Nghiên cứu xây dựng đề thi tuyển chọn học sinh năng khiếu lớp 10 chuyên lý - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT HOÀNG THỊ ÚT QUYÊN

VĂN HÓA PHÁP LUẬT TRONG LĨNH VỰC KINH DOANH
Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

7
1.1.1.
Quan niệm về văn hóa pháp luật
7
1.1.2.
Đặc điểm của văn hóa pháp luật
11
1.1.3.
Chức năng của văn hóa pháp luật
12
1.1.4.
Các cấp độ của văn hóa pháp luật và việc phân loại văn hóa
pháp luật
14
1.1.4.1.
Các cấp độ của văn hóa pháp luật
14
1.1.4.2.
Phân loại văn hóa pháp luật
16
1.1.5.
Các yếu tố hợp thành văn hóa pháp luật
18
1.1.5.1.
Ý thức pháp luật (bao gồm tri thức pháp luật và tình cảm
pháp luật)
19
1.1.5.2.
Hệ thống pháp luật
23

XÂY DỰNG VĂN HÓA PHÁP LUẬT TRONG LĨNH
VỰC KINH DOANH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
52
2.1.
Thực trạng văn hóa pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh ở
Việt Nam hiện nay
52
2.1.1.
Thực trạng ý thức pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh hiện
nay và nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó
52
2.1.1.1.
Thực trạng
52
2.1.1.2.
Nguyên nhân dẫn tới thực trạng trên
63
2.1.2.
Thực trạng hệ thống văn bản pháp luật trong kinh doanh và
nguyên nhân dẫn tới thực trạng đó
66
2.1.2.1.
Thực trạng
66
2.1.2.2.
Nguyên nhân dẫn tới thực trạng trên
77
2.1.3.
Thực trạng hành vi thực hiện pháp luật và áp dụng pháp luật
trong lĩnh vực kinh doanh ở nước ta hiện nay và nguyên

hành vi pháp luật hợp pháp và lối sống theo pháp luật
100
2.2.2.4.
Xây dựng các mô hình văn hóa pháp luật kinh doanh tại địa
phương, đơn vị, cơ quan, doanh nghiệp…
102
2.2.2.5.
Đẩy mạnh công tác đào tạo và nghiên cứu pháp luật kinh
doanh, tiếp thu tinh hoa của văn hóa pháp luật kinh doanh
các nước trong khu vực và trên thế giới nhưng vẫn giữ nét
văn hóa pháp luật Việt Nam riêng biệt
103
2.2.2.6.
Đẩy mạnh và mở rộng các hoạt động như: bình chọn thương
hiệu có chất lượng cao của người tiêu dùng; tận dụng sự tác
động của yếu tố dư luận xã hội để nâng cao văn hóa pháp
luật trong kinh doanh
104

KẾT LUẬN
106

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
108 1
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

