1
Chuyên đề tốt nghiệp Hiệu quả sử dụng TSLĐ
LỜI NÓI ĐẦU
Trong thời đại toàn cầu hoá ngày nay, nếu thương mại được cho là nhựa sống của
kinh tế thế giới thì vận tải biển được coi là mạch máu lưu thông những dòng nhựa đó.
Trong xu thế chung đó, dù vận tải biển chiếm 80% lưu lượng xuất nhập khẩu của Việt
Nam, nhưng đội tàu trong nước nhận được hợp đồng vận tải rất ít. Tất cả các doanh
nghiệp đang cạnh tranh với nhau gay gắt, Công ty vận tải biển Vinalines không phải là
một ngoại lệ.
Công ty vận tải biển Vinalines trực thuộc Tổng công ty Hàng hải Việt Nam, tuy mới
được thành lập, nhưng công ty đã chứng tỏ được năng lực của mình thông qua thực hiện
tốt các công việc được giao từ Tổng công ty và hoàn thành xuất sắc các bản hợp đồng
với các đối tác. Công ty là một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực vận tải nên đặc
điểm kinh doanh cũng có những điểm khác biệt so với các doanh nghiệp sản xuất kinh
doanh. Từ đó dẫn đến đặc điểm hoạt động tài chính của các công ty cũng khác biệt so
với các ngành sản xuất vật chất. Tuy tỷ trọng TSLĐ trong công ty nhỏ hơn so với TSCĐ
nhưng loại TS này lại chiếm một vị trí quan trọng không kém gì TSCĐ. Trong bất kỳ
một doanh nghiệp nào quản lý TSLĐ luôn là một trong ba vấn đề trọng tâm của quản lý
tài chính. TSLĐ nếu được sử dụng một cách hiệu quả sẽ góp phần nâng cao hiệu quả sử
dụng TS, từ đó sẽ góp phần giúp công ty phát triển, khẳng định vị trí của công ty trên thị
trường. Đối với Công ty vận tải biển Vinalines, một công ty mới được tách ra khỏi Tổng
công ty Hàng hải Việt Nam thì vấn đề sử dụng TSLĐ cũng chiếm một vị trí quan trọng.
Trong thời gian thực tập tại Công ty em nhận thấy được tầm quan trọng đó và những mặt
hạn chế của công tác quản lý TSLĐ, do đó em đã chọn đề tài: “Nâng cao hiệu quả sử
dụng TSLĐ tại Công ty vận tải biển Vinalines” làm đề tài cho chuyên đề tốt nghiệp của
mình.
Chuyên đề được cấu trúc thành 3 chương:
Sinh viên: Đỗ Thị Thu Trang Khoa: Ngân hàng – Tài chính
1
2
Chuyên đề tốt nghiệp Hiệu quả sử dụng TSLĐ
Chuyên đề tốt nghiệp Hiệu quả sử dụng TSLĐ
CHƯƠNG I
KHÁI QUÁT VỀ TÀI SẢN LƯU ĐỘNG VÀ HIỆU QUẢ SỬ
DỤNG TÀI SẢN LƯU ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP
1.1. Những vấn đề cơ bản về tài sản của doanh nghiệp.
1.1.1. Những vấn đề chung về doanh nghiệp.
• Khái niệm doanh nghiệp:
Trong một nền kinh tế tồn tại nhiều chủ thể kinh tế độc lập. Chính các chủ thể kinh
tế đã tạo ra của cải vật chất cho xã hội, đồng thời thúc đẩy nền kinh tế phát triển, trong
đó các doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng và cũng chính là bộ phận thực hiện các mục
tiêu kinh tế quan trọng của một quốc gia. Vậy doanh nghiệp là gì? Sau đây là một vài
khái niệm về doanh nghiệp:
Doanh nghiệp là chủ thể kinh tế độc lập, có tư cách pháp nhân, hoạt động kinh
doanh trên thị trường nhằm làm tăng giá trị của chủ sở hữu.
