Biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống thông tin quản lý giáo dục trung học phổ thông thành phố Hải Phòng - Pdf 25



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƯ PHẠM PHẠM ĐỨC THÁI BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG
CỦA HỆ THỐNG THÔNG TIN QUẢN LÝ GIÁO
DỤC
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THÀNH PHỐ HẢI
PHÒNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

1.1.3. Tiêu chí và chỉ số thông tin quản lí giáo dục 25
1.1.4. Hiệu quả hoạt động của hệ thống thông tin quản lý giáo dục 26 1.2. Vai trò của hệ thống thông tin QLGD trong đổi mới giáo dục THPT hiện
nay 28
1.2.1. Đổi mới giáo dục THPT hiện nay 28
1.2.2. Vai trò của hệ thống thông tin QLGD trong đối mới giáo dục THPT
hiện nay 34
1.3. Yêu cầu và quy trình xây dựng hệ thống thông tin QLGD hoạt động có
hiệu quả các trường THPT 36
1.3.1. Các yêu cầu về hệ thống thông tin QLGD trong các trường THPT hiện
nay 36
1.3.2. Quy trình thông tin QLGD 38
Kết luận chương 1 40
Chương 2: Thực trạng hệ thống thông tin quản lý giáo dục trung học phổ
thông thành phố Hải phòng 42
2.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hoá xã hội thành phố Hải
phòng 42
2.2. Tình hình phát triển giáo dục Trung học 45
2.2.1. Tình hình phát triển giáo dục thành phố Hải phòng 45
2.2.2. Tình hình phát triển giáo dục THPT thành phố Hải phòng 50
2.3. Thực trạng hoạt động của hệ thống thông tin QLGD Trung học phổ thông
thành phố Hải phòng 52
2.3.1. Khái quát về hệ thống thông tin QLGD Trung học phổ thông thành phố
Hải phòng 53
2.3.2. Nhận thức của cán bộ quản lí và giáo viên về vai trò của hệ thống thông
tin QLGD 58
3.3.1. Các điều kiện khách quan 94
3.3.2. Các điều kiện chủ quan 95
3.4. Trưng cầu ý kiến về ý nghĩa và tính khả thi của các biện pháp 96
Kết luận chương 3 100
Kết luận và khuyến nghị 101
1. Kết luận 101
2. Khuyến nghị 103
Danh mục tài liệu tham khảo 104
Phụ Lục 107
1
LỜI CẢM ƠN
Luận văn đƣợc thực hiện và hoàn thành với sự giúp đỡ của quý Thầy cô
giáo, bạn bè đồng nghiệp, gia đình và sự cộng tác các ban ngành, lãnh đạo và
chuyên viên sở giáo dục đào tạo, Hiệu trƣởng các trƣờng THPT trong thành
phố Hải phòng.
Tác giả xin chân thành cảm ơn lãnh đạo khoa Sƣ phạm đại học quốc gia
Hà nội, lãnh đạo sở giáo dục đào tạo Hải phòng đã quan tâm động viên, tạo
điều kiện cho tác giả trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận
văn.
Luận văn là sự thể hiện kết quả học tập nghiên cứu của tác giả và sự tận
tâm giảng dạy, giúp đỡ, động viên của quý Thầy Cô khoa Sƣ phậm Đại học
quốc gia Hà nội.
Tác giả xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn đến PGS - TS. Bùi Văn
Quân đã tận tâm hƣớng dẫn trau dồi cho tác giả phƣơng pháp nghiên cứu
khoa học và kiến thức khoa học quản lý hết sức bổ ích.
Mặc dù đã rất nhiều cố gắng, song do khả năng có hạn nên luận văn
không thể tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong Quý Thầy cô giáo và các

HTTTQL Hệ thống thông tin quản lý.
HTTTQLGD Hệ thống thông tin quản lý giáo dục.
PGS.TS Phó Giáo sƣ, Tiến sĩ.
QLHĐĐT Quản lý hoạt động đào tạo.
QLGD Quản lý giáo dục.
QLGD&ĐT Quản lý giáo dục và đào tạo.
THPT Trung học phổ thông.
THCS Trung học cơ sở
TP Thành phố