hệ thống pháp luật phát triển và một quốc gia hưng thịnh.
Lĩnh vực kinh doanh là một trong những lĩnh vực trọng điểm của bất kỳ
một nền kinh tế nào. Hoạt động kinh doanh tốt, mang lại lợi nhuận cao luôn
đồng hành với chất lượng cuộc sống cao của người dân, trình độ dân trí phát
triển và sự phồn thịnh của một quốc gia. Với ý nghĩa đó, việc xây dựng hành
lang pháp lý trong kinh doanh cũng như nâng cao ý thức pháp luật, văn hóa pháp
luật trong kinh doanh cho các chủ thể luôn được Đảng và Nhà nước ta chú trọng.
Trong thời gian khoảng 10 năm trở lại đây công tác nâng cao vấn đề
văn hóa pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh không ngừng được tăng cường,
hoàn thiện cả về nội dung lẫn phương thức thực hiện và đã đạt được nhiều
thành tựu đáng khích lệ. Hàng loạt văn bản quy phạm pháp luật qui định các
hành vi, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong lĩnh vực kinh doanh được
ban hành, tạo ra hành lang pháp lý vững chắc, cụ thể, gắn liền với thực tế và
thuận lợi trong thực hiện. Các cơ quan nhà nước từ Chính phủ đến các Bộ,
ngành, địa phương đều hết sức chú trọng và thúc đẩy việc xây dựng pháp luật,
ban hành nhiều văn bản cụ thể hơn, dễ thực hiện hơn trong kinh doanh. Đồng
thời rất nhiều văn bản pháp luật liên tịch giữa các bộ, các ngành cũng được
ban hành đồng loạt nhằm phối hợp có hiệu quả trong công tác nâng cao vấn
đề văn hóa pháp luật trong kinh doanh.
Nhìn chung thì trình độ văn hóa pháp luật của đa số các chủ thể trong
kinh doanh ở nước ta hiện nay đã có nhiều tiến bộ: sự hiểu biết pháp luật và
vận dụng pháp luật trong các nghiệp vụ kinh doanh được nâng lên rõ rệt thể
hiện qua việc chấp hành nghiêm chỉnh các chế độ, chính sách của Đảng và
Nhà nước, qui định của pháp luật; tình trạng tội phạm kinh doanh cũng đã
được khắc phục đáng kể; tình trạng không tuân thủ hay cố tình "lách luật" của
các tổ chức cá nhân hiện nay cũng đã giảm nhiều

3
Tuy nhiên chúng ta cũng phải nhìn nhận rằng, trong bối cảnh xã hội
luôn phát triển không ngừng, đặc biệt trong thời gian gần đây khi sự hội nhập

Vấn đề văn hóa pháp luật ở nước ta hiện nay đã được nghiên cứu, bình
luận, trao đổi dưới nhiều hình thức. Thông qua những tạp chí chuyên ngành như:
Nghiên cứu lập pháp, Luật học, Dân chủ và pháp luật, Nhà nước và pháp luật
các tác giả đã bày tỏ quan điểm cá nhân của mình xung quanh khái niệm, vai
trò, và những biện pháp nâng cao vấn đề văn hóa pháp luật. Cụ thể như sau:
- Lê Đức Tiết (2005), Văn hóa pháp lý Việt Nam, Nxb Tư pháp, Hà Nội.
- Hoàng Thị Kim Quế (2004), "Văn hóa pháp lý - dòng riêng giữa
nguồn chung của văn hóa dân tộc Việt Nam", Tạp chí Dân chủ và pháp luật.
- Nguyễn Văn Động (2006), "Văn hóa pháp lý trong điều kiện phát
huy dân chủ ở nước ta hiện nay", Tạp chí Dân chủ và pháp luật.
- Lê Vương Long (2006), "Văn hóa pháp lý Việt Nam trong xu thế
toàn cầu hóa", Tạp chí Nghiên cứu lập pháp.
- Lê Minh Tâm (1998), "Vấn đề văn hóa pháp luật ở nước ta trong
giai đoạn hiện nay", Tạp chí Luật học.
- Lê Thanh Thập (1999), "Mấy suy nghĩ về văn hóa và văn hóa pháp
luật ở nước ta", Tạp chí Luật học.
- Phạm Duy Nghĩa (2008), "Góp phần tìm hiểu văn hóa pháp luật",
Tạp chí khoa học - Đại học Quốc gia Hà Nội.
- Nguyễn Thị Hồi (2008), "Ý thức pháp luật và văn hóa pháp luật",
Tạp chí Dân chủ và pháp luật.
Với đề tài văn hóa pháp luật cũng đã từng có nhiều luận văn, luận án,
khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu và phân tích. Trong đó không thiếu các đề tài
cấp Bộ, cấp nhà nước, cấp tỉnh. Điều này cho thấy tầm quan trọng của vấn đề
nâng cao trình độ văn hóa pháp luật cho người dân cũng như thể hiện thái độ
quan tâm, chú trọng của Đảng và Nhà nước ta.
Luận văn này người viết tập trung nghiên cứu những vấn đề về
phương diện lý luận chung về văn hóa pháp luật, chú trọng văn hóa pháp luật

