Nhận thức và vận dụng Chính sách kinh tế mới của Lênin vào công cuộc Đổi mới ở nước ta hiện nay - Pdf 25

1. Sơ lược về Chính sách kinh tế mới của Lê-nin
1.1. Hoàn cảnh ra đời
Không bao lâu sau khi cách mạng tháng 10 Nga năm 1917 kết thúc, việc thực hiện
kế hoạch xây dựng chủ nghĩa xã hội của V.I.Lê-nin bị gián đoạn bởi cuộc nội chiến 1918-
1920. Trong thời kì này, V.I.Lê-nin đã áp dụng chính sách cộng sản thời chiến là trưng thu
lương thực thừa của nông dân sau khi dành lại cho họ mức ăn tối thiểu, đồng thời xóa bỏ
quan hệ hàng hóa tiền tệ (ví dụ như cấm buôn bán lương thực trên thị trường thể hiện
bằng sắc lệnh của Hội đồng tối cao 1920 đã quốc hữu hóa toàn bộ khu vực tiểu thủ công
nghiệp, loại bỏ thương nghiệp bán lẻ và kết thúc bằng việc cấm chợ ở các thành phố), xóa
bỏ việc tự do mua bán lương thực trên thị trường, thực hiện chế độ cung cấp hiện vật cho
quân đội và bộ máy nhà nước vào nền kinh tế. Chính sách cộng sản thời chiến đã đóng vai
trò quan trọng trong thắng lợi của nhà nước Xô Viết; nhờ đó mà quân đội đủ sức chiến
thắng kẻ thù, bảo vệ được nhà nước Xô Viết non trẻ.
Tuy nhiên khi hòa bình lập lại, chính sách cộng sản thời chiến không còn thích hợp.
Nó trở thành nhân tố kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất, hậu quả chiến tranh
đối với nền kinh tế rất nặng nề, thêm vào đó chính sách trưng thu lương thực thừa đã làm
mất động lực đối với nhân dân. Việc xóa bỏ quan hệ hàng hóa-tiền tệ làm mất tính năng
động của nền kinh tế vốn dĩ mới bước vào giai đoạn phát triển. Vì vậy, khủng hoảng kinh
tế - chính trị diễn ra rất sâu sắc . Tình hình kinh tế của nước Nga Xô Viết sau nội chiến vô
cùng tồi tệ, tình trạng phân tán và tản mạn của những người tiểu sản xuất ngày càng
nhiều, xã hội xảy ra hiện tượng nghèo đói, vô văn hoá và mù chữ, mối liên hệ trao đổi
hàng hóa giữa thành thị và nông thôn bị ngừng trệ. Nội chiến những năm 1918 - 1920 làm
cho đất nước khánh kiệt, việc tái thiết lực lượng sản xuất bị cản trở; nạn mất mùa, dịch
súc vật năm 1920 làm tăng thêm tình trạng nghèo đói, từ đó ngày càng cản trở việc khôi
phục giao thông và công nghiệp. Theo đà ngày càng suy thoái của tình trạng kinh tế đất
nước, tình thế chính trị cũng tiếp tục trầm trọng hơn, khá phổ biến là sự dao động về
chính trị của người tiểu sản xuất. Cuộc nổi loạn ở Crônstát và cuộc khởi nghĩa của nông
Trang 1
dân ở vùng Tambốp đã thể hiện một cách đặc trưng cho sự dao động của tầng lớp tiểu tư
sản và tính tự phát của nông dân nói chung.