Doanh nghiệp là một cách thức tổ chức hoạt động kinh tế của nhiều cá nhân. Có
nhiều hoạt động kinh tế chỉ có thể thực hiện được bởi các doanh nghiệp chứ không phải
các cá nhân.
(Theo Luật doanh nghiệp): Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản,
có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm
mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh - tức là thực hiện một, một số hoặc tất cả
các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng
dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi.
• Các loại hình doanh nghiệp tại Việt Nam
Ở Việt Nam nền kinh tế đang được phát triển theo hướng đa dạng hình thức sở hữu
và doanh nghiệp cũng bao gồm các loại hình: Doanh nghiệp Nhà nước, công ty cổ phần,
công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh, công ty liên doanh, doanh nghiệp tư
Sinh viên: Đỗ Thị Thu Trang Khoa: Ngân hàng – Tài chính
3
4
Chuyên đề tốt nghiệp Hiệu quả sử dụng TSLĐ
Chuyên đề tốt nghiệp Hiệu quả sử dụng TSLĐ
với hình thức kinh doanh cá thể. Và loại hình doanh nghiệp này phải nộp thuế thu nhập
doanh nghiệp. Nếu một trong các thành viên chính thức bị chết hoặc rút vốn thì doanh
nghiệp bị tan vỡ.
- Công ty chính là hình thức phát triển nhất và là xu hướng chiếm ưu thế. Đây là
loại hình doanh nghiệp mà ở đó có sự kết hợp ba loại lợi ích: lợi ích của chủ sở hữu, hội
đồng quản trị và các nhà quản lý. Ở đó có sự tách rời quyền sở hữu khỏi các nhà quản lý.
Điều này mang lại cho công ty các ưu thế như: Quyền sở hữu có thể dễ dàng chuyển cho
cổ đông mới, sự tồn tại công ty không phụ thuộc vào tuổi thọ của bất cứ một ai mà phụ
thuộc vào số lượng cổ đông, và trách nhiệm của công ty là hữu hạn.
Mỗi loại hình doanh nghiệp đều có những ưu, nhược điểm riêng và phù hợp với
quy mô và trình độ phát triển nhất định. Hiện nay, hầu hết các doanh nghiệp đều hoạt
động dưới hình thức công ty, đây cũng chính là loại hình phát triển nhất của doanh
nghiệp.
• Môi trường hoạt động của doanh nghiệp:
Các doanh nghiệp trong giai đoạn nền kinh tế thị trường đều phải hoạt động trong
một môi trường cạnh tranh khốc liệt. Muốn đứng vững và phát triển được bản thân mỗi
DN phải thích ứng với tất cả những nhân tố bên ngoài, có thể kể đến đó là khoa học công
nghệ, chính sách của Nhà nước… Các nhân tố đó tác động trực tiếp đến các doanh
nghiệp. Khoa học công nghệ là đòn bẩy giúp nền kinh tế phát triển bởi nó làm thay đổi
phương thức sản xuất kinh doanh, tăng năng suất lao động. Vậy các DN phải làm sao áp
dụng công nghệ một cách kịp thời để không bị lạc hậu so với các DN khác. Hay chính
sách của Nhà nước tác động mạnh mẽ tới hoạt động của DN bởi vì một chính sách nới
lỏng hay thắt chặt sẽ có thể khuyến khích hoặc hạn chế doanh nghiệp trong việc sản
xuất, kinh doanh một loại hàng hóa nào đó. Từ đó tác động tới doanh thu và lợi nhuận
của doanh nghiệp. Mặt khác phải tồn tại trong môi trường cạnh tranh nên buộc mỗi
doanh nghiệp phải dự tính được rủi ro, đồng thời phải có biện pháp nâng cao chất lượng,
mẫu mã… để có thể chiến thắng các đối thủ cạnh tranh. Doanh nghiệp cũng đồng thời
Sinh viên: Đỗ Thị Thu Trang Khoa: Ngân hàng – Tài chính
5
6
7
Chuyên đề tốt nghiệp Hiệu quả sử dụng TSLĐ
1.1.3. Phân loại tài sản:
Tài sản có thể được phân chia thành nhiều nhóm theo từng tiêu thức khác nhau.Có
thể phân loại theo đặc tính cấu tạo vật chất hoặc phân loại theo tính chất luân chuyển tài
sản. Trong phạm vi của đề tài xin tập trung vào cách phân loại thứ hai đó là phân theo
tính chất luân chuyển của tài sản.