5
trong lĩnh vực kinh doanh ở nước ta hiện nay và hoạt động nâng cao ý thức

Luận văn được nghiên cứu và hình thành trên cơ sở vận dụng các
phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của học
thuyết Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Tác giả luận văn đã sử dụng một
số phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phân tích, tổng hợp, đối chiếu giữa lý
luận và thực tiễn
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 2 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về văn hóa pháp luật và văn hóa pháp luật
trong lĩnh vực kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.
Chương 2: Thực trạng và những biện pháp chủ yếu về xây dựng văn
hóa pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh ở Việt Nam hiện nay.

7
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA PHÁP LUẬT
VÀ VĂN HÓA PHÁP LUẬT TRONG LĨNH VỰC KINH DOANH
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

1.1. VĂN HÓA PHÁP LUẬT
1.1.1. Quan niệm về văn hóa pháp luật
Vốn là một hiện tượng xã hội hết sức đa dạng, đa cấp độ, văn hóa từng
được nhìn nhận theo nhiều cách thức khác nhau. Ở trình độ lý luận và yêu cầu
của xã hội ngày nay, văn hóa được coi là tất cả những gì liên quan đến con
người, ít nhiều thể hiện được sức mạnh bản chất của con người. Văn hóa ra
đời cùng với sự xuất hiện của xã hội loài người, từ giai đoạn khởi thủy cho
đến giai đoạn phát triển thịnh vượng sau này. Quá trình phát triển của văn hóa
cũng là quá trình loài người tiến hóa, đi lên, nắm bắt các qui luật tự nhiên và
làm chủ thế giới. Có thể nói, sự phát triển của văn hóa chính là quá trình con
người tự hoàn thiện mình, hoàn thiện xã hội, xây dựng một xã hội tiến bộ hơn,

thể của mỗi dân tộc được thể hiện qua ba yếu tố cốt lõi sau:
- Các giá trị tư tưởng, đạo đức, thẩm mỹ (yếu tố về ý thức).
- Những giá trị vật chất, kỹ thuật do con người sáng tạo ra trong lĩnh
vực đó.
- Năng lực, cách thức sử dụng các dạng vật chất đã sáng tạo ra nhằm
đáp ứng nhu cầu của đời sống con người cả về vật chất và tinh thần.
Từ "văn hóa" trong tiếng Latin là "culture", nghĩa là sự trồng trọt.
Theo nghĩa gốc, ta có thể hiểu văn hóa là quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng,
giáo dục từ những cá thể sinh học trở thành những con người. Cũng có thể nói
rằng văn hóa là môi trường thứ hai để con người trở thành chính bản thân
mình. Như vậy, văn hóa có mặt trong tất cả các sản phẩm do con người tạo ra,

9
từ công cụ sản xuất đến các vật dụng sinh hoạt, từ tri thức khoa học đến các
tác phẩm nghệ thuật. Văn hóa còn hiện diện trên các quan hệ giữa con người
với con người dù đó là quan hệ kinh tế hay quan hệ tôn giáo, quan hệ pháp
luật hay quan hệ giao tiếp thông thường. Văn hóa còn là bản thân các năng
lực cấu thành nhân cách con người là tri thức, tình cảm, ý chí và mọi năng lực
lao động sáng tạo…
Dưới góc độ xã hội học thì văn hóa là sản phẩm của con người, là
cách quan niệm cuộc sống, tổ chức cuộc sống và sống cuộc sống ấy. Văn hóa
có thể được xem xét như hệ thống "các giá trị, chân lý, các chuẩn mực và mục
tiêu mà con người cùng thống nhất với nhau trong quá trình tương tác và trải
qua thời gian".
Pháp luật là một lĩnh vực hoạt động xã hội, do đó nó luôn đòi hỏi phải
tính đến vai trò và vị trí của nhân tố văn hóa. Trong lĩnh vực pháp luật, trước
hết văn hóa được thể hiện như là phương thức quản lí xã hội vì con người,
đảm bảo cuộc sống hạnh phúc cho con người. Đồng thời, nó cũng thể hiện
như là kết quả hoạt động sáng tạo của con người trong việc xây dựng và thực
thi pháp luật hướng tới chân, thiện, mĩ.