Điều đó đòi hỏi phải có chính sách kinh tế thích ứng thay thế và chính sách kinh tế

1
. Trong nông nghiệp, nhà nước chỉ thu
của nông dân một số thuế nhất định và ấn định trước số thuế đó, những nông sản còn lại
người nông dân được tự do mua bán trên thị trường. Qua đó đã tạo được động lực kích
thích nông dân phát triển sản xuất, tạo ra nhiều nông sản hàng hoá. Nhưng theo V.I. Lê-
nin, tự do buôn bán là "khôi phục chủ nghĩa tư bản trên một mức độ lớn", “là tự do của
chủ nghĩa tư bản”
2
. Tuy nhiên, cần phải "dung nạp" chủ nghĩa tư bản, vì nó cần cho đông
đảo quần chúng nông dân và cho tư bản tư nhân - những người phải buôn bán để thoả
mãn nhu cầu của nông dân. Đối với tư bản nước ngoài, phải thu hút, thông qua chính sách
tô nhượng nhà nước cho nhà tư bản nước ngoài thuê xí nghiệp, hầm mỏ, khu rừng, đất
đai, mỏ dầu , thông qua những hợp đồng buôn bán với các nước tư bản lớn, và những
hình thức khác để khôi phục và phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, nhận của họ
những sản phẩm công nghiệp, những máy móc. “Chính quyền Xô Viết mời các nhà tư bản
nước ngoài nào muốn có các tô nhượng ở nước Nga”
3
. Và “Tất cả các đồng chí đều phải
làm kinh tế. Bên cạnh các đồng chí sẽ có những nhà tư bản, cũng sẽ có những nhà tư bản
nước ngoài… Họ sẽ làm giàu bên cạnh các đồng chí. Cứ để cho họ làm giàu; còn các
đồng chí thì sẽ học ở bọn họ cách quản lý kinh tế, chỉ có như thế, các đồng chí mới xây
dựng được nước cộng hòa cộng sản chủ nghĩa”
4
. Đồng thời, cần tìm cách hướng nó vào
1V.I.Lênin, toàn tập, T. 43. NXB tiến bộ, M., 1978, tr. 400, tr. 299
2 V.I.Lênin, toàn tập, T. 44. NXB tiến bộ, M., 1978, tr. 54, tr. 54, tr. 58, tr. 209
3 V.I.Lênin, toàn tập, T. 43. NXB tiến bộ, M., 1978, tr. 400, tr. 299
4 V.I.Lênin, toàn tập, T. 44. NXB tiến bộ, M., 1978, tr. 54, tr. 54, tr. 58, tr. 209
Trang 3
con đường của chủ nghĩa tư bản nhà nước để nhà nước xã hội chủ nghĩa có thể điều tiết,

phát triển.
Thứ hai, chính sách kinh tế mới còn đánh dấu một bước phát triển mới về lý luận
kinh tế xã hội chủ nghĩa. Theo tư tưởng này, nền kinh tế nhiều thành phần, các hình thức
kinh tế quá độ, việc duy trì và phát triển quan hệ hàng hóa - tiền tệ, quan tâm tới lợi ích
kinh tế cá nhân, mà trước hết là của nông dân, là những vấn đề có tính nguyên tắc trong
việc xây dựng mô hình kinh tế xã hội chủ nghĩa. Từ đó chính sách kinh tế mới có ý nghĩa
quốc tế to lớn đối với các nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó có
nước ta.
2. Vận dụng chính sách kinh tế mới ở Việt Nam
2.1. Sự cần thiết áp dụng chính sách kinh tế mới của Lê-nin ở Việt Nam
Việt Nam bước vào thời kỳ quá độ với đặc trưng kinh tế chủ yếu là sản xuất nhỏ,
mang tính chất của nền kinh tế tiểu nông, một nước mà khi cách mạng xã hội chủ nghĩa
diễn ra với những điều kiện bên trong và quốc tế vừa có nhiều khác biệt, vừa có nhiều
điểm tương đồng, lại vừa có điểm phức tạp hơn so với nước Nga Xô viết sau nội chiến.
Những gì diễn ra sau năm 1975 và đỉnh điểm là những năm đầu thập kỷ 80 của thế kỷ
trước, vừa khẳng định những nét đặc thù của cách mạng Việt Nam đòi hỏi cần có nhận
thức lý luận để vận dụng chính sách kinh tế mới (NEP), vừa chỉ ra cơ sở thực tiễn cho
phép Đảng và Nhà nước ta vận dụng NEP. Từ những nội dung kinh tế và chính trị của
công cuộc đổi mới cho thấy Đảng ta đã vận dụng hết sức sáng tạo Chính sách kinh tế mới
của V.I.Lê-nin.