3
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sự phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam theo xu hƣớng hội nhập
hiện nay đòi hỏi các nhà lãnh đạo, quản lý ở tất cả các lĩnh vực phải hết sức
năng động và phải biết sử dụng tối đa các công cụ quản lý. Trong các yếu tố
cấu thành của quản lý, thông tin đƣợc xem là thành tố và là khâu cơ bản đầu
tiên giúp nhà quản lý xây dựng kế hoạch, ra quyết định, điều hành bộ máy,
kiểm tra giám sát nắm bắt thông tin ngƣợc để nâng cao chất lƣợng quản lý.
Nói một cách hình ảnh hơn, thì hệ thống quản lý luôn đƣợc “nhúng” trong
thông tin. Hiệu quả của quản lý phụ thuộc rất nhiều vào tình trạng tổ chức

thông tin, Đảng và Nhà nƣớc Việt Nam đã ban hành những chính sách và chủ
trƣơng cụ thể. Chỉ thị số 218/TTg ngày 7/4/1997 của Thủ tƣớng Chính phủ về
một số biện pháp cải tiến lề lối làm việc của Chính phủ và chế độ thông tin
báo cáo đã nhấn mạnh yêu cầu chấn chỉnh công tác thông tin báo cáo, bảo
đảm thông tin hai chiều, phục vụ có hiệu quả hoạt động quản lí nhà nƣớc từ
trung ƣơng đến địa phƣơng và cơ sở. Nghị quyết số 49/CP ngày 04 tháng 8
năm 1993 của Chính phủ về phát triển CNTT, đã khẳng định :
" Phổ biến kiến thức về CNTT rộng rãi trong xã hội, đồng thời tăng cường
áp dụng CNTT trong bản thân ngành giáo dục và đào tạo ".
"Nghiên cứu áp dụng tích cực CNTT trong công tác giáo dục và đào tạo ".
Trong khi đƣa ra những chủ trƣơng và biện pháp chính để thúc đẩy phát
triển CNTT, vấn đề hàng đầu đƣợc đề cập tới là tạo nguồn thông tin và chuẩn
hoá các thông tin phát sinh trong xã hội, Nghị quyết nhấn mạnh :
" Trong việc thực hiện các dự án ứng dụng CNTT, nội dung quan trọng
nhất là xây dựng các hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu Các loại mẫu biểu
và chế độ báo cáo, truyền đưa thông tin phải được cải tiến và bổ sung theo
yêu cầu của ứng dụng CNTT ". 5
Theo quan điểm của lí thuyết hệ thống, hệ thống thông tin QLGD trong
các trƣờng THPT thành phố Hải phòng là một phân hệ của hệ thống thông tin
QLGD trong toàn thành phố, do sở GD&ĐT quản lý. Bên cạnh những thành
tích đạt đƣợc trong giai đoạn vừa qua, hoạt động thông tin QLGD của các
trƣờng THPT thành phố Hải phòng cũng còn những bất cập, yếu kém về
nhiều mặt nhƣ: nhận thức của các nhà quản lý cấp sở, cấp trƣờng về thông tin
QLGD còn mờ nhạt, chƣa thấy rõ tầm quan trọng của hệ thống thông tin
QLGD trong công tác quản lý; chƣa thống nhất trong quá trình xử lý và sử
dụng các tiêu chí và chỉ số thông tin trong nhà trƣờng. Cơ sở vật chất phục vụ
cho thông tin QLGD chƣa đƣợc tăng cƣờng. Cán bộ chuyên trách công tác

Các nghiên cứu đƣợc thực hiện tại 10 trƣờng THPT thành phố Hải
phòng đƣợc chọn đại diện cho 2 mô hình (công lập và dân lập hoặc tƣ thục)
của thành phố: THPT Lƣơng Thế Vinh, THPT Thái phiên, THPT Thăng long,
THPT Tiên lãng, THPT Đồ Sơn, THPT Bán công Vĩnh bảo, THPT Lý
Thƣờng Kiệt, THPT Nguyễn Đức Cảnh, THPT Nguyễn Trãi, THPT Kiến
Thụy.
5. Giả thuyết nghiên cứu
Nếu hệ thống thông tin QLGD Trung học phổ thông của sở giáo dục và
đào tạo Hải phòng đƣợc vận hành theo những yêu cầu: Có sự bồi dƣỡng, nâng
cao nhận thức và trình độ của các cán bộ làm công tác thông tin và các nhà
QLGD về hệ thống thông tin QLGD; Có sự thống nhất các tiêu chỉ và chỉ số
QLGD trong các trƣờng THPT; Hoàn thiện các cơ chế thu thập và xử lí dữ
liệu; Tăng cƣờng cơ sở vật chất phục vụ cho hệ thống thông tin QLGD thì
hiệu quả hoạt động của hệ thống thông tin QLGD Trung học phổ thông của
Sở giáo dục và Đào tạo thành phố Hải phòng sẽ đƣợc nâng cao.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
6.1. Hệ thống hoá những vấn đề lí luận cơ bản về nâng cao hiệu quả hoạt
động của hệ thống thông tin QLGD Trung học phổ thông.
6.2. Đánh giá thực trạng hoạt động của HTTT QLGD Trung học phổ thông
hiện nay của Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Hải phòng. 7
6.3. Đề xuất những biện pháp phù hợp góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động
của HTTTQLGD THPT của Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Hải phòng.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
- Sử dụng các phƣơng pháp nhƣ: phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá,
khái quát hoá lý thuyết nhằm tổng quan các tài liệu về quản lý giáo dục, về hệ
thống thông tin quản lý giáo dục để:

