chất lượng tín dụng ngắn tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam chi nhánh Hà Nội - Pdf 25

Khóa luận tốt nghiệp
TS. Nguyễn Thị Minh Hạnh
LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn cô giáo Nguyễn Thị Minh Hạnh, người đã trực tiếp hướng
dẫn, tạo điều kiện cho em có cơ hội được tìm hiểu sâu sắc những kiến thức trong lĩnh vực
NH nói chung và trong lĩnh vực tín dụng NH nói riêng. Bằng kiến thức chuyên môn sâu
rộng, cùng với sự nhiệt tình, cô đã giúp em sang tỏ nhiều vấn đề và đặc biệt là đã hướng
dẫn em hoàn thành tốt bài khóa luận này
Em cũng xin cảm ơn các anh chị cán bộ Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam chi
nhánh Hà Nội đã tạo điều kiện cho em được thực tập tại đơn vị và đặc biệt là các anh chị
phòng Tổng hợp và phòng Tín dụng đã giúp đỡ em trong suốt quá trình nghiên cứu, tìm
hiểu thực tế vừa qua.
Hà nội, ngày 06 tháng 05 năm 2012
Sinh viên
Phùng Thị Diệu Linh
SVTH: Phùng Thị Diệu Linh
Lớp K45H2
Khóa luận tốt nghiệp
TS. Nguyễn Thị Minh Hạnh
MỤC LỤC
MỤC LỤC 2
DANH MỤC BẢNG 2
DANH MỤC BIỂU ĐỒ 3
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 4
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG NGẮN HẠN 2
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG NGẮN HẠN TẠI NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM
– CHI NHÁNH HÀ NỘI 16
CHƯƠNG III: CÁC PHÁT HIỆN QUA NGHIÊN CỨU CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG NGẮN HẠN VÀ HƯỚNG GIẢI
QUYẾT Ở NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG – CHI NHÁNH HÀ NỘI 35

Biểu đồ 2.6: Tình hình tài sản đảm bảo của NH TMCP Ngoại thương Việt Nam chi
nhánh Hà Nội. Error: Reference source not found
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
- NHNN : Ngân hàng Nhà nước
- NHTM : Ngân hàng thương mại
- NHTMCP : Ngân hàng thương mại cổ phần
- VCB : Vietcombank
- NH : Ngân hàng
- SXKD : Sản xuất kinh doanh
SVTH: Phùng Thị Diệu Linh
Lớp K45H2
Khóa luận tốt nghiệp
TS. Nguyễn Thị Minh Hạnh
- TDNH : Tín dụng ngắn hạn
- TSĐB : Tài sản đảm bảo
- SS : So sánh
SVTH: Phùng Thị Diệu Linh
Lớp K45H2
Khóa luận tốt nghiệp
TS. Nguyễn Thị Minh Hạnh
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
- Lý thuyết
Cùng với xu hướng đổi mới của nền kinh tế, hệ thống NH Việt nam cũng đang trong
quá trình đổi mới và hội nhập. Trong quá trình chuyển đổi này, xu thế cạnh tranh đang diễn
ra ngày càng gay gắt, đặt hệ thống NH Việt Nam trước những vận hội mới cũng như khó
khăn mới. Hoạt động NH đạt kết quả tốt sẽ tạo điều kiện rất lớn cho nền kinh tế phát triển
và ngược lại, NH hoạt động yếu kém sẽ ảnh hưởng trầm trọng đến sự đi lên của nền kinh
tế. Xác định được tầm quan trọng của tín dụng cũng như NH thương mại, NH Nhà nước
cũng như Chính phủ đã có nhiều giải pháp để nâng cao chất lượng tín dụng ngắn hạn cũng

