đại và chế độ công hữu về các TLSX chủ yếu để làm cơ sở cho một
XH mà trong đó người dân làm chủ
7
- Về lực lượng : Đảng và Nhà nước phải tạo điều kiện cho toàn dân tham gia

quốc gia, không can thiệp vào chức năng quản trị kinh doanh và quyền tự chủ hạch
toán của doanh nghiệp.
- Nhà nước thực hiện các biện pháp nhằm bảo đảm tăng trưởng kinh tế đi
đôi với tiến bộ và công bằng xã hội như : thực hiện thuế thu nhập cá nhân và thuế
thu nhập doanh nghiệp, thực hiện các chương trình xóa đói giảm nghèo, nhất là tín
dụng cho người nghèo và các chính sách xã hội khác.
Tóm lại, từ những phân tích trên cho thấy chỉ có kinh tế thị trường mới có
khả năng tạo ra điều kiện cơ sở vật chất, tinh thần cho sự phát triển của mỗi người,
tạo điều kiện cho sự phát triển của mọi người. Việc vận hành cơ chế kinh tế hàng
hóa thị trường trong thời kỳ quá độ lên CNXH trong giai đoạn hiện nay là một
nhiệm vụ kinh tế cấp bách để chuyển nền kinh tế lạc hậu thành nền kinh tế hiện
đại, hội nhập vào sự phân công lao động quốc tế. Đó là con đường đúng đắn để
phát triển lực lượng sản xuất, khai thác có hiệu quả mọi tiềm năng đất nước để
thực hiện nhiệm vụ CNH-HĐH. Kinh tế hàng hóa, kinh tế thị trường không đối lập
8
với các nhiệm vụ KT-XH của thời kỳ quá độ lên CNXH mà trái lại thúc đẩy các
nhiệm vụ đó phát triển mạnh mẽ. hực tế trong thời gian vừa qua, việc chuyển sang
mô hình kinh tế thị trường là hoàn toàn đúng đắn và phù hợp với quy luật. Nhờ đó
kinh tế nước ta phát triển và tăng trưởng khá cao. Bước đầu khai thác có hiệu quả
tiềm năng trong nước, thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài để xây dựng hệ thống
kết cấu hạ tầng kỹ thuật và xã hội, đời sống của nhân dân ta từng bước được cải
thiện.
Câu 2a : Trong Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành Trung ương Đảng Khóa
VIII, đồng chí Đỗ Mười đã phát biểu “Xây dựng nền KT hàng hóa nhiều thành
phần, vận hành theo cơ chế thị trường nhất thiết phải đi đôi với tăng cường vai
trò quản lý Nhà (VK Trung ương III-trang 13). Đ/c hãy phân tích luận điểm
trên.
TRẢ LỜI
Kinh tế nhiều thành phần là nét đặc trưng, có tính quy luật của nền kinh tế
trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta. Các thành phần kinh tế trong thời kỳ

dựng quá trình SX mới (như kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư bản nhà
nước ) đây là các thành phần kinh tế nền tảng của kinh tế XHCN ngày càng phát
triển sẽ lôi cuốn, định hướng chung của các thành phần kinh tế khác hội nhập vào
phương thức SX mới.
2. Nguyên nhân cơ bản của sự tồn tại kinh tế nhiều thành phần trong
thời kỳ quá độ lên CNXH, suy đến cùng là do quy luật QHSX phải phù hợp với
tính chất và trình độ của LLSX quy định. Thời kỳ qúa độ ở nước ta, do trình độ
LLSX còn rất thấp, lại phân bổ không đồng đều giữa các ngành, vùng … nên tất
yếu còn tồn tại nhiều loại hình hình thức sở hữu nhiều thành phần kinh tế. Mặt
khác, do chuyển sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, thị trường còn nhiều
khoảng trống và quy luật vận động trong nền kinh tế thị trường đòi hỏi các thành
phần kinh tế khác phải lấp kín những khoảng trống đó.
3. Sự tồn tại kinh tế nhiều thành phần không những là khách quan mà
còn động lực thúc đẩy kích thích sự phát triển LLSX XH, bởi vì :
Một là sự tồn tại nhiều thành phần kinh tế tức là tồn tại nhiều hình thức tổ
chức kinh tế, nhiều phương thức quản lý phù hợp với nhiều trình độ khác nhau của
LLSX. Chính sự phù hợp này đến lượt nó có tác dụng thúc đẩy tăng năng suất lao
động tăng trưởng KT, nâng cao hiệu quả KT trong các thành phần KT và trong
toàn bộ nền KT quốc dân
Hai là sự tồn tại nhiều thành phần kinh tế là cơ sở để phát triển nền KT thị
trường định hướng XHCN ở nước ta. Nền kinh tế này, do sự tác động của các quy
luật kinh tế (như quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh, quy luật cung cầu …) và sự
quản lý, điều tiết của nhà nước có tác dụng phát triển mạnh mẽ LLSX, xây dựng
cơ sở vật chất kỹ thuật nâng cao đời sốn g nhân dân. Mặt khác, kinh tế thị trường
định hướng XHCN lại tạo điều kiện cho mọi công dân tùy theo khả năng và điều
kiện của mình, tự do lựa chọn hình thức tổ chức SX kinh doanh thực hiện quyền
dân chủ về kinh tế theo pháp luật
Ba là sự tồn tại nhiều thành phần kinh tế đáp ứng được lợi ích kinh tế của các
giai cấp, tầng lớp XH, có tác dụng khai thác sử dụng các nguồn lực, các tiềm nằng
của đất nước như sức LĐ, vốn, tài nguyên thiên nhiên, kinh nghiệm quản lý … để