Văn hóa pháp lý là hệ thống các yếu tố vật chất và tinh thần
thuộc hệ thống tác động của pháp luật được thể hiện trong ý chí và
hành vi của con người…Văn hóa pháp lý thể hiện ở trình độ cao của
sự tôn trọng pháp luật, trình độ tri thức pháp luật của nhân dân; thực
trạng có chất lượng của quá trình lập pháp và thực hiện pháp luật,
các phương thức hoạt động pháp luật đặc thù như của các cơ quan
pháp luật, kiểm tra hiến pháp…; kết quả của hoạt động pháp luật
dưới dạng sản phẩm tinh thần và vật chất do con người xây dựng
như luật, hệ thống lập pháp, thực tiễn tư pháp và hành pháp [23].
Mục đích của văn hóa pháp luật nói riêng và văn hóa nói chung là dẫn
dắt con người tới những giá trị cao đẹp, hướng tới chân - thiện - mỹ. Văn hóa

11
giúp tăng cường hiệu quả của pháp luật trong xã hội, đồng thời hiệu quả pháp
luật lại phản ánh trình độ văn hóa pháp luật của xã hội đó. Phát triển văn hóa
pháp luật không những góp phần nâng cao hiệu quả pháp luật mà còn giúp
hoàn thiện, phát triển nhân cách con người.
Theo quan điểm cá nhân, tôi cho rằng văn hóa pháp luật là những
giá trị do con người sáng tạo ra trong lĩnh vực pháp luật, bao gồm: ý thức
pháp luật (tri thức pháp luật và tình cảm pháp luật), hệ thống pháp luật và
hành vi thực hiện, áp dụng pháp luật. Văn hóa pháp luật thể hiện ở ý thức
pháp luật cao, hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, tiến bộ, hành vi thực hiện
pháp luật và áp dụng pháp luật hợp pháp.
Có một số tác giả trong quan niệm của mình sử dụng các thuật ngữ
như văn hóa pháp lý hay văn hóa tư pháp. Theo cá nhân người viết luận văn,
văn hóa tư pháp là những giá trị được biểu hiện thông qua các qui định pháp
luật và hoạt động của riêng hệ thống tư pháp, tức là trong hoạt động (bao gồm
thẩm quyền, giới hạn xét xử, nghĩa vụ) của các cơ quan tư pháp. Đồng thời
cũng là những quan niệm, suy nghĩ, thái độ, hành vi ứng xử của các tầng lớp
xã hội đối với các văn bản pháp luật về tư pháp, hệ thống các cơ quan tư pháp

1.1.3. Chức năng của văn hóa pháp luật
Văn hóa pháp luật thực hiện những chức năng của văn hóa trong một
lĩnh vực đặc biệt - lĩnh vực pháp luật. Vì thế, văn hóa pháp luật cũng mang
những chức năng chung của văn hóa.
- Chức năng nhận thức: đây là chức năng đầu tiên và quan trọng của
văn hóa pháp luật. Văn hóa pháp luật nếu thiếu chức năng nhận thức thì
không thể đề cập đến chức năng nào khác. Chức năng nhận thức một mặt giúp
cho các nhà lập pháp nhận thức đúng các qui luật của đời sống chính trị, kinh
tế, văn hóa, sự cần thiết phải ban hành văn bản pháp luật để điều chỉnh một
quan hệ xã hội… từ đó để xây dựng các qui phạm pháp luật tiến bộ, phù hợp
với thực tiễn. Mặt khác, chức năng nhận thức của văn hóa pháp luật cũng