Phân loại theo tính chất luân chuyển tài sản được phân thành: tài sản lưu động và
tài sản cố định.
Trong phần này chỉ xin tập trung trình bày những nét cơ bản vào tài sản cố định,
phần tài sản lưu động sẽ được nói ở phần sau.
1.1.3.1.Khái niệm về tài sản cố định
TSCĐ là những tài sản thoả mãn đồng thời hai điều kiện: có thời gian sử dụng từ
một năm trở lên, và có giá trị từ mười triệu đồng trở lên.
Tài sản cố định là những tư liệu lao động chủ yếu và có đặc điểm cơ bản là tham
gia vào nhiều chu kỳ sản xuất, không có sự thay đổi về hình thái vật chất từ chu kỳ sản
xuất đầu tiên cho đến khi bị sa thải khỏi quá trình sản xuất. Mọi tư liệu lao động là tài
sản hữu hình có kết cấu độc lập, hoặc là một hệ thống gồm nhiều tài sản riêng lẻ liên kết
với nhau để cùng thực hiện một hay một số chức năng nhất định mà nếu thiếu bất kỳ một
bộ phận nào trong đó thì cả hệ thống không thể hoạt động được.
Qua khái niệm về tài sản cố định ta thấy những tư liệu lao động được coi là tài sản
cố định khi đồng thời thoả mãn hai tiêu chuẩn sau:
Tiêu chuẩn về thời gian: Có thời gian sử dụng từ 1 năm trở lên
Tiêu chuẩn về giá trị: Những tài sản có giá trị từ 10 triệu đồng trở lên
Trong điều kiện tiến bộ khoa học kỹ thuật hiện nay, khi khoa học đã trở thành một
lực lượng sản xuất trực tiếp thì khái niệm về tài sản cố định cũng được mở rộng nó bao
gồm cả những tài sản cố định không có hình thái vật chất. Loại này là những chi phí mà
doanh nghiệp bỏ ra cũng đồng thời thoả mãn hai tiêu chuẩn nêu trên và thường bao gồm:
chi phí thành lập doanh nghiệp, chi phí về bằng phát minh sáng chế…
8
9
Chuyên đề tốt nghiệp Hiệu quả sử dụng TSLĐ
Ngoài hai loại tài sản cố định nêu trên, trong các doanh nghiệp nhà nước còn có thể
có loại tài sản cố định bảo quản hộ, giữ hộ, cất giữ hộ nhà nước theo quyết định của các
cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
Đối với tài sản cố định điều quan trọng nhất các doanh nghiệp cần quan tâm đó
chính là quản lý khấu hao bởi vì trong quá trình sử dụng loại tài sản này bị giảm dần về
mặt giá trị. Hao mòn được chia thành hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình. Ngày nay
do khoa học công nghệ phát triển nhanh chóng nên hao mòn vô hình xảy ra càng nhanh
biểu hiện đó là tình trạng giảm giá tài sản và lỗi thời về mặt công nghệ. Quản lý tốt khấu
hao là một trong những yếu tố góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản cố định.
1.2. Tài sản lưu động
Bộ phận thứ hai của tài sản đó chính là khoản mục tài sản lưu động. Quản lý tài sản
lưu động là một trong ba vấn đề trọng tâm của quản lý tài chính doanh nghiệp. Qua đó
cho thấy tầm quan trọng của tài sản lưu động trong một doanh nghiệp. Vậy tài sản lưu
động được hiểu là gì?