bị hạn chế. Nhà nước tạo điều kiện giúp đỡ, giải quyết khó khăn về vốn, khoa
học công nghệ, thị trường tiêu thụ sản phẩm để khôi phục động lực làm giàu của
cá nhân. Mặt khuyết điểm của kinh tế cá thể là nguồn lực nhỏ, manh mún.
Trong nền kinh tế thị trường với áp lực kinh tế của nó sẽ nhanh chóng phân hóa
hộ kinh tế cá thể, vì vậy cần hướng dẫn họ từng bước đi vào làm ăn một cách tự
nguyện hoặc làm vệ tinh cho doanh nghiệp Nhà nước hoặc hợp tác xã.
. Kinh tế tư bản tư nhân : Đây là loại hình kinh tế mà sở hữu về TLSX
hoàn toàn thuộc về TB tư nhân vì vậy, có người làm thuê và có kẻ bóc lột.
Trong thời kỳ quá độ ở nước ta thành phần này có vai trò đáng kể để phát triển
SX, xã hội hóa SX, giải quyết việc làm, khai thác các nguốn vốn và giải quyết
các vấn đề XH khác. Vì vậy, Đảng và Nhà nước ta một mặt khuyến khích TB
tư nhân phát triển rộng rã trong các ngành nghề SX kinh doanh, mặt khác tạo
môi trường kinh doanh thuận lợi về chính sách, pháp lý để nó hoạt động có hiệu
quả và khuyến khích phát triển ở những lĩnh vực mà Nhà nước không cấm. .
. Kinh tế tư bản Nhà nước: Đây là loại hình kinh tế có liên kết hợp tác
giữa Nhà nước và TB tư nhân trong và ngoài nước, sở hữu thuộc Nhà nước TB
tư nhân góp vốn. Loại hình kinh tế này có khả năng to lớn trong việc huy động
vốn, công nghệ, khả năng tổ chức quản lý tiên tiến và có ưu thế thu hút chất
xám . Thành phần kinh tế đóng vai trò đáng kể trong việc giải quyết việc làm
và tăng trưởng kinh tế. Sự tồn tại thành phần kinh tế này là rất cần thiết và cần
phát triển mạnh mẽ trong thời kỳ quá độ ở nước ta.
. Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Đây là thành phần kinh tế vốn đầu tư
của tư bản ngoài nước, được nhà nước tạo điều kiện phát triển thuận lợi, cải
thiện môi trường pháp lý và kinh tế để thu hút mạnh vốn đầu tư nước ngoài
hướng vào xuất khẩu. Qua đó thu hút công nghệ hiện đại, tạo nhiều công ăn
việc làm cho nhân dân, cải thiện môi trường kinh tế.
5. Mối quan hệ giữa các thành phần kinh tế của nền kinh tế nhiều
thành phần
Mỗi thành phần kinh tế có bản chất và quy luật kinh tế riêng, dựa trên
một hình thức sở hữu nhất định về tư liệu sản xuất và có khả năng tái sản