Vào giữa những năm 80 của thế kỷ trước, Việt Nam lâm vào một cuộc khủng hoảng
kinh tế - xã hội trầm trọng ở trong nước. Suốt những năm 1970 cho đến năm 1986, sở hữu
Trang 5
tư nhân bị triệt tiêu, nhường chỗ cho sở hữu nhà nước và sở hữu tập thể. Hệ quả tất yếu là
sản xuất nông nghiệp trì trệ, tình trạng thiếu lương thực diễn ra triền miên. Phần lớn nhà
máy, xí nghiệp rơi vào tình trạng “lời giả, lỗ thật”, lưu thông phân phối ách tắc, thị trường
rối loạn. Lạm phát đạt tốc độ “ phi mã” kéo dài với chỉ số tăng giá bán lẻ cả năm 1986 là
774,7%. Đời sống của các tầng lớp nhân dân sa sút nghiêm trọng. Thời kỳ giáp hạt ở nông
thôn, có tới hàng triệu gia đình thiếu ăn. Tiêu cực xã hội lan rộng, lòng dân không yên…
Còn ở bên ngoài, chủ nghĩa xã hội hiện thực trên thế giới cũng đang ở trong tình trạng suy

triển.
Tiếp tục sự nghiệp đổi mới, Đại hội X (năm 2006) xác định năm thành phần kinh tế
trong thời kỳ quá độ ở nước ta:
Một là: thành phần kinh tế nhà nước. Kinh tế nhà nước bao gồm các doanh nghiệp
nhà nước và các sở hữu khác của Nhà nước, kể cả phần vốn của Nhà nước trong các đơn
vị liên doanh. Đảng ta khẳng định: “Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là lực lượng vật
chất quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh tế, tạo môi trường và điều
kiện thúc đẩy các thành phần kinh tế cùng phát triển”.
Hai là: thành phần kinh tế tập thể. Kinh tế tập thể mà nòng cốt là các hợp tác xã là
hình thức liên kết tự nguyện của những người lao động nhằm kết hợp sức mạnh của từng
thành viên với sức mạnh của tập thể để giải quyết tốt hơn những vấn đề của sản xuất, kinh
doanh và đời sống. Trong quá trình xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa,
“kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của
nền kinh tế quốc dân”.
Trang 7
Ba là: thành phần kinh tế tư nhân (cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân). “Kinh tế tư nhân
có vai trò quan trọng, là một trong những động lực của nền kinh tế”. Vì vậy, Đảng ta chủ
trương phát triển mạnh các hộ kinh doanh cá thể và các loại hình doanh nghiệp tư nhân.
Bốn là: thành phần kinh tế tư bản nhà nước. Kinh tế tư bản nhà nước bao gồm các
hình thức hợp tác liên doanh giữa kinh tế nhà nước với tư bản tư nhân trong nước và nước
ngoài. Kinh tế tư bản nhà nước có vai trò quan trọng trong việc động viên tiềm năng to
lớn về vốn, công nghệ, khả năng tổ chức, quản lý, thị trường… của nhà tư bản để phát
triển sản xuất.
Năm là: thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Kinh tế có vốn đầu tư nước
ngoài hướng vào mục tiêu phát triển các sản phẩm xuất khẩu, tăng khả năng cạnh tranh và
xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, gắn với thu hút công nghệ hiện đại, tạo thêm
việc làm. Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là thành phần kinh tế được khuyến khích phát
triển.
Tiếp đó, định hướng về phát triển kinh tế tại Đại hội XI của Đảng đã chỉ rõ: cần
“phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở

thiết yếu” và “tạo được một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực; tăng nhanh kim ngạch xuất
khẩu để đáp ứng được phần lớn nhu cầu nhập khẩu vật tư, máy móc, phụ tùng và những
hàng hoá cần thiết” để tạo nguồn thu lớn cho ngân sách.
Để tăng nhanh khối lượng hàng hoá lưu thông, phải “kết hợp việc xây dựng các
ngành kinh tế - kỹ thuật với việc phát huy thế mạnh của từng vùng, từng tỉnh, thành phố
theo hướng mở rộng sản xuất và lưu thông hàng hoá, chú trọng xây dựng kinh tế trên địa
bàn huyện”, phải “mở rộng giao lưu hàng hoá, bãi bỏ các biện pháp cấm đoán, chia cắt thị
Trang 9
trường theo địa giới hành chính, kịp thời phát hiện và nghiêm khắc trừng trị bọn đầu cơ,
buôn bán phi pháp”.