Ngoại thương Việt Nam – chi nhánh Hà Nội nói riêng.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Chất lượng tín dụng ngắn hạn.
- Phạm vi nghiên cứu: NH thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam – chi nhánh
Hà Nội.
- Thời gian nghiên cứu: Các dữ liệu thu thập được trong 3 năm: 2010 – 1011 – 2012.
4. Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để
thực hiện khóa luận. Trên cơ sở các tài liệu điều tra và thu thập được, bằng phương pháp
thống kê, tổng hợp và so sánh chỉ tiêu giữa các năm để thấy được những kết quả đạt được
và hạn chế trong hoạt động tín dụng ngắn hạn của NH TMCP Ngoại thương Việt Nam –
chi nhánh Hà Nội.
5. Kết cấu khóa luận
Bao gồm 3 chương:
- Chương I: Cơ sở lý luận về chất lượng tín dụng ngắn hạn của Ngân hàng
thương mại
- Chương II: Thực trạng chất lượng tín dụng ngắn tại Ngân hàng Ngoại thương
Việt Nam chi nhánh Hà Nội.
- Chương III: Các phát hiện qua nghiên cứu chất lượng tín dụng ngắn hạn và
hướng giải quyết ở Ngân hàng Ngoại thương – chi nhánh Hà Nội
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG NGẮN HẠN
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến tín dụng ngắn hạn của Ngân hàng
thương mại
1.1.1 Khái niệm tín dụng
SVTH: Phùng Thị Diệu Linh
Lớp K45H2
2
Khóa luận tốt nghiệp
TS. Nguyễn Thị Minh Hạnh

Thứ tư, do mức độ rủi ro của các khoản vay ngắn hạn thường không cao nên lãi suất
của nó thường thấp hơn so với lãi suất cho vay trung và dài hạn
SVTH: Phùng Thị Diệu Linh
Lớp K45H2
3
Khóa luận tốt nghiệp
TS. Nguyễn Thị Minh Hạnh
Thứ năm, hình thức tín dụng phong phú: để đáp ứng nhu cầu hết sức đa dạng của
khách hàng, để góp phần phân tán rủi ro, đồng thời tăng sức cạnh tranh trên thị trường tín
dụng, các NH thương mại không ngừng phát triển các hình thức cho vay trong nghiệp vụ
tín dụng ngắn hạn của mình. Điều đó làm cho các hình thức tín dụng ngắn hạn rất phong
phú như: nghiệp vụ ứng trước, nghiệp vụ thấu chi, nghiệp vụ chiết khấu…
Tóm lại, tín dụng ngắn hạn sẽ ít rủi ro hơn và an toàn hơn so với tín dụng trung và
dài hạn. Nếu xét về tổng thể thì tín dụng ngắn hạn là một loại tài sản đem lại cho NH một
khoản lợi nhuận rất lớn.
1.1.3 Phân loại tín dụng ngắn hạn
Để phục vụ quản lý các khoản vay ngắn hạn, NH thường phân loại tín dụng theo các
tiêu chí khác nhau, như theo phương thức cho vay, theo mục đích sử dụng vốn, theo tài sản
đảm bảo… Tuy nhiên theo phương thức cho vay vẫn là phổ biến nhất.
1.1.3.1 Cho vay thấu chi
Thấu chi là nghiệp vụ cho vay, qua đó NH cho phép người vay được chi vượt trên số
dư tiền gửi thanh toán của mình đến một giới hạn nhất định và trong khoảng thời gian xác
định. Thời hạn này được gọi là hạn mức thấu chi. Hình thức này chỉ sử dụng đối với các
khách hàng có độ tin cậy cao, thu nhập đều đặn và kỳ thu nhập ngắn.
1.1.3.2 Cho vay trực tiếp từng lần
Đây là hình thức cho vay tương đối phổ biến của NH đối với các khách hàng không
có nhu cầu vay thường xuyên, không có điều kiện để được cấp hạn mức thấu chi. Vốn vay
chỉ tham gia vào một số giai đoạn nhất định của chu kỳ sản xuất kinh doanh. Trong nghiệp
vụ này thông thường chỉ có một kỳ hạn trả nợ vào cuối thời hạn cho vay và lãi vay được
tính theo phương pháp lãi đơn.