lực vì quyền lợi chi phối SX thuộc về các chủ sở hữu riêng lẻ.
Tuy nền kinh tế thị trường có nhiều điểm tích cực nhưng nền kinh tế thị
trường cũng có những khuyết tật như : mang tính tự phát, bất ổn định, chạy theo
lợi nhuận nên gây ra những hiện tượng tiêu cực như : hàng giả, lừa dối, trốn thuế
và các hiện tượng kinh tế ngầm khác. Vì vậy, đi đôi với phát triển kinh tế thị
trường phải có sự kiểm soát, quản lý của nhà nước . Kinh tế thị trường định hướng
XHCN ở nước ta cũng như kinh tế thị trường ở các nước TB đều có sự quản lý của
nhà nước nhưng 2 nhà nước khác nhau về chất. Trong quản lý nhà nước tư sản chủ
yếu bảo vệ quyền lợi của giai cấp tư sản, trước hết là những tập đoàn tư bản lớn.
Còn nhà nước chúng ta là nhà nước XHCN, nhà nước của dân, do dân vì dân, quản
lý nền kinh tế theo nguyên tắc kết hợp thị trường với kế hoạch, kết hợp định hướng
và cân đối của kế hoạch với tính năng động và nhạy cảm của thị trường. Thị
trường là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế, nó tồn tại khách quan tự vận
động theo quy luật vốn có của nó. Kinh tế thị trường là căn cứ để xây dựng và
kiểm tra các kế hoạch phát triển kinh tế. Những mục tiêu và biện pháp mà kế
hoạch nêu ra muốn thực hiện có hiệu quả phải xuất phát từ yêu cầu của thị trường.
Muốn cho thị trường hoạt động phù hợp với định hướng XHCN thì nó phải được
hướng dẫn và điều tiết bởi kế hoạch. Kế hoạch hóa vĩ mô có thể tác đông đến cung
- cầu, giá cả để uốn nắn những lệch lạc của sự phát triển do sự tác động tự phát của
thị trường gây ra, thông qua đó mà hướng hoạt động của thị trường theo hướng của
kế hoạch.
Nói cách khác, trong nền SX hàng hóa theo định hướng XHCN,kế hoạch và
thị trường đều được xem là công cụ điều tiết kinh tế khách quan, mặc dù chúng
là hai cơ chế hoạt động dựa trên 2 nguyên tắc khác nhau. Trong mối quan hệ
12
này, thị trường được coi là căn cứ, vừa là đối tượng của kế hoạch và định hướng
của kế hoạch vĩ mô.
Kế hoạch và thị trường cần kết hợp với nhau. Kế hoạch có ưu điểm là tập
trung được tiềm năng cho những mục tiêu phát triển KT-XH, đảm bảo cân đối
và cân bằng tổng thể, gắn chặt mục tiêu kinh tế XH ngay từ đầu. Tuy nhiên

nhằm phát huy tác dụng tích cực to lớn đi đôi với ngăn ngừa, hạn chế và khắc
phục những mặt tiêu cực của thị trường.
Để quản lý kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường đảm
bảo đúng định hướng XHCN, Đại hội Đảng lần thứ VIII đã đề ra 5 yêu cầu,
trong đó có yêu cầu về nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý kinh tế Nhà nước.
Nhà nước thực hiện tốt các chức năng định hướng phát triển (bằng chiến
lược quy hoạch, kế hoạch, chính sách), trực tiếp đầu tư vào một số lĩnh vực để
dẫn dắt theo sự phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thiết lập khuôn khổ
pháp luật và có hệ thống chính sách nhất quán, tạo môi trường pháp lý và kinh
tế trong các chủ thể kinh tế hoạt động hiệu quả có trật tự kỷ cương trong môi
trường cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh, công khai, minh bạch, điều tiết hoạt
động và phân phối lợi ích một cách công bằng thông qua việc sử dụng các công
13
cụ ngân sách, thuế, tín dụng… kiểm tra, kiểm soát các hoạt động kinh tế theo
đúng luật pháp và chính sách. Phân phối lại theo thu nhập quốc dân, quản lý
quản lý tài sản công và kiểm kê kiểm soát toàn bộ hoạt động kinh tế xã hội. Mặt
khác, để phát huy được hiệu quả, khuyến khích sự phát triển sức sản xuất nhà
nước phải quan tâm tạo điều kiện củng cố, phát huy hiệu quả, ra sức xây dựng
khu vực kinh tế nhà nước đủ mạnh để làm tốt vai trò chủ đạo vì nếu không làm
tốt vai trò này thì nền kinh tế quốc dân khó tránh khỏi chệnh hướng XHCN.
Song song với việc thực hiện chức năng:quản lý Nhà nước về kinh tế chủ
sở hữu tài sản công của Nhà nước, các bộ và các cấp chính quyền không can
thiệp vào chức năng quản trị kinh doanh và quyền tự chủ hạch toán của các
doanh nghiệp, tôn trọng nguyên tắc và cơ chế hoạt động khách quan của thị
trường, không can thiệp vào thị trường bằng những biện pháp hành chính. :
Những giải pháp để nâng cao vai trò quản lý của Nhà nước đối với nền
KT hàng hóa
Để thực hiện tốt vai trò quản lý nhà nước Đại hội Đảng lần IX đã chỉ rõ :
- Đổi mới hơn nữa công tác kế hoạch, kết hợp chặt chẽ kế hoạch với thị
trường, nâng cao công tác xây dựng các chiến lượt quy hoạch và kế hoạch phát