2.2.3. Cải tạo dần dần cơ cấu kinh tế xã hội cũ, từng bước xây dựng cơ cấu kinh tế xã hội
mới theo đúng quy luật khách quan, không đốt cháy giai đoạn
Quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một quá trình lịch sử lâu dài, là thời kỳ diễn ra những
cải biến cách mạng sâu sắc và toàn diện, đòi hỏi chúng ta phải có những bước đi thích
hợp; trải qua những khâu trung gian, quá độ khác nhau. Do vậy, nhiệm vụ cải tạo xã hội
chủ nghĩa cần được thực hiện một cách thường xuyên, với những hình thức và bước đi
thích hợp, làm cho quan hệ sản xuất từng bước phù hợp với tính chất và trình độ của lực
lượng sản xuất, thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất. Trong cải tạo xã hội xã hội
chủ nghĩa tại Việt Nam không thể nôn nóng xóa bỏ các thành phần kinh tế không phải của
chủ nghĩa xã hội mà phải tuyệt đối tuân theo quy luật khách quan. Trên thực tế, chúng ta
cũng đã từng bị trả giá do biện pháp và bước đi quá vội vàng, đó là khi chúng ta tiến hành
hợp tác hoá và xây dựng hợp tác xã bậc cao, bất chấp quy luật phát triển khách quan; do
vậy, kết quả mang lại không được như ý muốn.
2.2.4. Phát triển có mức độ chủ nghĩa tư bản tư nhân trong nước, đồng thời phát triển chủ
nghĩa tư bản nhà nước
Thời kỳ đầu đổi mới, tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Đảng chủ trương
“sử dụng kinh tế tư bản tư nhân (tư sản nhỏ) trong một số ngành, nghề, đi đôi với cải tạo
họ từng bước bằng nhiều hình thức kinh tế tư bản nhà nước. Mở rộng nhiều hình thức liên
kết giữa các thành phần kinh tế theo nguyên tắc cùng có lợi, bình đẳng trước pháp luật”.
Sau đó, tại Đại hội X, với nhận thức về vai trò của chủ nghĩa tư bản tư nhân để phát

tựu to lớn hơn nữa, tại Đại hội X, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã xác định mục tiêu
Trang 11
đến năm 2020 nước ta "cơ bản trở thành nước công nghiệp". Kế thừa có chọn lọc và phát
triển những tri thức của văn minh nhân loại về công nghiệp hoá và căn cứ vào điều kiện
lịch sử cụ thể của Việt Nam, Đảng cộng sản Việt Nam tại Hội nghị Trung ương lần thứ
bảy khóa VII (năm 1994), nêu chủ trương tiến hành xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật
của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong giai đoạn mới bằng con đường công nghiệp hóa và
hiện đại hóa, thực hiện “quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất
kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội, từ sử dụng lao động thủ công là chính
sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động với công nghệ, phương tiện, phương pháp
tiên tiến hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học công nghệ,
tạo ra năng suất lao động xã hội cao”.
Theo quan niệm này, quá trình xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã
hội ở Việt Nam phải kết hợp chặt chẽ hai nội dung công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Nó
không chỉ đơn thuần là phát triển công nghiệp mà còn phải thực hiện chuyển dịch cơ cấu
trong từng ngành, lĩnh vực và toàn bộ nền kinh tế quốc dân theo hướng hiện đại. Nó
không chỉ là một quá trình phát triển tuần tự từ cơ giới hóa lên tự động hóa, tin học hóa
mà còn kết hợp giữa thủ công truyền thống với công nghệ hiện đại, tranh thủ đi nhanh vào
hiện đại ở những khâu có thể và mang tính quyết định.
2.2.6. Đẩy mạnh phát triển hợp tác hóa trong nông nghiệp, tiểu công nghiệp, thủ công
nghiệp, tạo điều kiện phát triển nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa
Để phục vụ công cuộc đổi mới đất nước, bên cạnh việc sử dụng khả năng tích cực
của kinh tế tiểu sản xuất hàng hoá, Nhà nước ta còn chủ trương “vận động và tổ chức
những người lao động cá thể vào các hình thức làm ăn tập thể để nâng cao hiệu quả sản
xuất kinh doanh; sắp xếp, cải tạo và sử dụng tiểu thương, giúp đỡ số người không cần
thiết trong lĩnh vực lưu thông chuyển sang sản xuất và dịch vụ”. Theo đó, việc phát triển
mô hình hợp tác xã trong nông nghiệp, tiểu công nghiệp phải tôn trọng tính tự nguyện của
Trang 12
người dân và phát triển từ thấp lên cao được đặc biệt chú trọng, khi đủ điều kiện thì phát
triển mô hình này thành doanh nghiệp của nhà nước.