1.2.1. Khái niệm tài sản lưu động (TSLĐ)
TSLĐ là tất cả những tài sản ngắn hạn, và thường xuyên luân chuyển trong quá
trình kinh doanh. Tài sản lưu động chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất kinh doanh,
thay đổi hình thái vật chất và chuyển toàn bộ giá trị vào sản phẩm được sản xuất.
Trong bất cứ một doanh nghiệp nào muốn hoạt động sản xuất, kinh doanh tiến
hành bình thường đều phải cần có tài sản lưu động. Trong suốt quá trình sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp tài sản lưu động được phân bổ. Việc dự tính lượng tài sản lưu
động hay nói cách khác quá trình quản lý và sử dụng tài sản lưu động là một việc hết sức
quan trọng đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào. Đối với bất kì một doanh nghiệp nào
tài sản lưu động được xem là lượng tiền ứng trước nhằm thỏa mãn nhu cầu về các đối
tượng lao động. Do tài sản lưu động tồn tại ở tất cả các khâu của quá trình sản xuất kinh
doanh nên nó sẽ đảm bảo cho các hoạt động đó diễn ra một cách liên tục. Nếu sử dụng
Sinh viên: Đỗ Thị Thu Trang Khoa: Ngân hàng – Tài chính
Theo cách phân loại này, người ta dựa vào khả năng huy động cho việc thanh toán
(Đây cũng chính là các khoản mục TSLĐ trong bảng cân đối kế toán) để chia tài sản lưu
động thành các loại sau:
Thứ nhất: Ngân quỹ
Ngân quỹ bao gồm tiền mặt tại két của doanh nghiệp, tiền gửi ngân hàng, tiền
đang chuyển. Đây là khoản mục có tính thanh khoản cao nhất trong bảng cân đối
kế toán.
Không một doanh nghiệp nào có thể hoạt động mà thiếu tiền mặt. Tiền được sử
dụng để thanh trả lương, mua nguyên vật liệu, mua sắm tài sản cố định, trả tiền thuế, trả
nợ…Tiền mặt là một khoản không sinh lãi cho doanh nghiệp, tiền mặt dư thừa làm giảm
hiệu suất sinh lời của vốn chủ sở hữu và sẽ làm giảm giá cổ phiếu của doanh nghiệp. Vì
vậy quản lý tiền mặt thì việc tối thiểu hoá lượng tiền mặt phải giữ là mục tiêu quan trọng
nhất. Các doanh nghiệp phải nắm giữ tiền mặt vì các lý do sau:
Thứ nhất: Duy trì số dư tiền mặt doanh nghiệp mới đảm bảo khả năng giao dịch
hàng ngày của doanh nghiệp bao gồm thanh toán cho khách hàng, và thu tiền từ khách
hàng.
Thứ hai: Nó bù đắp cho ngân hàng về việc ngân hàng cung cấp các dịch vụ cho
doanh nghiệp. Hay đó chính là khoản tiền trả cho khoản phí, lãi vay… Số dư tiền mặt
loại này gọi là số dư bù đắp
Thứ ba: Duy trì số dư tiền mặt nhằm mục đích đầu tư ngắn hạn. Đó là những khi cơ
hội đầu tư kiếm lời đến nếu có đủ lượng tiền sẽ đem đến doanh nghiệp những khoản lợi
lớn.
Thứ tư: Việc nắm giữ tiền mặt đáp ứng nhu cầu dự phòng trong trường hợp biến
động không lường trước được của các luồng tiền vào và ra. Loại tiền này tạo nên số dư
dự phòng.