trong thời gian ngắn nên ít chịu ảnh hưởng của sự biến động không thể lường trước của
nền kinh tế như các khoản tín dụng trung và dài hạn. Ngoài ra, các khoản vay được cung
cấp cho các đơn vị sản xuất kinh doanh theo hình thức chiết khấu các giấy tờ có giá, dựa
trên tài sản đảm bảo, bảo lãnh… đồng thời khoản vay thường được tiến hành khi có nhu
cầu cần thiết về vốn ngắn hạn và chắc chắn sẽ có khoản thu bù đắp trong tương lai. Vì vậy
rủi ro mang đến thường thấp.
- Lãi suất thấp: Lãi suất cho vay được hiểu là khoản chi phí khách hàng vay phải trả
cho nhu cầu sử dụng tiền tạm thời của NH. Do rủi ro mang lại của khoản vay ngắn hạn
thường không cao do đó lãi suất khoản vay ngắn hạn thông thường nhỏ hơn lãi suất khoản
vay ngắn hạn thông thường nhỏ hơn lãi suất khoản vay trung và dài hạn tương ứng.
- Hình thức phong phú: Gồm có cho vay thấu chi, cho vay trực tiếp từng lần, cho vay
theo hạn mức, cho vay luân chuyển.
- Là loại hình kinh doanh chủ yếu tại các NH thương mại. Xuất phát từ đặc trưng của
NH thương mại là NH kinh doanh tiền gửi, trong đó chủ yếu là tiền gửi ngắn hạn nên để đảm
bảo khả năng thanh khoản của mình, các NH thương mại cho vay chủ yếu là ngắn hạn.
1.1.5 Vai trò của tín dụng ngắn hạn trong họat động Ngân hàng thương mại
SVTH: Phùng Thị Diệu Linh
Lớp K45H2
5
Khóa luận tốt nghiệp
TS. Nguyễn Thị Minh Hạnh
Tín dụng ngắn hạn có vai trò rất quan trọng trong đời sống kinh tế - xã hội. Đây là
nguồn vốn lớn của nền kinh tế, góp phần ổn định, duy trì và mở rộng sản xuất đối với
doanh nghiệp, nâng cao đời sống của các cá nhân, là cơ sở cho một nền kinh tế ổn định và
phát triển.
1.1.5.1 Đối với nền kinh tế.
Là một trung gian tài chính, NH thương mại là nơi tập trung, tích tụ vốn và phân bổ
đầu tư có hiệu quả trong nền kinh tế. Cho vay là một họat động mang tính chất đầu tư cho
nền kinh tế của NH thương mại. Trong khi thị trường chứng khoán, các tổ chức tài chính
trung gian phi NH như công ty bảo hiểm, công ty tài chính, các quỹ đầu tư… là chủ đạo