13
cung cấp những thông tin, kiến thức pháp luật cho các chủ thể, đồng thời bồi
dưỡng niềm tin, tình cảm pháp luật cho các chủ thể pháp luật. Có thể nói văn
hóa pháp luật như một cuốn sách về đời sống pháp luật, nó gắn liền với hoạt
động sáng tạo pháp luật, thực hiện và áp dụng pháp luật của các chủ thể.
- Chức năng định hướng: Văn hóa pháp luật bao gồm những giá trị về
mặt vật chất và tinh thần. Những giá trị đó luôn gắn liền với đời sống xã hội
và là những mục tiêu hướng đến của con người, đó là những giá trị của chân -
thiện - mỹ. Chính điều này đã làm cho văn hóa pháp luật có chức năng định
hướng những tư duy, suy nghĩ và hành vi ứng xử của các chủ thể. Văn hóa
pháp luật chính là những chuẩn mực hướng con người ta đến những suy nghĩ
tích cực và hành vi hợp pháp. Bên cạnh các phương tiện điều chỉnh khác như
đạo đức, phong tục tập quán, văn hóa pháp luật trở thành một công cụ hữu
hiệu giúp giữ gìn trật tự xã hội, xây dựng một cuộc sống tốt đẹp, công bằng,
dân chủ, văn minh. Sự khác biệt trong cơ chế định hướng của văn hóa pháp
luật với các phương tiện điều chỉnh khác là ở chỗ văn hóa pháp luật được bảo
đảm thực hiện bằng pháp luật, pháp luật do nhà nước ban hành nên có quyền
lực cưỡng chế đối tượng phải thi hành. Còn đạo đức hay phong tục tập quán

luật. Trong chức năng phản ánh thực tiễn còn có vấn đề dự báo tình hình và
xu hướng phát triển của pháp luật. Dựa trên cơ sở nhận thức sâu sắc các qui
luật phát triển của đời sống kinh tế xã hội, văn hóa pháp luật đưa ra khả năng
dự liệu các qui phạm để điều chỉnh các quan hệ xã hội sẽ phát sinh.
1.1.4. Các cấp độ của văn hóa pháp luật và việc phân loại văn hóa
pháp luật
1.1.4.1. Các cấp độ của văn hóa pháp luật
Văn hóa pháp luật thể hiện ở những cấp độ khác nhau tùy thuộc vào
những điều kiện khách quan và năng lực nhận thức chủ quan của chủ thể nhận
thức. Các cấp độ đó bao gồm: văn hóa pháp luật thông thường, văn hóa pháp
luật lý luận và văn hóa pháp luật nghề nghiệp.

15
- Văn hóa pháp luật thông thường: được hiểu là mức độ nhận thức
pháp luật còn hạn chế, thông qua sự phản ánh trực tiếp, giản đơn về các hiện
tượng pháp luật. Văn hóa pháp luật thông thường được hình thành dưới sự tác
động trực tiếp của những điều kiện khách quan và kinh nghiệm của cuộc sống
cá nhân, trong đó yếu tố tâm lý xã hội chiếm vị trí quan trọng. Ở cấp độ này,
văn hóa pháp luật nhìn chung mới chỉ biểu hiện ở sự thừa nhận, tiếp thu và xử
sự theo sự thừa nhận và tiếp thu đó. Ví dụ, dưới sự tác động của các hoạt
động tuyên truyền, phổ biến pháp luật hoặc sự tự học tập, mỗi cá nhân có thể
có được sự hiểu biết và nắm được những kiến thức pháp luật nhất định; thông
qua việc tham gia vào các hoạt động như bầu cử, góp ý kiến vào các dự án
luật và trực tiếp tham gia vào các quan hệ pháp luật cụ thể, mỗi người cũng sẽ
có được sự hiểu biết và kinh nghiệm nhất định. Nhưng đó mới chỉ là sự hiểu
biết thông thường, chưa toàn diện và sâu sắc.
- Văn hóa pháp luật lý luận: được hiểu là trình độ nhận thức cao, có
hệ thống và sâu sắc về các vấn đề có tính bản chất của pháp luật và các hiện
tượng pháp luật. Nói cách khác, đó là sự nhận thức có căn cứ khoa học, được
hình thành trong quá trình đào tạo, học tập, nghiên cứu một cách có hệ thống