cấp, tự túc sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường thì
mới thúc đẩy nhanh quá trình xây dựng cơ sở vật chất cho CNXH trong bối cảnh
bỏ qua bước phát triển TBCN. Các thành phần kinh tế tiến hành SX hàng hóa tuy
có bản chất khác nhau nhưng đều là bộ phận của nền kinh tế quốc dân thống nhất
với các quan hệ cung cầu, tiền tệ giá cả chung , vì vậy giữa các thành phần kinh
tế vừa có sự hợp tác, vừa cạnh tranh với nhau và nhờ vậy nó thúc đẩy quá trình
phát triển.
Sau khi nghiên cứu các thành phần kinh tế, chúng ta thấy rằng phát triển kinh tế
nhiều thành phần không chỉ là vấn đề riêng biệt của nước ta hay các nước XHCN
mà tất cả các nước trên thế giới đều có. Thực tế cho thấy không thể xây dựng đất
nước chỉ dựa vào một hoặc 2 thành phần kinh tế, 1 hoặc 2 hình thức sở hữu nào.
Chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần là vận dụng đúng đắn quy luật
quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ của phát triển của lực
lượng sản xuất. Căn cứ vào thực tiễn nước ta, Nghị quyết đại hội VI đã chỉ rõ:
“phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất, thiết lập từng bước quan hệ sản
xuất xã hội chủ nghĩa từ thấp đến cao với sự đa dạng về hình thức sở hữu; phát
triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa …”
chính sách này nhằm phát huy mọi tiềm năng của các thành phần kinh tế, từng
người lao động để phát triển lực lượng sản xuất, tạo ra nhiều của cải cho xã hội.
Đó cũng chính là Đảng ta vận dụng chính sách kinh tế mới của Lênin trong việc
sử dụng những hình thức trung gian quá độ trên con đường đi lên chủ nghĩa xã
hội, khắc phục khuyết điểm trước đây là muốn nhanh chóng xóa bỏ các thành
phần kinh tế cá thể phi xã hội chủ nghĩa,sớm có quan hệ sản xuất xã hội chủ
nghĩa, theo cách hiểu giản đơn. Vậy cơ sở lý luận và thực tiễn của cơ cấu kinh tế
nhiều thành phần và mối quan hệ xu hướng phát triển của các thành phần kinh tế
đó như thế nào?
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác –Lênin, thời kỳ quá độ là một thời kỳ lịch
sử đặc biệt, trong đó kết cấu kinh tế nhiều thành phần xã hội vừa bao hàm yếu tố
xã hội cũ đang suy thoái dần, vừa bao hàm yếu tố xã hội mới ra đời đang lớn lên
từng bước,nhưng chưa giành toàn thắng, điều đó nghĩa là nó mang tính chất quá

cũ đã nảy sinh những thành phần kinh tế mới(kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế có
vốn đầu tư nước ngoài). Do yêu cầu xây dựng xã hội mới, sự tồn tại của các
thành phần kinh tế góp phần hạn chế tình trạng độc quyền, từ đó tạo sự cạnh
tranh, đó là động cơ thúc đẩy nền kinh tế hàng hóa phát triển. Mặt khác, chỉ có
kinh tế quốc doanh kinh tế tập thể chưa đủ khả năng thay thế các thành phần kinh
tế khác. Nằm phát triển kinh tế có hiệu quả, làm ra nhiều vật chất của cải cho xã
hội.
Do vậy, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần là đặc trưng cơ bản của nền
kinh tế từ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đó là quy luật tất yếu, nó vừa là phương
tiện để đạt mục đích của nền kinh tế xã hội. Vừa là cơ sở cho các chủ thể kinh
tế,vừa bảo đảm kết hợp hài hòa hệ thống lợi ích kinh tế. Đó chính là động lực của
sự phát triển, có tác dụng mở đường cho các thành phần kinh tế phát triển là sự
cởi trói của sản xuất, khai thác được mọi tiềm năng, kích thích được mọi nguồn
nhân tài, vật lực, chất xám góp phần phát triển sản xuất tạo nhiều của cải cho xã
hội,giải quyết công ăn việc làm cho hàng triệu người lao động trong lúc nhà nước
chưa đủ điều kiện để thu hút mọi lực lượng lao động xã hội. Việc sử dụng cơ cấu
kinh tế nhiều thành phần không những góp sức sản xuất, khai thác mọi tiềm năng,
phát triển lực lượng sản xuất trong nước mà còn phát huy được sức mạnh kinh tế,
tranh thủ sự đầu tư, hợp tác quốc tế, khắc phục tình trạng biệt lập kinh tế của nước
ta với nền kinh tế thế giới, giải quyết công ăn việc làm mở rộng ngành nghề trong
nước khai thác tốt mọi hàng hóa mũi nhọn xuất khẩu có hiệu quả, tận dụng thế
mạnh của đất nước.
Như vậy, sự tồn tại khách quan của nền kinh tế nhiều thành phần vừa là chiến
lược kinh tế lâu dài, vừa là cơ sở thực hiện chiến lược xã hội, xóa dần mặc cảm
ngoài biên chế của một số thành phần kinh tế. Nhà nước giải quyết được nạn thất
nghiệp và sự luyến tiếc cơ chế bao cấp.
Chúng ta thừa nhận và khẳng định trong thời quá độ lên chủ nghĩa xã hội, sự
tồn tại nhiều thành phần kinh tế là tất yếu khách quan, là đặc trưng kinh tế của
thời kỳ quá độ. Song trên thực tế chúng ta lại chủ trương sớm xóa bỏ nền kinh tế
nhiều thành phần bằng làn sóng quốc doanh hóa, tập thể hóa và tạo bức tường