toàn tương đối, nó vừa cụ thể vừa trừu tượng. Chất lượng tín dụng còn chịu ảnh hưởng của
các nhân tố chủ quan và khách quan.
Chất lượng tín dụng: Là sự đáp ứng yêu cầu tín dụng của khách hàng phù hợp với sự
phát triển kinh tế xã hội đảm bảo sự tồn tại và phát triển của NH, hay chất lượng tín dụng
là kết quả tổng hợp của những thành tựu hoạt động tín dụng thể hiện ở sự phát triển ổn
định, vững chắc của nền kinh tế quốc dân.
Chất lượng tín dụng là một chỉ tiêu tổng hợp, nó phản ánh mức độ thích nghi của
NHTM với sự thay đổi của môi trường bên ngoài và thể hiện sức mạnh của một NHTM
trong quá trình cạnh tranh để tồn tại. Chất lượng tín dụng không phải cái tự nhiên có mà nó
là kết quả của một quy trình kết hợp giữa con người với tổ chức, giữa các tổ chức với nhau
vì một mục đích chung, do đó chất lượng tín dụng cần có sự quản lý.Quản lý chất lượng
nói chung về cơ bản là những hoạt động và kỹ thuật được sử dụng nhằm đạt được và duy
trì chất lượng của một loại sản phẩm, quy trình hoặc dịch vụ, nó bao gồm theo dõi, tìm
hiểu và loại trừ những nguyên nhân những trục trặc trong việc cấp tín dụng để các yêu cầu
của khách hàng liên tục được đáp ứng. Để có chất lượng tín dụng cao, cần phải có sự quản
ký chất lượng đồng bộ. Đây là một cách quản lý mới không chỉ đảm bảo chất lượng tín
dụng mà còn cải tiến tính hiệu quả và linh hoạt của toàn bộ NH nhằm ngày càng thoả mãn
đầy đủ yêu cầu của khách hàng trong mọi công đoạn. Để làm được điều này cán bộ
NHTM cần phải hiểu và thực hiện tốt quy trình quản lý chất lượng tín dụng.
1.2 Nội dung lý thuyết liên quan tới tín dụng ngắn hạn của Ngân hàng thương mại.
1.2.1 Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng tín dụng ngắn hạn của Ngân hàng
thương mại.
Sự cần thiết phải nghiên cứu chất lượng tín dụng ngắn hạn của NH thương mại xuất
phát từ các vai trò của tín dụng ngắn hạn trong NH đến các chủ thể trong nền kinh tế và
chính bản thân NH thương mại đó.
SVTH: Phùng Thị Diệu Linh
Lớp K45H2
7
Khóa luận tốt nghiệp
TS. Nguyễn Thị Minh Hạnh

thông qua các con số từ hoạt động kinh doanh từ đó phân tích tổng hợp và rút ra mức đạt
chung cho từng chỉ tiêu. Nhóm chỉ tiêu định lượng bao gồm các chỉ tiêu sau
- Chỉ tiêu doanh số cho vay ngắn hạn
SVTH: Phùng Thị Diệu Linh
Lớp K45H2
8
Khóa luận tốt nghiệp
TS. Nguyễn Thị Minh Hạnh
Doanh số cho vay ngắn hạn phản ánh quy mô cấp tín dụng của NHTM cho nền kinh
tế trong một thời kỳ nhất định. Thông qua doanh số cho vay ngắn hạn, ta có thể thấy được
khả năng hoạt động tín dụng của NH qua các năm và thấy được uy tín của NH đối với
khách hàng.
- Tốc độ tăng trưởng tín dụng ngắn hạn
Tốc độ tăng trưởng tín dụng ngắn hạn =
Chỉ tiêu này phản ánh mức độ tăng trưởng tín dụng ngắn hạn của NH, nó cũng thể
hiện chất lượng tín dụng ngắn hạn trong năm.
- Tỷ trọng huy động vốn ngắn hạn
Tỷ trọng huy động vốn ngắn hạn =
Chỉ tiêu này cho biết khả năng huy động vốn ngắn hạn của NH. Chỉ tiêu này càng
cao thì NH càng có cơ hội mở rộng đầu tư cho vay ngắn hạn. Tuy nhiên, huy động càng
nhiều thì chi phí phải trả càng nhiều, ảnh hưởng đến lợi nhuận của NH. Điều này buộc NH
phải tính tóan sau cho hợp lý giữa huy động vốn và nhu cầu cho vay.
- Chỉ tiêu tỷ lệ nợ quá hạn ngắn hạn
Tỷ lệ nợ ngắn hạn quá hạn =
Đây là chỉ tiêu quan trọng phản ánh rõ ràng nhất chất lượng tín dụng ngắn hạn tại
NH. Tỷ lệ nợ quá hạn càng cao càng chứng tỏ chất lượng tín dụng ngắn hạn của NH càng
kém, rủi ro trong họat động tín dụng cao. Nợ quá hạn là chỉ tiêu mà không một NH nào
muốn có và duy trì. Để đánh giá chất lượng tín dụng ngắn hạn, người ta thường dùng chỉ
tiêu này, NHTM nào có nhiều khoản nợ quá hạn thì sẽ có nguy cơ mất vốn cao và sẽ bị
đánh giá là có chất lượng tín dụng thấp