thống thông tin quản lí giáo dục THPT của Sở giáo dục và đào tạo
Chƣơng 2: thực trạng hệ thống thông tin quản lý giáo dục trung học phổ
thông thành phố Hải phòng.
Chƣơng 3: Các biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống thông
tin quản lí giáo dục trung học phổ thông thành phố Hải phòng.
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ
thống thông tin quản lí giáo dục Trung học phổ thông của Sở giáo dục và đào
tạo.
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG
THÔNG TIN QUẢN LÍ GIÁO DỤC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
CỦA SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Hệ thống thông tin quản lý có vai trò hết sức quan trọng đối với hoạt
động quản lý, tuy vậy việc nghiên cứu về QL HTTT, đặc biệt là nghiên cứu
QL HTTT trong giáo dục chỉ thực sự bắt đầu khi CNTT phát triển cao. Vì
vậy những tƣ liệu có tính chất lịch sử nghiên cứu vấn đề này còn hạn chế.
1.1.1. Các nghiên cứu trên thế giới:
Trong nền kinh tế thị trƣờng hiện nay với sự phát triển mạnh mẽ của
khoa học - công nghệ, các nhà quản lý không thể quản lý có hiệu quả công ty
hoặc doanh nghiệp của họ nếu nhƣ không có những kiến thức về các HTTT.
Alvin Toffler trong cuốn “Thăng trầm quyền lực” cho rằng chúng ta đang ở
giai đoạn cuối của kỷ nguyên thông tin theo kiểu cũ và sẽ bắt đầu một kỷ
nguyên mới đƣợc ông gọi là kỷ nguyên của tri thức với những khả năng phân 9
tích thông tin và giao tiếp. Theo Toffler tri thức ở đây chính là thông tin.
CNTT sẽ tiếp tục đƣợc áp dụng không những trong các công việc hàng ngày
mà còn thể hiện ở các sản phẩm qua đó sẽ thay đổi cách thức quản lý của các

Từ năm 1984, tổ chức UNESCO khu vực châu Á-Thái Bình Dƣơng
(UNESCO/PROAP) đã đƣa ra một chƣơng trình hành động đƣợc gọi là:
"Tăng cường lập kế hoạch và QLGD dựa trên cơ sở thông tin" trong các nƣớc
thành viên khu vực Châu Á - Thái Bình Dƣơng. Thông qua đó để phát triển
một HTTTQL giáo dục đƣợc máy tính hoá. UNESCO/PROAP đã tổ chức một
số diễn đàn khoa học, hội thảo, seminar nhằm nâng cao nhận thức của các nhà
QLGD của các nƣớc thành viên trong việc sử dụng, trao đổi thông tin trong
lập kế hoạch và QLGD. Cuốn sách "Hệ thống thông tin QLGD- Education
Management Information System - EMIS" đƣợc UNESCO/PROAP xuất bản
năm 1992 là một tài liệu có giá trị định hƣớng cho các nghiên cứu, xây dựng
và hoàn thiện EMIS của các nƣớc thành viên.
Hƣởng ứng xu thế này, Philippines đã tập trung những nỗ lực trong xây
dựng các HTTT tổng hợp cho lập kế hoạch và QLGD từ những năm 1980 và
dần dần ứng dụng tin học trong toàn hệ thống tạo thành mạng thông tin
QLGD trong toàn quốc. Trong tác phẩm "EMIS in the Philippines- Hệ thống
thông tin QLGD của Philippines”, Charles C. Villanueva đã cung cấp thông
tin về những cải cách hệ thống thông tin QLGD Philippines đƣợc xem xét
dƣới khía cạnh phạm vi và cơ cấu tổ chức cũng nhƣ những vấn đề trọng tâm
mà họ đang phải đƣơng đầu. Đây là một tài liệu tham khảo tốt trong việc hoàn
thiện HTTTQL giáo dục Việt Nam.
Những năm đầu của thập niên 90 thế kỷ XX, Chính phủ ở các nƣớc
phát triển đƣa ra quan điểm tiếp cận mới đối với việc quản lý HTTT, đó là
quan điểm tiếp cận tổng thể và tiếp cận hệ thống, cốt lõi của quan điểm này là
ý tƣởng xây dựng Chính phủ điện tử.
Tại Châu Âu, Walter W. Mc Mahon (thuộc Viện kế hoạch hoá giáo dục
quốc tế - IIEP, Paris) là ngƣời dẫn đầu các nghiên cứu giáo dục quốc tế về
HTTTQL giáo dục. Ông đã đƣa ra các khái niệm về quản lý HTTT trong giáo 11