Trên thực tế các thành phần kinh tế có mối quan hệ vừa thống nhất vừa mâu
thuẫn với nhau,vừa đan xen vừa đấu tranh với nhau để cùng tồn tại; xu hướng đan
kết sẽ hình thành các loại hình hỗn hợp với hình thức tổ chức kinh doanh đa dạng
như tập đoàn cà phê, tập đoàn xuất khẩu lúa gạo, dầu lửa mía đường…để đủ sức
mạnh cạnh tranh với các tập đoàn kinh tế nước ngoài trong điều kiện mở cửa.Hình
thức quá độ của kinh tế tư bản nhà nước dựa trên cơ sở hỗn hợp về sở hữu tư liệu
sản xuất được nhà nước sử dụng để phát triển lực lượng sản xuất có lợi cho chủ
nghĩa xã hội. Ngoài ra, kinh tế gia đình không phải là một thành phần kinh tế
nhưng có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế các hộ gia đình ở nước ta, nó
cần phải được khuyến khích và tạo điều kiện phát triển.
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội,nền kinh tế nhiều thành phần dựa
trên những sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất. Trong nền kinh tế đó, kinh tế
quốc doanh là chủ đạo và cùng với kinh tế tập thể làm nền tảng cho nền kinh tế
quốc gia, kinh tế tư nhân kinh tế cá thể được mở rộng sản xuất kinh doanh trong
các ngành nghề và tăng cường sức mạnh của kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể
để làm tấm gương hướng dẫn các thành phần kinh tế khác phát triển theo hướng
xã hội chủ nghĩa nhằm xác lập phổ biến kinh tế xã hội chủ nghĩa sự chuyển hóa
vận động của nền kinh tế nhiều thành phần trong quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội
diễn ra bằng nhiều hình thức phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản
xuất, nhằm phát triển sản xuất có hiệu quả.
Vai trò nhà nước là nhân tố quan trọng bảo đảm cho định hướng xã hội chủ
nghĩa của nền kinh tế hàng hóa trong các chính sách kinh tế và pháp luật, tạo môi
trường cho các thành phần kinh tế khác phát triển.
b. Xu hướng phát triển của các thành phần kinh tế
Đối với kinh tế quốc doanh là thành phần kinh tế nòng cốt của nền kinh tế đã
đóng góp đáng kể vào sự ổn định phát triển kinh tế đất nước. Do quan niệm không
17
đúng, dẫn đến quốc hữu hóa, tập thể hóa, quốc doanh hóa tràn lan ào ạt, do thực
hiện cơ chế bao cấp, đầu tư nhiều cơ sở vật chất kỹ thuật mà hiệu quả không cao.
Trước tình hình chuyển đổi cơ chế kinh tế mới có khuynh hướng coi nhẹ vai trò

chủ nghĩa.
Quá trình sử dụng cải tạo các thành phần kinh tế tư nhân phải bằng hình thức
bước đi thích hợp gắn với quá trình tổ chức lại nền sản xuất xã hội mới: bảo đảm
hình thành một nền kinh tế thống nhất trong cả nước, việc liên kết liên doanh các
thành phần kinh tế các hình thức tổ chức sản xuất mới đem lại hiệu quả kinh tế.
Có thể hình dung quá trình chuyển từ nền kinh tế đa thành phần thành nền kinh tế
xã hội chủ nghĩa là phát triển mạnh mẽ nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần,
nhà nước xã hội chủ nghĩa và nền kinh tế quốc doanh phải đủ sức mạnh và có
thực hiện điều tiết, hướng đi phát triển toàn bộ nền kinh tế quốc dân và các thành
phần kinh tế khác, sự lớn mạnh của kinh tế xã hội chủ nghĩa sẽ làm chuyển hóa
dần vị trí vai trò tính chất của cá thể tư nhân theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Tóm lại trên cơ sở thực tế đất nước và cơ sở lý luận của Mác Lênin. Đảng ta
khẳng định trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội sự tồn tại của các thành phần
kinh tế là tất yếu khách quan. Các thành phần kinh tế ấy tuy có mâu thuẫn với
nhau nhưng lại thống nhất đan xen, đan kết đấu tranh để cùng tồn tại. Việc khẳng
18
định sự tồn tại của các thành phần kinh tế chính là sự vận dụng đúng đắn mối
quan hệ biện chứng quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ lực
lượng sản xuất, trong thời kỳ quá độ nó còn khả năng to lớn tạo ra địa bàn cho lực
lượng sản xuất phát triển.
Câu 4:Hệ thống phân phối thu nhập cá nhân ở việt nam hiện nay?
Bài làm
1- Cơ sở lý luận về phân phối thu nhập.
a. Phân phối : Để tồn tại và phát triển con người đã không ngừng hoạt động
lao động SX tạo ra của cải vật chất và phân phối nó để duy trì phát triển SX và đảm
bảo cuộc sống cho mọi thành viên trong XH. Vậy, phân phối là một phạm trù KT
khách quan, nói về sự phân chia, phân bổ những của cải vật chất con người làm ra
để vừa đáp ứng tiêu dùng cho quá trình tiếp tục SX, vừa đáp ứng cho tiêu dùng cá
nhân của mọi người.
Theo quan điểm của CN Mác-Lênin, phân phối là một trong 3 mặt của QHSX