sáng tạo được sử dụng đúng và phát triển.
Trong mục tiêu và phương hướng phát triển đất nước 5 năm 2006 - 2010, Đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ X nêu rõ: "thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao
động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và
thông qua phúc lợi xã hội". Phân phối theo lao động là phân phối trong các đơn vị kinh tế
dựa trên cơ sở sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất (kinh tế nhà nước) hoặc các hợp tác
xã cổ phần mà phần góp vốn của các thành viên bằng nhau (kinh tế hợp tác). Các thành
phần kinh tế này đều dựa trên chế độ công hữu xã hội chủ nghĩa về tư liệu sản xuất ở các
trình độ khác nhau. Người lao động làm chủ những tư liệu sản xuất, nên tất yếu cũng làm
chủ phân phối thu nhập. Vì vậy, phân phối phải vì lợi ích của người lao động.
Đến năm 2011, tại Đại hội XI, quan điểm này vẫn là được quán triệt mạnh mẽ và
quyết liệt: “Đổi mới quan hệ phân phối, chính sách tiền lương, thu nhập của cán bộ, công
chức, viên chức, người lao động; khắc phục tình trạng bất hợp lý và tác động tiêu cực của
quan hệ phân phối, chính sách tiền lương, thu nhập hiện nay”.
2.2.8. Tăng cường vai trò quản lý kinh tế của nhà nước bằng biện pháp kinh tế chống mệnh
lệnh, hành chính, quản lý bằng kế hoạch, chính sách công minh trên cơ sở tôn trọng
và vận dụng các quy luật kinh tế của thị trường
Để đảm bảo thắng lợi cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, chúng ta phải giữ
vững định hướng xã hội chủ nghĩa. Ở đây, sự điều tiết vĩ mô của Đảng và Nhà nước là
một tất yếu khách quan. Do đó, công tác lãnh đạo của Đảng luôn được quán triệt theo tinh
thần cách mạng và khoa học, tăng cường hiệu lực tổ chức quản lý, thiết lập trật tự, kỷ
Trang 14
cương và thực hiện công bằng xã hội. Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nhằm tạo ra động
lực thúc đẩy các đơn vị kinh tế và quần chúng lao động hăng hái phát triển sản xuất, nâng
cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế. Kiên quyết xoá bỏ cơ chế tập trung quan
liêu, bao cấp, thiết lập và hình thành đồng bộ cơ chế kế hoạch hoá theo phương thức hạch
toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa, đúng nguyên tắc tập trung dân chủ. Cơ chế mới lấy kế
hoạch hoá làm trung tâm, sử dụng đúng đắn quan hệ hàng hoá - tiền tệ, quản lý bằng
phương pháp kinh tế là chủ yếu kết hợp với biện pháp hành chính, giáo dục, thực hiện
phân cấp quản lý theo nguyên tắc tập trung dân chủ, thiết lập trật tự, kỷ cương trong mọi

thác thành quả của nền văn minh nhân loại. Do vậy trong những năm qua, nước ta luôn
chủ trương mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại, đẩy mạnh xuất khẩu để đáp
ứng nhu cầu nhập khẩu, tham gia ngày càng rộng rãi vào sự phân công lao động quốc tế,
tích cực phát triển quan hệ kinh tế và khoa học, kỹ thuật với các nước khác, với các tổ
chức quốc tế và tư nhân nước ngoài trên nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi; mở rộng quan
hệ với tất cả các nước trên nguyên tắc cùng tồn tại hoà bình; triển khai đồng bộ, toàn diện,
hiệu quả các hoạt động đối ngoại, tích cực và chủ động hội nhập quốc tế.