hút khách hàng. Với thái độ niềm nở tận tình chu đáo và sự nghiêm túc của nhân viên trong
NH sẽ tạo được ấn tượng tốt đối với khách hàng và tăng thêm uy tín của NH
•Chính sách lãi suất tín dụng ngắn hạn: Khách hàng khi đến với NH luôn mong
muốn nhận được một mức lãi suất cho vay hợp lý. Do vậy, việc đưa ra mức lãi suất tín
dụng ngắn hạn nhằm đảm bảo lợi ích cho cả NH và khách hàng là một công việc rất quan
trọng.Ngoài ra trong điều kiện lãi suất trên thị trường có những biến động phức tạp sẽ dẫn
đến những rủi ro cho cả NH và khách hàng. Lãi suất biến động sẽ gây khó khăn cho doanh
nghiệp trong kinh doanh, hiệu quả giảm và thực hiện trả nợ không đúng cam kết. Đối với
NH khi lãi suất thị trường tăng nhanh sẽ ảnh hưởng tới khả năng huy động vốn. Do vây,
SVTH: Phùng Thị Diệu Linh
Lớp K45H2
10
Khóa luận tốt nghiệp
TS. Nguyễn Thị Minh Hạnh
NH cần phải tính toán cẩn thận kỳ hạn của các khoản vay nhằm hạn chế rủi ro do sự biến
động lãi suất.
•Thời gian và thủ tục vay vốn: Các NH có thể thu hút khách hàng thông qua việc rút
ngắn thời gian và thủ tục cho vay. Các khách hàng khi đi vay vốn đều mong muốn được
giải quyết trong thời gian ngắn nhất.
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới tín dụng ngắn hạn của Ngân hàng thương mại
Chất lượng tín dụng ngắn hạn theo đúng nghĩa của nó chính là vốn vay ngắn hạn của
NH được khách hàng sử dụng vào quá trình SXKD dịch vụ. Trong quá trình luân chuyển
vốn NH nhận được vốn và một phần lợi nhuận từ vốn còn khách hàng thì đạt hiệu qủa
trong kinh doanh. Như vậy, có thể nói nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng ngắn hạn
phải được đảm bảo từ hai phía bên trong và bên ngoài. Và trong hoạt động kinh doanh thì
NH cũng như khách hàng luôn phải chịu tác động trực tiếp của rất nhiều nhân tố cả trực
tiếp lẫn gián tiếp mà chỉ một trong số đó có thể ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng tín
dụng ngắn hạn của NH.
1.3.1 Nhân tố khách quan
1.3.1.1 . Các nhân tố thuộc về khách hàng