trao đổi là các khâu trung gian nối SX và tiêu dùng, vừa phục vụ và thúc đẩy SX,
vừa phục vụ tiêu dùng XH. Phân phối bao gồm: phân phối cho tiêu dùng sản xuất
19
(sự phân TLSX, sức lao động của XH vào các ngành SX) và phân phối thu nhập
quốc dân hình thành thu nhập của các tầng lớp dân cư trong XH. Phân phối thu
nhập là kết quả của SX, do SX quyết định. Tuy là sản vật của SX, song sự phân
phối có ảnh hưởng không nhỏ đối với SX: có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát
triển của SX.
b. Thu nhập : Thu nhập là phạm trù KT khách quan nói về phần của cải vật
chất mà mỗi người lao động nhận được thông qua quá trình phân phối để đảm bảo
cuộc sống cho gia đình mình.
Vị trí, vai trò của phân phối và thu nhập đã nói lên tầm quan trọng của nó đối
với sự phát triển của các giai đoạn, các hình thái KT-XH nói chung và đối với sự
phát triển KT-XH ở mỗi quốc gia, trong từng thời kỳ lịch sử nói riêng. Bởi nếu
thực hiện phân phối thu nhập đúng đắn, khoa học nó sẽ tạo ra nhiệt tình lao động
tạo ra động lực để thúc đẩy SX phát triển; ngược lại nếu phân phối thu nhập một
cách tùy tiện, bất hợp lý nhất định sẽ kèm theo nhân dân lao động không đồng tình
ủng hộ, không thiết tha với quá trình lao động SX sẽ đẩy nền KT vào tình trạng trì
trệ, khủng hoảng.
Trong thời kỳ quá độ lên CNXH, phân phối thu nhập là một vấn đề vô cùng
quan trọng để tạo ra động lực mạnh mẽ góp phần tích cực thúc đẩy SX phát triển,
ổn định tình hình KT-XH, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện mục tiêu dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Mác chỉ ra rằng: hình thức
phân phối cơ bản trong giai đoạn thấp xây dựng CNXH là hình thức phân phối theo
lao động. Còn khi các quốc gia tiến lên giai đoạn cao xây dựng chủ nghĩa cộng sản
đích thực thì hình thức phân phối cơ bản lúc này là phân phối theo nhu cầu, vì lúc
này mọi người đều tự giác làm việc theo năng lực của mình, do đó họ đều được
hưởng thụ theo nhu cầu.
Khi thực hiện quan hệ phân phối dưới những hình thức phân phối khác nhau
chính là quá trình thực hiện phân chia, phân bổ toàn cầu những của cải vật chất mà