hay thấp, suy nghĩ, quan niệm về pháp luật tích cực hay tiêu cực từ đó dẫn
đến hành vi hợp pháp hay bất hợp pháp. Văn hóa pháp luật của mỗi cá nhân
chịu sự tác động của các yếu tố khách quan (điều kiện kinh tế - xã hội) và các
yếu tố chủ quan (tư chất bẩm sinh).
- Văn hóa pháp luật nhóm: nhóm ở đây được hiểu là một nhóm người
hay một tầng lớp có những điểm chung tương đồng về điều kiện làm việc và sinh
hoạt, mục đích, nhu cầu và lợi ích… Do vậy về mặt ý chí và nhận thức pháp luật
của nhóm cũng có những điểm chung. Văn hóa pháp luật nhóm do vậy là những
quan điểm, tư tưởng điển hình của nhóm về hệ thống pháp luật. Giáo dục và
nâng cao văn hóa pháp luật nhóm có ý nghĩa rất quan trọng bởi nó đóng vai
trò là cầu nối giữa văn hóa pháp luật cá nhân và văn hóa pháp luật xã hội.

17
- Văn hóa pháp luật xã hội: được hiểu là những giá trị văn hóa pháp
luật đã được thừa nhận rộng rãi và thực thi trên toàn xã hội. Văn hóa pháp luật
xã hội thể hiện tích đặc trưng và khái quát cao.
* Phân loại theo lĩnh vực hoạt động: bao gồm văn hóa lập pháp, văn
hóa hành pháp và văn hóa tư pháp.
- Văn hóa lập pháp: là những giá trị của văn hóa pháp luật trong hoạt
động hoạch định, xây dựng các chính sách pháp luật, văn bản qui phạm pháp
luật. Văn hóa pháp luật trải dài trong suốt quá trình lập pháp, từ việc thu thập
tài liệu, điều tra thực tiễn các quan hệ xã hội cần điều chỉnh, xây dựng dự
thảo, lấy ý kiến của các tầng lớp nhân dân cho đến giai đoạn thông qua và ban
hành văn bản pháp luật.
- Văn hóa hành pháp: là những giá trị văn hóa pháp luật trong lĩnh vực
thực thi pháp luật. Nó bao gồm hoạt động của các cơ quan hành pháp và cả hoạt
động của các cá nhân được nhà nước giao quyền làm việc trong các cơ quan đó.
- Văn hóa tư pháp: giá trị của văn hóa pháp luật được biểu hiện trong
lĩnh vực tư pháp: điều tra, xét xử…
Có một số tác giả cho rằng cần bổ sung hai loại hình văn hóa xét xử và

Theo quan điểm cá nhân của tác giả luận văn, những yếu tố cấu thành
văn hóa pháp luật nên được hiểu theo nghĩa rộng, nghĩa là ngoài các yếu tố
theo nghĩa hẹp thì nên bổ sung yếu tố bản thân hệ thống pháp luật trở thành
bộ phận của nền văn hóa pháp luật quốc gia. Bởi lẽ, hệ thống pháp luật quốc
gia với những văn bản pháp luật được ban hành sẽ thể hiện sự tiến bộ hay
không, tính đúng đắn hay không và tính phù hợp với thực tiễn của đời sống xã
hội hay không. Hệ thống pháp luật chính là hành lang pháp lý, là chuẩn mực
pháp luật để các chủ thể thực hiện những hành vi và ứng xử theo đúng qui
định của pháp luật. Không có hệ thống pháp luật thì không thể biết trình độ