Sinh viên: Đỗ Thị Thu Trang Khoa: Ngân hàng – Tài chính
11
12
Chuyên đề tốt nghiệp Hiệu quả sử dụng TSLĐ
Thứ năm: Doanh nghiệp có thể được hưởng lợi thế trong việc thương lượng khi
lượng tiền mặt dự trữ không đủ đáp ứng nhu cầu. Ở đây chúng ta cũng áp dụng mô hình
quản lý dự trữ EOQ để xác định lượng dự trữ tiền mặt tối ưu. Trong đó chi phí cho việc
lưu giữ tiền mặt ở đây chính là chi phí cơ hội, là lãi suất mà doanh nghiệp bị mất đi. Chi
phí đặt hàng chính là chi phí cho việc bán chứng khoán. Lượng dự trữ tiền mặt tối ưu
theo mô hình EOQ là:
M
*
=
i
CM
bn
..2
M
*
: tổng mức tiền mặt giải ngân hàng năm
C
b
: chi phí cho một lần bán chứng khoán thanh khoản
i: lãi suất
Khi lãi suất tiền gửi cao thì xu hướng là giữ ít tiền mặt hơn và ngược lại, nếu chi
phí cho việc bán chứng khoán càng cao thì họ lại càng giữ nhiều tiền mặt.
Trong thực tế, dòng tiền ra và dòng tiền vào của doanh nghiệp hầu như không dự
kiến trước được do đó việc tính toán mức dự trữ là không thể chính xác và tiến hành một
cách đều đặn. Từ đây người ta đưa ra mức dự trữ tiền mặt dự kiến dao động trong một
khoảng, tức là mức dự trữ tiền mặt sẽ dao động từ cận thấp nhất đến cận cao nhất.
Khoảng dao động tiền mặt được xác định như sau:
d =
3
3/1
Mức tiền mặt giới hạn dưới
+
3
=
Khoảng dao động tiền mặt
Mức tiền mặt theo thiết kế
Mức tiền mặt giới hạn dưới
+
3Thứ hai: Các khoản phải thu
Các khoản phải thu hay còn gọi là các khoản tín dụng thương mại. Khoản phải thu
xuất hiện khi doanh nghiệp bán hàng hoặc cung cấp dịch vụ trả tiền sau, chưa nhận được
tiền ngay khi bán hàng. Khoản phải thu bao gồm các khoản phải thu khách hàng, trả
trước cho người bán, thuế giá trị gia tăng được khấu trừ, phải thu nội bộ và các khoản
phải thu khác.
Để giành lợi thế trong kinh doanh các doanh nghiệp có thể có các chiến lược khác
nhau như: quảng cáo, tập trung vào chất lượng sản phẩm…Trong nền kinh tế cạnh tranh
gay gắt thì việc phát triển mạng lưới khách hàng giúp cho doanh nghiệp đứng vững trên
thị trường. Do vậy khi tiến hành sản xuất doanh nghiệp cần phải có các mối quan hệ
rộng rãi nhằm tiêu thụ được sản phẩm vì vậy việc mua bán chịu cho các khách hàng tin
cậy là không thể thiếu. Việc bán chịu tạo ra các lợi thế như sau:
Sinh viên: Đỗ Thị Thu Trang Khoa: Ngân hàng – Tài chính
14
15
Chuyên đề tốt nghiệp Hiệu quả sử dụng TSLĐ
Thứ nhất: Tín dụng thương mại tác động đến doanh thu bán hàng do với chính sách
này thì doanh nghiệp sẽ thu hút được nhiều khách hàng hơn và số tiền trả chậm bị khách
hàng chiếm dụng nên doanh nghiệp sẽ quy định giá cao hơn,
Các khoản thế chấp: đó chính là việc xem xét những tài sản nào có thể tài trợ và
đảm bảo cho việc trả các khoản nợ đúng hạn. Khi phân tích tín dụng các nhà
quản lý cũng cần quan tâm đến các điều kiện về kinh tế khác chẳng hạn như:
tiềm năng phát triển của khách hàng trong tương lai, định hướng phát triển. Nếu
các điều kiện kinh tế không thuận lợi thì khả năng trả nợ, khả năng về vốn cũng
giảm xuống, điều đó sẽ ảnh hưởng đến quyết đinh tới chính sách tín dụng
thương mại của doanh nghiệp đối với khách hàng.