không thể cạnh tranh bằng mọi giá, sử dụng mọi thủ đoạn bất chấp luật pháp để thôn tính
đối thủ cạnh tranh của mình bởi vì sự đổ vỡ thường đem lại hậu quả rất to lớn do tác động
tâm lý và phản ứng dây chuyền của khách hàng…
1.3.1.3 . Các nhân tố khác
- Môi trường kinh tế
Hoạt động của NHTM có thể được coi là chiếc cầu nối giữa các lĩnh vực khác nhau
của nền kinh tế. Vì vậy, sự ổn định hay mất ổn định của nền kinh tế sẽ có tác động mạnh
mẽ đến hoạt động của NH - đặc biệt là hoạt động tín dụng. Các biến số kinh tế vĩ mô như
lạm phát, khủng hoảng sẽ ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng tín dụng. Chu kỳ kinh tế có tác
động không nhỏ tới hoạt động tín dụng. Trong thời kỳ suy thoái, doanh nghiệp gặp nhiều
khó khăn, kinh doanh không có hiệu quả không trả nợ được NH nên ảnh hưởng đến chất
lượng tín dụng.
- Môi trường chính sách, pháp luật
Các chính sách của nhà nước ổn định hay không ổn định cũng tác động đến chất
lượng tín dụng. Khi các chính sách này không ổn định sẽ gây khó khăn cho doanh nghiệp
trong hoạt động SXKD, từ đó gây trở ngại cho NH khi thu hồi nợ và ngược lại. Nhân tố
pháp luật có vị trí hết sức quan trọng đối với họat động NH cũng như các họat động kinh tế
khác. Nó chi phối họat động kinh tế và họat động kinh tế phải tuân thủ theo pháp luật. Môi
trường pháp luật không ổn định là bất lợi lớn đối với các doanh nghiệp vì doanh nghiệp
không thể dự đoán chính xác được các cơ hội kinh doanh, các họat động kinh doanh sẽ
diễn ra không đúng theo các kế hoạch làm doanh nghiệp không có khả năng trả nợ cho NH
đúng hạn làm chất lượng tín dụng giảm. Mặt khác, khi môi trường pháp luật không ổn định
sẽ làm mất lòng tin của các nhà đầu tư vào thị trường. Điều này làm giảm đi khối lượng tín
SVTH: Phùng Thị Diệu Linh
Lớp K45H2
12
Khóa luận tốt nghiệp
TS. Nguyễn Thị Minh Hạnh
dụng ngắn hạn của NHTM. Vì vậy, để mở rộng và nâng cao chất lượng tín dụng ngắn hạn,
đòi hỏi hệ thống pháp luật đồng bộ, đầy đủ, đồng thời cũng phải đảm bảo được hiệu lực

SVTH: Phùng Thị Diệu Linh
Lớp K45H2
13
Khóa luận tốt nghiệp
TS. Nguyễn Thị Minh Hạnh
1.3.2.3 . Quy trình tín dụng và thẩm định tín dụng của Ngân hàng thương mại.
Quy trình tín dụng là tập hợp những nội dung, nghiệp vụ cơ bản, các bước tiến hành
trong quá trình cho vay, thu nợ nhằm đảm bảo an toàn vốn tín dụng. Khi thực hiện đúng
các bước trong quy trình nghiệp vụ sẽ đảm bảo chất lượng tín dụng và giảm thiểu rủi ro
trong hoạt động tín dụng. Ngoài ra việc thu thập thông tin của khách hàng là sự cần thiết
hỗ trợ cho việc thực hiện quy trình và nâng cao chất lượng tín dụng. Để nâng cao hiệu quả
và đảm bảo an toàn cho họat động đầu tư của NH, một trong những nghiệp vụ phải được
xem xét hết sức cẩn thận và quan trọng đó là thẩm định dự án đầu tư. Thẩm định tín dụng
phần nào giúp NH dự đoán được hiệu quả tài chính và tính khả thi của từng dự án để có thể
chọn lọc được cơ hội đầu tư tốt, có hiệu quả, có khả năng thu hồi vốn cao, hạn chế rủi ro
phát sinh. Chính vì vậy, công tác thẩm định tài chính cũng ảnh hưởng rất lớn đến chất
lượng tín dụng ngắn hạn của NH.
1.3.2.4 . Nhân tố con người
Cũng như bất lỳ lĩnh vực nào, nhân tố cho người trong họat động tín dụng ngắn hạn
cũng đóng vai trò quyết định đến chất lượng tín dụng. Chất lượng đội ngũ cán bộ NH là nhân
tố quyết định đến sự thành bại trong hoạt động kinh doanh của NH nói chung và trong hoạt động
tín dụng nói riêng. Nhân tố con người ở đây bao gồm nhận thức, kinh nghiệm, trình độ và tư
cách đạo đức của lãnh đạo, nhân viên NH. Cán bộ tín dụng mà không có đạo đức nghề nghiệp,
làm việc thiếu tinh thần trách nhiệm, cố ý làm trái pháp luật sẽ làm ảnh hưởng đến chất lượng tín
dụng. Trình độ chuyên môn nghiệp vụ cũng quyết định đến sự thành công của công tác tín dụng.
Nếu cán bộ tín dụng với trình độ, kiến thức kinh nghiệm tốt thì có thể thu thập, phân tích, đánh
giá chính xác về khách hàng và hiệu quả đầu tư, từ đó đánh giá và đưa ra quyết định cho vay hay
không sao cho có hiệu quả. Ngược lại, nếu cán bộ tín dụng kém về trình độ, kiến thức chuyên
môn sẽ làm giảm chất lượng tín dụng ngắn hạn của NH.
Bên cạnh đó cán bộ tín dụng cần có sự hiểu biết rộng về pháp luật, môi trưòng kinh tế xã