Tóm lại:
Trong bối cảnh quốc tế và trong nước có rất nhiều khó khăn, thách thức, nhất là do
ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế toàn cầu; toàn Đảng, toàn
dân, toàn quân ta đã nỗ lực phấn đấu đạt được những thành tựu quan trọng, ứng phó có
kết quả trước những diễn biến phức tạp của kinh tế thế giới và trong nước. Bằng sự vận
dụng sáng tạo Chính sách kinh tế mới của Lênin, chúng ta cơ bản giữ vững ổn định kinh
tế vĩ mô; duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế khá, các ngành đều có bước phát triển, quy mô
Trang 16
nền kinh tế tăng lên. Đời sống của nhân dân tiếp tục được cải thiện; chính trị - xã hội ổn
định; quốc phòng, an ninh được tăng cường; độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn
lãnh thổ được giữ vững; hoạt động đối ngoại, hội nhập quốc tế được mở rộng, vị thế, uy
tín quốc tế của nước ta được nâng cao; phát huy dân chủ có tiến bộ, khối đại đoàn kết
toàn dân tộc tiếp tục được tăng cường; công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị đạt
một số kết quả tích cực.
Tuy nhiên, cũng còn nhiều hạn chế, khuyết điểm cần quyết tâm khắc phục: Kinh tế
phát triển chưa bền vững, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế thấp;
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá chậm; chế độ phân
phối còn nhiều bất hợp lý, phân hoá giàu nghèo tăng lên. Những hạn chế, yếu kém trong
các lĩnh vực giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ, văn hoá, xã hội, bảo vệ môi trường
chậm được khắc phục; tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tội phạm, tệ nạn xã hội, suy
thoái đạo đức, lối sống chưa được ngăn chặn, đẩy lùi. Thể chế kinh tế, chất lượng nguồn
nhân lực, kết cấu hạ tầng vẫn là những điểm yếu cản trở sự phát triển. Nền dân chủ xã hội
chủ nghĩa và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc chưa được phát huy đầy đủ. Công tác

3. Một số giải pháp vận dụng chính sách kinh tế mới của Lê nin để phát triển kinh tế
trong giai đoạn hiện nay
Khẳng định quan điểm vận dụng một cách sáng tạo và phát triển hơn nữa những tư
tưởng cơ bản của V.I. Lênin về chính sách kinh tế mới nhằm mục đích sáng tạo ra nhiều
hình thức kinh tế trong thời kỳ quá độ, phù hợp với bối cảnh của công cuộc đổi mới theo
định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay. Chúng ta cần tiếp tục thực hiện:
3.1. Đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế nhà nước, kinh tế hợp tác xã
Trang 18
Kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo, cùng với kinh tế hợp tác xã dần dần trở
thành nền tảng tạo điều kiện kinh tế pháp lý thuận lợi để các nhà kinh doanh tư nhân yên
tâm đầu tư, làm ăn lâu dài. Mở rộng các hình thức liên doanh liên kết giữa kinh tế nhà
nước với các thành phần kinh tế khác cả trong và ngoài nước.Áp dụng phổ biến các hình
thức kinh tế tư bản nhà nước.
Trong bối cảnh mở cửa, giao lưu, hợp tác khu vực và quốc tế ngày càng mở rộng và
có chiều sâu; sự phát triển mạnh mẽ và có hiệu quả của thành phần kinh tế tư bản nhà
nước trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần chẳng những giúp chúng ta đẩy mạnh
tốc độ tăng trưởng kinh tế, rút ngắn quá trình khắc phục tình trạng tụt hậu về kinh tế so
với các nước trong khu vực và trên thế giới, mà còn tạo thêm công ăn việc làm cho người
lao động nước ta và góp phần cải thiện đời sống của họ.
Chiến lược phát triển lấy công nghiệp hoá hiện đại hoá theo định hướng xã hội chủ
nghĩa vừa là mục tiêu vừa là động lực, thiết nghĩ không thể không phát triển kinh tế tư
bản nhà nước.