12
Về mặt lý luận, một số công trình nghiên cứu đã đề cập đến vấn đề này
nhƣ chuyên đề về "Hệ thống thông tin QLGD và văn hoá" do trƣờng Cán bộ
quản lý giáo dục trung ƣơng I (nay là Học viện Quản lý giáo dục) dùng trong
giảng dạy cao học và các khoá bồi dƣỡng tại trƣờng. Một số báo cáo tại các
hội thảo xây dựng HTTTQL giáo dục: “Xây dựng hệ thống thông tin giáo dục
cho mọi người” của Hoàng Đức Nhuận; “Thông tin QLGD phục vụ xây dựng
chính sách giáo dục” của Lê Thạc Cán; “Tăng cường tiềm năng và nâng cao
năng lực cho Trung tâm thông tin QLGD thuộc Bộ” của Trần Ngọc Chƣơng,
trong những báo cáo đó các tác giả cho rằng thông tin phục vụ xây dựng
chính sách giáo dục cần đa dạng, kết hợp đƣợc các nguồn thông tin cả về số
lƣợng và chất lƣợng.
Ngoài các công trình nêu trên, một số đề tài nghiên cứu cấp Bộ cũng đề
cập đến vấn đề xây dựng hệ thống thông tin quản lý giáo dục:
Đề tài nghiên cứu khoa học B96-52-12 "Một số giải pháp hoàn thiện hệ
thống thông tin quản lý giáo dục và đào tạo Việt Nam" đƣợc thực hiện tại
Viện Nghiên cứu Phát triển Giáo dục đã bƣớc đầu nghiên cứu cơ sở lý luận
của HTTTQL giáo dục, đánh giá hiện trạng và đề xuất một số giải pháp chung
để hoàn thiện hệ thống. Đề tài kế thừa các nghiên cứu đã có nhƣng tập trung
nghiên cứu hiệu quả hoạt động của HTTTQL giáo dục Việt Nam để đề xuất
các biện pháp cải tiến phù hợp.
Đề tài B2000-52-48 "Nghiên cứu đề xuất mô hình hệ thống thông tin
quản lý của trường THCS tại Hà Nội" do Trƣờng Bồi dƣỡng cán bộ giáo dục
Hà Nội và Viện Chiến lƣợc và Chƣơng trình Giáo dục phối hợp (2001- 2003)
tiến hành, đã tập trung nghiên cứu sâu về một khía cạnh của hệ thống nhƣ tạo
lập sơ đồ chức năng nghiệp vụ, sơ đồ dòng dữ liệu và thiết kế phần mềm
"Quản lý kết quả học tập của học sinh trong trường THCS Hà Nội".
Thực hiện “Chiến lược Công nghệ thông tin quốc gia“ và chủ trƣơng
đổi mới công tác thông tin trong QLGD, ngày 09/7/1992, Bộ trƣởng Bộ