phân phối thu nhập. Đó là: thứ nhất, nền KT nước ta là nền Kt nhiều thành phần, có
nhiều hình thức sở hữu khác nhau, do vậy có nhiều hình thức phân phối khác nhau.
Thứ hai, nền KT nước ta còn tồn tại nhiều phương thức kinh doanh khác nhau, lại
có nhiều sự khác nhau về trình độ chuyên môn, tay nghề, thậm chí cả về sự may
mắn… do đó khác nhau về thu nhập. Vì vậy, không thể có một hình thức phân phối
thu nhập thống nhất, trái lại có nhiều hình thức khác nhau.
Hơn nữa, trong XH còn nhiều sự khác nhau về các loại lao động: lao động chân
tay và trí óc, còn có sự khác nhau về thái độ lao động như tích cực, tận tụy, sáng
tạo, có kỷ luật và chây lười, trốn tránh lao động, thiếu trách nhiệm … Mặc khác,
của cải XH chưa đủ dồi dài để có thể thỏa mãn mọi nhu cầu bằng cách phân phối
theo nhu cầu, do vậy hình thức phân phối theo lao động là hình thức cơ bản và hợp
lý nhất.
3- Các hình thức phân phối thu nhập trong thời kỳ quá độ lên CNXH.
XH XHCN mà nước ta đang xây dựng là một chế độ XH mới, tốt đẹp do Đảng
cộng sản lãnh đạo giai cấp công nhân thực hiện. Mục tiêu là không ngừng nâng cao
cả đời sống vật chất và cả đời sống tinh thần cho mọi thành viên trong XH. Song,
trước thời kỳ đổi mới, do chưa nhận thức đúng đắn vấn đề này, nên chúng ta không
chú trọng đến vấn đề phân phối, mà phân phân phối theo dạng “cào bằng” hay
“bình quân chủ nghĩa”. Hậu quả của nó đã làm cho nền kinh tế trì trệ, mất cân đối,
SX không phát triển. Vì vậy, việc thực hiện hình thức phân phối đúng đắn là vấn đề
vô cùng hệ trọng để tạo ra động lực mạnh mẽ góp phần tích cực thúc đẩy SX phát
triển, ổn định tình hình KT-XH, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện mục tiêu
dân giàu, nước mạnh, XH công bằng, dân chủ, văn minh. Từ Đại hội Đảng lần thứ
VI có sự đổi mới mạnh mẽ trong tư duy và hành động, nhất là trong quản lý KT.
Từ đó trong lĩnh vực phân phối sản phẩm XH, Đảng và Nhà nước ta đã thực hiện
nghiêm túc và sáng tạo các luận điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về phân phối,
nhất là luôn bảo đảm quỹ phân phối cho tiêu dùng người lao động, nhằm tạo ra
nhiệt tình và động lực hăng hái lao động SX.
Về nguyên tắc phân phối, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng ta
khẳng định: “Thực hiện nhiều hình thức phân phối, lấy phân phối theo kết quả lao

bóc lột, cơ sở để quyết định phân phối tiêu dùng cho mỗi người tham gia vào lao
động SX là kết quả lao động mà họ cống hiến.
- Về nội dung và hình thức phân phối theo lao động.
Phân phối theo lao động, là hình thức phân phối thu nhập căn cứ vào số lượng
và chất lượng lao động của từng người đã đóng góp cho XH. Theo qui luật này,
người làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, có sức lao động mà không làm thì
không hưởng; lao động là kỹ thuật cao, lao động ở những ngành, nghề độc hại,
trong những điều kiện khó khăn đều được hưởng phần thu nhập thích đáng. Tuy
nhiên, phân phối theo lao động không có nghĩa là làm ra bao nhiêu thì hưởng tất cả.
Bộ phận sản phẩm dùng để phân phối theo lao động, sản phẩm cần thiết dùng cho
phân phối chỉ là một phần của tổng sản phẩm XH.
- Phân phối theo lao động là phương thức phối hợp lý, nó có tác dụng thúc đẩy
mọi người nâng cao tinh thần trách nhiệm, thúc đẩy nâng cao năng suất lao động,
tinh thần và thái độ lao động, khắc phục những tàn dư tư tưởng cũ, củng cố kỷ luật
lao động….
Phân phối lao động còn có tác dụng thúc đẩy mọi người nâng cao trình độ
nghề nghiệp, trình độ văn hóa, ổ định lao động, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tổ
chức lao động XH.
Tác động mạnh đến đời sống vật chất và văn hóa của người lao động, vừa đảm
bảo tái SX lao động, vừa tạo điều kiện cho mọi người lao động phát triển toàn diện.
Phân phối theo lao động là hợp lý nhất, công bằng nhất so với các hình thức
phân phối đã có trong lịch sử. Cơ sở của sự công bằng XH của sự phân phối đó là
sự bình đẳng trong quan hệ sở hữu về TLSX.
Song, theo C.Mác, phân phối theo lao động về nguyên tắc vẫn là sự bình đẳng
trong khuôn khổ “pháp quyền tư sản”, tức là sự bình đẳng trong XH sản xuất hàng
hóa theo nguyên tắc sự trao đổi hoàn toàn ngang giá. Sự bình đẳng ở đây được hiểu
theo nghĩa “quyền của người SX là tỷ lệ với lao động mà người ấy đã cung cấp”;
sự bình đẳng đó còn thiếu sót là “với một công việc ngang nhau và do đó, với một
22
phần tham dự như nhau vào quỹ tiêu dùng của XH thì trên thực tế, người này vẫn