- Website: http://www.vcbhanoi.com.vn/
- Loại hình đơn vị: Ngân hàng thương mại cổ phần nhà nước
- Mô hình tổ chức: Chi nhánh
Thành lập ngày 01/03/1985, là thành viên trong hệ thống NH Ngoại thương Việt
Nam, được Nhà nước công nhận là doanh nghiệp hạng I. Năm 2004, NH Ngoại thương
Hà Nội vinh dự được Chủ tịch nước Cộng hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam trao tặng
Huân chương Lao động Hạng Ba. Được thành lập nhằm phục vụ hoạt động kinh doanh
đối ngoại, thanh toán quốc tế, các dịch vụ tài chính, NH quốc tế trên địa bàn Hà Nội.
Ngoài trụ sở chính 344 Bà Triệu, NH Ngoại thương Hà Nội hiện có 10 Phòng giao dịch
và 01 quầy giao dịch tại Sân bay quốc tế Nội Bài.
2.1.2 Cơ cấu tổ chức
•Ban giám đốc
- Giám đốc: Nguyễn Mạnh Hùng
- Ba phó giám đốc
•Phòng ban
- Phòng kế toán – tài chính
- Phòng khách hàng
- Phòng dịch vụ NH
- Phòng tổng hợp
- Phòng thanh toán thẻ
- Phòng ngân quỹ
- Phòng hành chính nhân sự
- Phòng thanh toán xuất nhập khẩu
- Phòng quản lý nợ
- Phòng tin học
- Phòng kiểm tra, giám sát, tuân thủ
- Phòng khách hàng thể nhân
- Mười phòng giao dịch trực thuộc chi nhánh.
2.1.3 Chức năng, nhiệm vụ cơ bản của các phòng ban
•Ban giám đốc

marketing khách hàng về thẻ. Phát triển và quản lý các cơ sở chấp nhận thẻ, quản lý các
máy rút tiền tự động ATM được giao.
•Phòng ngân quỹ
SVTH: Phùng Thị Diệu Linh
Lớp K45H2
17
Khóa luận tốt nghiệp
TS. Nguyễn Thị Minh Hạnh
Thực hiện việc lưu trữ tiền mặt, bù trừ và kết chuyển tài khoản tiền mặt, thu chi, đếm
kiểm toàn bộ đồng Việt Nam và ngoại tệ của khách hàng có mở tài khoản tại chi nhánh.
Nhận biết ngoại tệ thật, giả, tham gia quản lý ATM, quản lý kho quỹ của Chi nhánh.
•Phòng hành chính nhân sự
Phòng nghiệp vụ thực hiện công tác tổ chức cán bộ và đào tạo tại chi nhánh theo đúng
chủ trương chính sách của nhà nước và NH Ngoại Thương Việt Nam. Thực hiện quy định của
nhà nước và NH Ngoại Thương Việt Nam có liên quan đến chính sách cán bộ và tiền lương,
bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và các chính sách liên quan đến người lao động khác
•Phòng thanh toán xuất nhập khẩu
Thực hiện các nghiệp vụ liên quan đến thanh toán xuất nhập khẩu: mở L/C, thanh
toán hàng xuất nhập khẩu, chuyển tiền nước ngoài, nhờ thu hàng nhập khẩu,….
•Phòng quản lý nợ
Phòng quản lý nợ có nhiệm vụ quản lý về tổng dư nợ của chi nhánh, thực hiện thanh
toán, giám sát, xác định và trích lập dự phòng rủi ro cho chi nhánh theo quyết định của NH
Nhà nước và của NH Ngoại thương Việt Nam.
•Phòng tin học
Thực hiện công tác thông tin duy trì hệ thống thông tin điện tử tại chi nhánh, bảo trì,
bảo dưỡng hệ thống mạng máy tính của chi nhánh.
•Phòng kiểm tra, giám sát, tuân thủ
Kiểm tra kiểm soát nắm bắt diễn biến tình hình hoạt động kinh doanh của chi nhánh,
đặc biệt việc chấp hành các quy định của pháp luật, NHNN và NH Ngoại thương Việt
Nam. Theo dõi, đôn đốc, phúc tra việc thực hiện chỉnh sửa của chi nhánh đối với các kiến