nƣớc về việc quản lý và phát triển HTTTQL giáo dục. HTTTQL giáo dục đã
đƣợc hình thành và từng bƣớc phát triển có hiệu quả phục vụ cho công tác 14
quản lý ngành GD&ĐT nói chung, GD&ĐT địa phƣơng nói riêng và từng
bƣớc công khai thông tin về QLGD với nhân dân.
Tóm lại: Ở tầm vĩ mô, Việt Nam đã có chiến lƣợc và những hƣớng dẫn
tƣơng đối cụ thể về việc phát triển HTTT trong giáo dục, đòi hỏi những cơ
quan quản lý và những ngƣời quản lý ở tầm vi mô phải có chiến lƣợc cụ thể
cho địa phƣơng mình và cơ sở giáo dục của mình, mà vấn đề trƣớc tiên là
thiết lập HTTTQL tại cơ sở mình một cách sát hợp và khả thi.
Những phân tích trên cho thấy, vấn đề nâng cao hiệu quả hoạt động của
hệ thống TTQLGD trong các nhà trƣờng phổ thông và đặc biệt trong trƣờng
THPT còn là vấn đề mới mẻ, chƣa đƣợc nghiên cứu cụ thể. Trong khi đó, hoạt
động của hệ thống TTQLGD ở các trƣờng THPT còn ở mức hạn chế, chƣa
phù hợp với thực tiễn, chƣa thích nghi đƣợc với từng địa phƣơng, chƣa đảm
bảo cung cấp thông tin nhanh, chính xác và đáp ứng yêu cầu sử dụng tin của
nhà quản lý giáo dục các cấp. Do đó, nghiên cứu đề xuất các biện pháp nâng
cao hiệu quả hoạt động của hệ thống thông tin QLGD trong các trƣờng THPT
nói chung, các trƣờng THPT thành phố Hải phòng nói riêng là việc làm cần
thiết và cấp bách.
1.2. Các khái niệm công cụ
1.2.1. Quản lý giáo dục và quản lí trường học
- Quản lý
Theo quan niệm của điều khiển học, quản lý là chức năng của những hệ
có tổ chức với bản chất khác nhau (sinh học, xã hội, kỹ thuật ) nó bảo toàn
cấu trúc, duy trì chế độ hoạt động của các hệ đó. Quản lý là tác động hợp quy
luật khách quan, làm cho hệ vận động, vận hành và phát triển.
Theo C.Mác, bất cứ lao động xã hội hay cộng đồng trực tiếp nào đƣợc

là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hƣớng của chủ thể quản lý (ngƣời
quản lý hay tổ chức quản lý) lên đối tƣợng quản lý về các mặt chính trị, văn
hóa, xã hội, kinh tế bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các
nguyên tắc, các phƣơng pháp, các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trƣờng và
điều kiện cho sự phát triển đối tƣợng" ; "Quản lý là tác động có định hƣớng, 16
có chủ đích của chủ thể quản lý đến đối tƣợng quản lý trong tổ chức, làm cho
tổ chức đó vận hành và đạt đƣợc mục đích của tổ chức"; "Quản lý là quá
trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra các công việc của các thành
viên thuộc một hệ thống đơn vị và việc sử dụng các nguồn lực phù hợp để đạt
đƣợc các mục đích xác định".
- Tiếp cận theo các chức năng của hoạt động quản lý. Theo tiếp cận
này, "Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng
các chức năng kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra" [11,2]; Quản lý là
một quá trình tác động có định hƣớng (có chủ đích), có tổ chức, có lựa chọn
trong số các tác động có thể có, dựa trên các thông tin về tình trạng của đối
tƣợng và môi trƣờng, nhằm giữ cho sự vận hành của đối tƣợng đƣợc ổn định
và cho nó phát triển tới mục tiêu đã định.
Các quan niệm trên mặc dù có những cách diễn đạt khác nhau, song
đều thống nhất khi đề cập đến những dấu hiệu cơ bản của quản lí là: 1/ Quản
lý là thuộc tính bất biến, nội tại của mọi quá trình hoạt động xã hội. Lao động
quản lý là điều kiện quan trọng để làm cho xã hội loài ngƣời tồn tại, vận hành
phát triển; 2/ Quản lý đƣợc thực hiện với một tổ chức hay một nhóm xã hội;
3/ Quản lý là những tác động có tính hƣớng đích, là những tác động phối hợp
nỗ lực của các cá nhân thực hiện mục tiêu của tổ chức; 4/ Yếu tố con ngƣời,
trong đó chủ yếu bao gồm ngƣời quản lý và ngƣời bị quản lý giữ vai trò trung
tâm trong chu trình, trong hoạt động quản lý.
Từ những phân tích trên, tác giả luận văn quan niệm: Quản lý là quá