Phân tích các khoản tín dụng được đề nghị: Việc phân tích đánh giá khoản tín dụng
thương mại được đề nghị để quyết định nên cấp hay không được dựa vào việc tính
NPV của khách hàng. Tuy nhiên khi sử dụng chỉ tiêu này thì doanh nghiệp phải tính
tới các rủi ro và chi phí trong việc cấp tín dụng thương mại như: rủi ro trong việc
không thể thu hồi được nợ…
Nếu NPV > 0 thì doanh nghiệp sẽ cấp tín dụng thương mại cho khách hàng
Nếu NPV < 0 thì doanh nghiệp sẽ không cấp tín dụng thương mại cho khách
hàng
Nếu NPV = 0 Doanh nghiệp sẽ xem xét kèm theo các điều kiện khác rồi sẽ
quyết định có cấp tín dụng thương mại hay không.
Theo dõi các khoản phải thu: Muốn quản lý tốt cũng như sử dụng chính sách tín
dụng thương mại một cách có hiệu quả, các nhà quản lý phải theo dõi các khoản
phải thu, để xác định được đúng thực trạng của chúng. Trên cơ sở đó có thể thay
đổi chính sách tín dụng thương mại kịp thời. Thông thường người ta dựa vào các
chỉ tiêu, phương pháp, mô hình sau:
Các khoản phải thu
Kỳ thu tiền bình quân=
Doanh thu tiêu thụ bình quân 1 ngày
Sinh viên: Đỗ Thị Thu Trang Khoa: Ngân hàng – Tài chính
16
17
Chuyên đề tốt nghiệp Hiệu quả sử dụng TSLĐ
Khi kì thu tiền bình quân tăng lên mà doanh thu không tăng tức là các khoản phải
đọng hàng hoá tốn kém chi phí lưu kho.
Tồn kho trong quá trình sản xuất là các loại nguyên liệu nằm tại từng công đoạn
của dây chuyền sản xuất. Quá trình sản xuất kinh doanh chia thành nhiều công đoạn khác
nhau, do đó cũng không thể hoàn toàn trùng khớp tiến độ sản xuất tại các giai đoạn khác
nhau. Vì vậy tại bất kì một công đoạn cũng đều có tồn kho. Nguyên vật liệu tồn kho là
đầu vào của các quá trình sản xuất kinh doanh, sau khi tiến hành sản xuất kinh doanh, vì
có độ trễ giữa sản xuất và tiêu dùng, nên trong doanh nghiệp tồn kho một lượng thành
phẩm nhất định, nhất là những doanh nghiệp sản xuất mang tính thời vụ có quy trình chế
tạo tốn nhiều thời gian thì dự trữ, tồn kho sản phẩm là rất lớn. Tại thời điểm mùa vụ nhu
cầu tiêu thụ vượt quá năng lực sản xuất của doanh nghiệp, nhưng tại thời điểm khác thì
tồn kho có thể rất lớn.
Dự trữ và tồn kho đối với một doanh nghiệp là không thể tránh khỏi. Điều quan
trọng ở đây là các nhà quản lý tài chính phải có phương pháp quản lý tồn kho một cách
hiệu quả đảm bảo lượng tồn kho là hợp lý để hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra bình
thường, nhưng cũng không quá nhiều làm tăng chi phí lưu kho.
Có nhiều phương pháp quản lý hàng tồn kho nhưng ở đây chúng ta chỉ đề cập đến
một số các phương pháp như sau:
Quản lý hàng tồn kho theo phương pháp cổ điển- EOQ
Mô hình được giả định những lần cung cấp hàng hoá là bằng nhau. Khi doanh
nghiệp tiến hành dự trữ hàng hoá sẽ kéo theo hàng loạt các chi phí như chi phí bốc xếp
hàng hoá, chi phí đặt hàng, chi phí bảo hiểm… nhưng nói chung có hai loại chi phí
chính:
- Chi phí lưu kho: đây là những chi phí liên quan tới việc tồn trữ hàng hoá bao gồm
chi phí hoạt động (chi phí bốc xếp hàng hoá, chi phí bảo hiểm hàng hoá, chi phí hao hụt
Sinh viên: Đỗ Thị Thu Trang Khoa: Ngân hàng – Tài chính
18
19
Chuyên đề tốt nghiệp Hiệu quả sử dụng TSLĐ
mất mát, chi phí bảo quản…); chi phí tài chính (trả lãi tiền vay, chi phí về thuế, khấu
hao…).