+ Phát huy tính tích cực lao động cộng đồng mọi thành viên trong XH.
+ Nâng cao thêm mức sống toàn dân, đặc biệt đối với những người có thu nhập
thấp, đời sống khó khăn, làm giảm chênh lệch quá đáng về thu nhập của các thành
viên trong cộng đồng.
+ Giáo dục ý thức cộng đồng, xây dựng chế độ XH mới.
Quỹ phúc lợi tập thể và XH là một bộ phận không thể thiếu được trong quá
trình phân phối thu nhập cho cá nhân trong cộng đồng, song quỹ đó chỉ có ý nghĩa
tích cực khi được qui định và sử dụng một cách hợp lý, phù hợp với yêu cầu và các
điều kiện khách quan.
Tính hợp lý của quỹ phúc lợi tập thể và XH được biểu hiện: Quỹ phúc lợi tập
thể, XH không thể mở rộng quá khả năng của nền KT cho phép; Tốc độ tăng
trưởng thu nhập trực tiếp của cá nhân trong cộng đồng tăng trưởng nhanh hơn tốc
độ tăng trưởng phúc lợi tập thể và XH; Trong giới hạn đã xác định, phải sử dụng có
hiệu quả các quỹ phúc lợi tập thể, XH tiết kiệm, hợp lý. Ngoài ra, Quỹ phúc lợi XH
còn là một bộ phận của chính sách XH cần được giải quyết theo tinh thần XH hóa,
mà Nhà nước giữ vai trò nồng cốt, đồng thời động viên mọi người dân, các doanh
23
nghiệp, các tổ chức trong XH, các cá nhân và tổ chức nước ngoài cùng tham gia
đóng góp.
Câu 4a : Nội dung phân phối theo thu nhập
1/ Vì sao lơi ích kinh tế trở thành động lực kinh tế?:

Một hình thái KT –XH có nhiều lợi ích phức tạp, Trong đó lợi ích KT có
ý nghĩa quyết định nhất. Lợi ích KT được quy định bỡi QHSX của một chế độ
XH, trong đó quan hệ sở hữu TLSX có vai trò chi phối hệ thống lợi ích KT.
Lợi ích KT là những quan hệ kinh tế phản ánh những nhu cầu, những động
cơ khách quan về sự hoạt động của các giai cấp , những nhóm xã hội, hay từng
cá nhân do QHSX quyết định. Lơi ích kinh tế trở thành động lực kinh tế bỡi vì:
- Lợi ích kinh tế có vai trò hết sức quan trọng , nó là động lực thúc đẩy
hoạt động kinh tế của con người. Bỡi vì, nó gắn liền với nhu cầu vật chất, nhằm

Nền KT nước ta là nền KT hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ
chế thị trường có sự quản lý của nhà nước. Mỗi thành phần kinh tế có phương
thức SX kinh doanh riêng. Ngay trong thành phần KT thuộc chế độ công hữu
24
cũng có các phương thức kinh doanh khác nhau, do đó hình thức thu nhập cá
nhân ở đây cũng khác nhau.
- Cơ chế thị trường cũng đòi hỏi phải thực hiện nhiều hình thức phân phối:
Trong nền KT vận hành theo cơ chế thị trường, sự điều phối sắp xếp hợp
lý các yếu tố của nền SX xã hội phải do cơ chế thị trường thực hiện, do đó các
loại yếu tố của SX tất nhiên phải được tham gia vào quá trình phân phối, như
thông qua thị trường mà tập trung vốn và điều phối vốn; vận dụng việc phát hành
cổ phiếu hoặc trái phiếu để lấy lời . . Điều đó cũng góp phần vào việc hình thành
phương thức phân phối thu nhập cá nhân theo nhiều hình thức.
3/ Các hình thức phân phối theo thu nhập ( Phân phối theo lao động là gì ?
Vì sao trong CNXH phải thực hiện phân phối theo lao động? Nội dung – Hình
thức – Tác dụng – Hạn chế ? ).
* Phân phối theo lao động là nguyên tắc phân phối thu nhập cho người lao
động dựa vào số lượng và chất lượng lao động mà mỗi người đã đóng góp cho
XH, không phân biệt giới tính, tôn giáo, dân tộc và tuổi tác.
* Nội dung: Phân phối theo lao động là môt tất yếu khách quan trong thời
kỳ quá độ, nó thích hợp với các thành phần KT dựa trên chế độ công hữu về
TLSX. Bỡi vì:
Do dựa trên chế độ công hữu về TLSX, nên tất cả mọi người đều có quyền
và nghĩa vụ lao động như nhau.
Còn có sự khác biệt giữa lao động giản đơn và lao động phức tạp, giữa
chân tay và trí óc.
Lực lượng SX tuy đã phát triển nhưng chưa đến mức để phân phối theo
nhu cầu, do đó phải thực hiện phân phối theo lao động.
* Hình thức: Việc trả công theo lao động phải căn cứ vào số lượng và chất
lượng lao động của mỗi người, phải trả công bằng cho lao động ngang nhau, trả


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status