Xô (cũ) đã đƣa ra quan điểm của mình trong tác phẩm “Những cơ sở lý luận
của quản lý trƣờng học” (1983): “Quản lý giáo dục là tập hợp các biện pháp
tổ chức cán bộ giáo dục, kế hoạch hoá, tài chính v.v nhằm đảm bảo sự vận
hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục để tiếp tục phát
triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng cũng như chất lượng” [14, 22].
Năm 1987, Viện quản lý và kinh tế giáo dục thuộc Viện hàn lâm sƣ
phạm Liên Xô (cũ) đã tổng kết những thành tựu nghiên cứu về quản lý trƣờng
học trong nhiều năm trong cuốn “Những cơ sở của quản lý nội bộ trường
học”. Cuốn sách đã trình bày những quan điểm mới nhất về quản lý giáo dục
của các học giả Liên Xô cũ tính đến thời điểm đó.
Đầu những năm 90, UNESCO PROAP đã xuất bản cuốn sách có tính
cẩm nang về kỹ năng quản lý giáo dục mang tựa đề “Kế hoạch hóa và quản lý
giáo dục vi mô” (Micro – Level Educational Planning and Management).
I 18
Trong những năm gần đây tại các nƣớc phƣơng Tây, việc nghiên cứu lý
luận và thực tiễn quản lý giáo dục cũng rất sôi động, sách báo về quản lý giáo
dục đã xuất hiện rất nhiều. Điển hình là các công trình “Nghề hiệu trưởng –
một triển vọng thực tiễn đựơc phản ánh” (The Principalship - A Reflective.
Practice. Perspective) của Thomas J. Seriovanni (1991); “Hành vi tổ chức
trong giáo dục” (Organizational Behavior in Education) của Robert Jowens
(1995); Quản lý giáo dục: lý thuyết nghiên cứu và thực tiễn (Educational
Adminstration - Theory, Researah and Practive) của Wayne K. Hoy, Cecil G.
Miskel (1986).
Ở Việt Nam, theo PGS.TS Đặng Quốc Bảo: “Quản lý giáo dục theo
nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành phối hợp các lực lƣợng xã hội nhằm
thúc đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu của xã hội” [11,31].
GS.VS Phạm Minh Hạc cho rằng: “Việc quản lý nhà trường phổ thông (có thể

cơ sở giáo dục, các quan hệ giáo dục) trên các mặt qui mô, cơ cấu và chất
lƣợng của chúng.
Trọng tâm của quản lí giáo dục là quản lí trƣờng học và tất cả những
hoạt động, các quan hệ trên –dƣới, các nhân tố liên quan đến nhà trƣờng.
- Quản lý trƣờng học
Tác giả M.I. Cônđacốp trong tác phẩm “Cơ sở lý luận của khoa học
quản lý giáo dục” đã viết: “Không đòi hỏi một định nghĩa hoàn chỉnh, chúng
ta hiểu quản lý nhà trường (công việc nhà trường) là một hệ thống xã hội sư
phạm chuyên biệt, hệ thống này đòi hỏi những tác động có ý thức, có kế
hoạch và hướng đích của chủ thể quản lý đến tất cả các mặt của đời sống nhà
trường nhămg đảm bảo sự vận hành tối ưu về các mặt kinh tế – xã hội, tổ
chưc sư phạm của quá trình dạy học và giáo dục thế hệ đang lớn lên” [14,
216].
Tác giả Phạm Minh Hạc quan niệm: “Quản lý nhà trƣờng là thực hiện
đƣờng lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình đƣa nhà
trƣờng vận hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục
tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh”. 20
Tác giả Hà Sĩ Hồ trong cuốn “Những bài giảng về quản lý trường học”
đã chỉ ra: “Quản lý nhà trường, quản lý giáo dục là tổ chức hoạt động dạy
học. Có tổ chức hoạt động dạy – học, thực hiện được tính chất của nhà
trường phổ thông Việt Nam xã hội chủ nghĩa mới quản lý được giáo dục” [15,
32].
Theo tác giả luận văn, quản lí nhà trƣờng là sự cụ thể hoá của quản lí
giáo dục. Trƣờng học là phân tử của hệ thống giáo dục quốc dân. Quản lí nhà
trƣờng, thực chất là quản lí giáo dục ở cơ sở. Theo đó, trƣờng học trở thành
khách thể quản lí của tất cả các cấp quản lí, trong đó Ban giám hiệu và Hội
đồng sƣ phạm của mỗi trƣờng là chủ thể quản lí trực tiếp.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status