3.2. Phát triển quan hệ hàng hoá - tiền tệ trong đổi mới cơ chế quản lý kinh tế
Trình độ sản xuất hàng hoá không đồng đều trải rộng từ trình độ trao đổi giản đơn ở
nông thôn đến trình độ sản xuất lớn của xí nghiệp ở thành thị. Sản xuất hàng hoá nhỏ
đang chiếm ưu thế so với sản xuất hàng hoá lớn.Sản xuất hàng hoá nhỏ trong công nghiệp
và nông nghiệp đang đáp ứng 80 - 90% nhu cầu hàng hoá của xã hội. Ngay trong các
thành phố lớn và hàng xuất khẩu, sản xuất hàng hoá nhỏ vẫn còn chiếm tỷ trọng lớn. Đặc
điểm này đòi hỏi chú ý vận dụng các hình thức quan hệ hàng - tiền thúc đẩy sản xuất hàng
hoá nhỏ phát triển và hình thành hệ thống phân công lao động và quan hệ trao đổi sản

kinh tế. Gắn thị trường trong nước với thị trường thế giới là đòi hỏi khách quan để cho
nền sản xuất hàng hóa phát triển mạnh.
Từ Đại hội VII và đặc biệt là từ Đại hội VIII trở đi, Đảng ta đã chủ trương mở rộng
thị trường trong nước, thực hiện quan hệ đa phương với thị trường thế giới trên nguyên
tắc bảo đảm đôi bên cùng có lợi - chính sách này đã tạo ra một sức hấp dẫn vốn đầu tư
nước ngoài vào nước ta và kích thích ngoại thương phát triển, xuất, nhập khẩu tăng nhanh
có lợi cho nền kinh tế nước ta trong những thập kỷ qua.
3.5. Chấp nhận tự do cạnh tranh và mở rộng liên doanh liên kết giữa các thành phần kinh
tế, giữa trong nước với ngoài nước
Trang 21
Đảng ta đã quyết tâm từ bỏ mô hình kinh tế bao cấp sơ cứng chỉ có 2 thành phần
kinh tế (quốc doanh và tập thể); không thị trường, không có cạnh tranh và không có liên
doanh liên kết kinh tế… thay thế bằng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN với
nhiều thành phần kinh tế tham gia, sử dụng quan hệ hàng hóa - tiền tệ làm phương thức
vận động, thực hiện trao đổi mua bán sản phẩm trên thị trường theo đúng quy luật giá trị -
quy luật kinh tế của sản xuất hàng hóa.
Chủ trương này đã đạt được những thành công lớn trong phát triển kinh tế hơn 20
năm qua trên đất nước ta.Liên doanh liên kết giữa các thành phần kinh tế, giữa kinh tế
trong nước với kinh tế ngoài nước là sự cần thiết, xuất phát từ yêu cầu phát triển sản xuất,
mở rộng kinh doanh. Liên doanh liên kết còn nhằm nâng cao tiềm lực vốn, kỹ thuật, sức
mạnh trong cạnh tranh và khả năng sản xuất kinh doanh của từng đơn vị xí nghiệp, các
chủ thể tham gia liên doanh liên kết đều có lợi.
3.6. Phát triển mạnh mẽ nền kinh tế thị trường định hướng XHCN phải dựa vào phát huy
nội lực là chính, đồng thời kết hợp với sử dụng có hiệu quả các nguồn ngoại lực
Tự túc, tự cường, tự chủ vốn là truyền thống của dân tộc ta trong 4.000 năm lịch sử.
Trong tình hình chính trị thế giới phức tạp như hiện nay và lực lượng sản xuất ngày càng
có xu hướng quốc tế hóa, để không bị lệ thuộc vào nước ngoài, vấn đề phát huy, khai thác
sử dụng có hiệu quả mọi nguồn nội lực để phát triển kinh tế là điều cực kỳ quan trọng,
phải xem đó là vấn đề chiến lược trước mắt cũng như lâu dài. Tuy nhiên việc thu hút và
sử dụng có hiệu quả các nguồn ngoại lực cũng không kém phần quan trọng để tạo điều

V.I.Lênin cho thấy rõ, giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính có quan hệ biện chứng, có sự
Trang 23
tác động qua lại lẫn nhau, là tiền đề, là điều kiện của nhau và do đó ngay từ đầu giữa
chúng phải có sự kết hợp chặt chẽ, trong đó đổi mới kinh tế phải được coi là trọng tâm,
đồng thời từng bước đổi mới chính trị.
Trang 24


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status