19
hiểu biết pháp luật của các chủ thể đến đâu, họ có tôn trọng các qui định của
pháp luật hay không và họ có hành động theo các chuẩn mực pháp lý hay
không. Nói đúng hơn, hệ thống pháp luật đóng vai trò như một tấm gương
phản chiếu chính ý thức, trình độ và hành vi của các chủ thể, để từ đó cho thấy
văn hóa pháp luật của họ có cao hay không. Vì lẽ đó, nói đến văn hóa pháp luật
không thể không nói đến hệ thống pháp luật, tuy hệ thống pháp luật là một bộ
phận đứng biệt lập với các yếu tố còn lại; có nghĩa là các yếu tố trình độ, ý
thức và hành vi là thuộc về bản thân của các chủ thể còn hệ thống pháp luật
lại thuộc về nhà nước, do các cơ quan có thẩm quyền của nhà nước ban hành.
Văn hóa pháp luật cho thấy một bức tranh tổng thể về các yếu tố cấu
thành. Mỗi yếu tố thể hiện một mặt, một khía cạnh nhất định của văn hóa
pháp luật, nhưng chúng ta chỉ có thể có được cái nhìn toàn diện về văn hóa
pháp luật khi xem xét và phân tích tất cả các yếu tố cũng như mối quan hệ tác
động qua lại giữa các yếu tố đó mà thôi.
1.1.5.1. Ý thức pháp luật (bao gồm tri thức pháp luật và tình cảm
pháp luật)
Ý thức pháp luật là một bộ phận của ý thức, thuộc lĩnh vực đời sống
tinh thần của con người. Có thể nói:
Ý thức pháp luật là tổng thể những tư tưởng, học thuyết,

đều có tác động chi phối đến ý thức pháp luật. Ý thức pháp luật khác với các
dạng ý thức khác ở chỗ: đối tượng, lĩnh vực tư duy của nó là pháp luật.
 Đặc điểm của ý thức pháp luật
- Với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, ý thức pháp luật chịu sự
quy định của tồn tại xã hội, nhưng nó cũng có tính độc lập tương đối
Thứ nhất, ý thức pháp luật thường lạc hậu hơn so với tồn tại xã hội:
Trong mỗi xã hội theo từng thời kỳ lịch sử phát triển khác nhau thì tồn tại
xã hội bao giờ cũng tương ứng với ý thức xã hội nhất định. Tuy nhiên, xã hội luôn
phát triển không ngừng và sự tương xứng này không phải lúc nào cũng hài hòa

21
và cân xứng về mọi phương diện lý luận cũng như thực tiễn. Bởi vì, xuất phát
từ những yếu tố tâm lý pháp luật mà những thói quen, truyền thống, phong
tục, tập quán luôn đóng vai trò quan trọng trong tiềm thức của mỗi con người.
Do vậy, trên thực tế theo sự biến đổi của xã hội cho dù tồn tại xã hội
cũ mất đi nhưng ý thức xã hội trong đó có ý thức pháp luật do nó sinh ra vẫn
tồn tại dai dẳng trong xã hội. Ví dụ, biểu hiện của tâm lý pháp luật của thời kỳ
phong kiến như sự tồn tại của lối làm việc mang tính chất quan liêu, hách dịch
trong công tác quản lý hành chính nhà nước đã ăn sâu vào tiềm thức và trở
thành một thói quen dai dẳng. Mặc dù chúng ta đã thực hiện cơ chế quản lý
hành chính "một cửa" nhưng dường như tâm lý pháp luật của một số bộ phận
cán bộ vẫn bị ảnh hưởng của nếp nghĩ và cách làm cũ, vì nhiều nguyên nhân
chủ quan và khách quan nó vẫn đang tồn tại trong xã hội gây ảnh hưởng tiêu
cực đến hoạt động quản lý xã hội của Nhà nước.
Thứ hai, ý thức pháp luật mặc dù lệ thuộc rất nhiều vào tồn tại xã hội
và chịu sự quy định của nó nhưng vẫn có tính độc lập tương đối:
Trong một số điều kiện nhất định ý thức pháp luật vẫn có tính vượt
trội hơn so với sự phát triển của tồn tại xã hội, đặc biệt là tư tưởng pháp luật
khoa học. Điều này có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự phát triển kinh
tế - xã hội của các quốc gia. Bởi lẽ, nếu như đó là những tư tưởng của các nhà


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status