năm 2010
Năm 2012 với
năm 2011
1. LNST
91,050 157,880 133,610 66,830 -24,270
2. Tổng tài sản 8,080,18
5
9,211,690
9,855,88
1
1,131,505 644,191
3. Vốn chủ sở hữu
462,861 526,749 478,685 63,888 -48,064
4. ROA (%)
1.13 1.71 1.36 0.58 -0.35
5. ROE (%)
19.71 30.02 27.95 10.31 -2.07
(Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh của NH Ngoại thương – chi nhánh HN)
ROA đo lường khả năng sinh lời tính trên tổng tài sản, chỉ số này cho thấy hiệu quả
sử dụng tài sản của Chi nhánh. Năm 2010, cứ 1 đồng vốn kinh doanh tạo ra 0,0113 đồng
lợi nhuận sau thuế, năm 2011 là 0,0171 và năm 2012 giảm 20,47% so với năm 2011 đạt
0,0136 đồng lợi nhuận sau thuế trên 1 đồng vốn kinh doanh. ROE đo lường khả năng sinh
lời của vốn CSH. Năm 2011, có chỉ số ROE cao nhất là 30,02%; nó cho thấy năm 2011 cứ
1 đồng vốn CSH thì tạo ra 0,3002 đồng lợi nhuận sau thuế.
Có sự biến động trên là do tình hình kinh tế trong nước còn nhiều khó khăn, tín dụng
bị tắc nghẽn, ngân hàng thừa vốn nhưng không dám cho vay, các chi phí về dự phòng rủi
ro cũng như chi phí quản lý tăng mạnh dẫn tới sự suy giảm của lợi nhuận, tuy nhiên điều
này hi vọng sẽ được giải quyết trong thời gian tới.
2.2 Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu.
2.2.1 Dữ liệu sơ cấp

Từ 1 tỷ – 5 tỷ đồng 7 35%
Trên 5 tỷ đồng 10 50%
Câu 4 Mức độ quan tâm của khách hàng tới chất lượng tín
dụng của NH?
Rất cao 16 80%
Cao 4 20%
Bình thường 0 0%
Không quan tâm 0 0%
(Nguồn: Tác giả tự tổng hợp)
- Phát và thu phiếu điều tra: Phiếu điều tra được phát trực tiếp cho khách hàng, lúc
khách hàng đến để thực hiện việc vay vốn, và được thu lại khi khách hàng ra về
- Tổng hợp ý kiến: Những ý kiến của khách hàng sẽ được thống kê, tổng hợp thành
những nhóm có chung câu trả lời, ý kiến giống nhau.
- Kết luận: Dựa trên những số liệu đã xử lý, tổng hợp, câu hỏi mở, đưa ra những kết
luận sơ bộ về chất lượng tín dụng ngắn hạn của chi nhánh NH Ngoại thương Việt Nam –
Hà Nội.
2.2.1.2 . Xử lý dữ liệu
Sau khi thu thập, dữ liệu sơ cấp sẽ được tiến hành nghiên cứu, tổng hợp, xử lý, khái
quát thành những chữ số, những yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng nói chung và
SVTH: Phùng Thị Diệu Linh
Lớp K45H2
20


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status