Sinh viên: Đỗ Thị Thu Trang Khoa: Ngân hàng – Tài chính
19
20
Chuyên đề tốt nghiệp Hiệu quả sử dụng TSLĐ
Từ đó ta có gọi Q* là tổng chi phí dự trữ thấp nhất, tìm Q* bằng cách lấy vi phân
TC theo Q ta có:
Q* =
1
2
2
C
DC
+ Điểm đặt hàng mới: Quản lý tồn kho và dự trữ cũng chính là việc xác định xem
khi nào thì nên đặt hàng mới bởi vì trong việc đặt hàng quá sớm hoặc qua muộn cũng
đều không tốt. Do vậy, các doanh nghiệp cần phải xác định điểm đặt hàng mới. Thời
điểm đặt hàng mới được xác định bằng số lượng nguyên liệu sử dụng mỗi ngày nhân với
độ dài của thời gian giao hàng.
+ Lượng dự trữ an toàn. Để đảm bảo cho sự ổn định của sản xuất, doanh nghiệp
cần phải duy trì một lượng hàng hoá tồn kho an toàn. Lượng dự trữ an toàn hoàn toàn tuỳ
thuộc vào tình hình cụ thể của doanh nghiệp. Lượng dự trữ an toàn là lượng hàng hoá dự
trữ thêm vào lượng dự trữ tại thời điểm đặt hàng.
Phương pháp cung cấp đúng lúc (dự trữ = 0)
Theo phương pháp này, các doanh nghiệp có trong một số ngành nghề có liên quan
chặt chẽ với nhau hình thành nên những mối quan hệ, khi có một đơn đặt hàng nào đó họ
sẽ tiến hành “hút” những hàng hóa và sản phẩm dở dang của các đơn vị khác mà họ
không cần phải dự trữ. Sử dụng phương pháp này sẽ làm giảm tới mức thấp nhất chi phí
lưu kho. Tuy nhiên, đây chỉ là phương pháp quản lý được áp dụng trong một số loại dự
trữ nào đó của doanh nghiệp và phải kết hợp với các phương pháp quản lý khác.
Thứ tư: Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn
Mục tiêu của doanh nghiệp là tối đa hoá giá trị tài sản của chủ sở hữu, muốn vậy
doanh nghiệp cần phải làm tốt công tác quản lý doanh nghiệp, trong đó quản lý tài sản
lưu động là một trong ba nội dung của quản lý tài chính doanh nghiệp, không những là
đem lại lợi ích cho doanh nghiệp mà còn đáp ứng nhu cầu của toàn xã hội. Việc nâng cao
hiệu quả sử dụng tài sản lưu động là hết sức cần thiết vì:
Sinh viên: Đỗ Thị Thu Trang Khoa: Ngân hàng – Tài chính
21
22
Chuyên đề tốt nghiệp Hiệu quả sử dụng TSLĐ
• Nếu hiệu quả sử dụng TSLĐ cao sẽ đảm bảo việc chủ động trong thanh toán, khả
năng linh hoạt về tài chính, nâng cao tính tự chủ và giảm bớt rủi ro trong kinh
doanh cho doanh nghiệp. Bởi vì hiệu quả sử dụng vốn lưu động cao có nghĩa là
các chỉ tiêu về khả năng thanh toán ngắn hạn tốt. Điều đó có nghĩa là doanh
nghiệp sẽ chủ động được trong việc thanh toán. Việc nâng cao hiệu quả sử dụng
tài sản lưu động làm cho tài sản lưu động được quay vòng nhanh dẫn đến tiết
kiệm cho doanh nghiệp, doanh nghiệp sẽ có vốn cho hoạt động sản xuất kinh
doanh, doanh nghiệp sẽ tự chủ không phụ thuộc vào các nguồn tài trợ từ bên
ngoài, việc sử dụng linh hoạt nguồn vốn sẽ làm giảm thiểu các rủi ro và chi phí
cho doanh nghiệp. Như vậy nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản lưu động cũng sẽ
tạo ra sự an toàn cho doanh nghiệp.
• Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản lưu động góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản
do tài sản lưu động là một bộ phận của tài sản. Tài sản
được sử dụng một cách hiệu quả sẽ góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh,
từ đó sẽ tăng năng lực sản xuất và khẳng định vị thế của công ty trên thị trường.
Ngược lại nếu nhiều doanh nghiệp do có chính sách sử dụng tài sản không hợp lý nên
đã để lãng phí mà kết quả lại không cao.
Việc sử dụng TSLĐ làm sao cho có hiệu quả nhất là hết sức quan trọng, điều quan
trọng là các nhà quản trị tài chính doanh nghiệp cần phải đưa những chính sách
hợp lý để tận dụng những cơ hội cũng như tối thiểu hóa chi phí.
1.3.2. Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng tài sản lưu động.
Ngành nghề quyết định tới cơ cấu TSLĐ trong tổng TS. Mà nhu cầu TSLĐ trong tổng
tài sản đối với những doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau là khác nhau.
Đối với doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực chuyên sản xuất có tỷ trọng tài sản lưu
động trong tổng tài sản nhỏ hơn so với doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương
mại. Từ sự khác biệt đó dẫn tới việc quản lý và sử dụng tài sản lưu động cũng khác nhau,
và hiệu quả sử dụng cũng khác nhau.
Sinh viên: Đỗ Thị Thu Trang Khoa: Ngân hàng – Tài chính
23
24
Chuyên đề tốt nghiệp Hiệu quả sử dụng TSLĐ
• Cơ sở hạ tầng: Khi doanh nghiệp có hệ thống cơ sở hạ tầng đảm bảo sẽ giúp
doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh, tận dụng tối đa các nguồn lực, do đó
hiệu quả sử dụng tài sản lưu động cũng được tăng lên tương ứng.
• Cơ cấu TSLĐ trong tổng tài sản: Từng loại hình doanh nghiệp sẽ có nhu cầu về
TSLĐ và TSCĐ khác nhau. Nếu trong doanh nghiệp lượng tài sản lưu động quá
nhiều so với nhu cầu của doanh nghiệp, trong khi đó tài sản cố định thì không đủ
cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được diễn ra một cách bình thường,
điều này cũng sẽ làm ảnh hưởng lớn đến hiệu quả sử dụng tài sản của doanh
nghiệp, dễ gây ứ đọng tài sản lưu động tốn kém chi phí lưu kho, nhưng cũng
không đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh khi không có đủ tài sản lưu động
cho hoạt động kinh doanh.
Nếu tài sản lưu động quá ít không đủ cho hoạt động kinh doanh, tài sản cố định
quá nhiều sẽ dẫn đến dư thừa tài sản cố định, như vậy doanh nghiệp sẽ gây ra lãng phí
nguồn vốn khi đầu tư vào tài sản cố định làm ứ đọng vốn của doanh nghiệp. Do vậy nếu
một cơ cấu TS hợp lý sẽ góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng TSLĐ.
1.3.2.2. Các nhân tố khách quan
• Môi trường hoạt động kinh doanh: Các doanh nghiệp hiện nay đang hoạt động
trong môi trường cạnh tranh khốc liệt. Do vậy việc lập kế hoạch sản xuất, tiêu thụ hàng
hóa cũng như dự trữ và tồn kho là hết sức quan trọng. Tất cả các kế hoạch này đều ảnh
hưởng tới việc sử dụng tài sản lưu động.
Độ dài bình quân một vòng quay TSLĐ =
Sinh viên: Đỗ Thị Thu Trang Khoa: Ngân hàng – Tài chính
Doanh thu thuần trong kỳ
x 100
TSLĐ bình quân trong kỳ
Số ngày kỳ phân tích
x 100
Vòng quay TSLĐ
25