Phát triển năng lực giải bài tập vật lý chương Động lực học chất điểm cho học sinh khối 10 ban cơ bản trường Trung học phổ thông Ngô Thì Nhậm - Pdf 25


1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
 0 
HOÀNG THỊ TÂM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI BÀI TẬP VẬT LÝ CHƢƠNG
“ĐỘNG LỰC HỌC CHẤT ĐIỂM” CHO HỌC SINH KHỐI 10
TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NGÔ THÌ NHẬM
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƢ PHẠM VẬT LÝ Chuyên ngành: Lý luận và phƣơng pháp dạy học
(bộ môn Vật lý)
Mã số: 60.14.10 Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS. TS. ĐẶNG XUÂN HẢI
2. PGS. TS. ĐINH THỊ KIM THOA


Học viên

Hoàng Thị Tâm

3
MỤC LỤC

Trang
MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
1
2. Mục đích nghiên cứu
2
3. Đối tượng nghiên cứu
3
4. Khách thể nghiên cứu
3
5. Giả thuyết khoa học
3
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
3
7. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
3
8. Phạm vi nghiên cứu
5
9. Ý nghĩa của luận văn
5
10. Cấu trúc luận văn
5

31
2.2. Biểu hiện năng lực giải bài tập và tiêu chí đánh giá năng lực giải
bài tập chương “Động lực học chất điểm”của học sinh

33

4
2.2.1. Biểu hiện năng lực giải bài tập chương “Động lực học chất
điểm” của học sinh

33
2.2.2. Tiêu chí đánh giá năng lực giải bài tập chương “Động lực học
chất điểm” của học sinh

33
2.3. Thực trạng kết quả học tập của chương “Động lực học chất
điểm” với kết quả các chương học khác của học sinh khối 10 trường
THPT Ngô Thì Nhậm qua các năm học 34
2.4. Thực trạng về năng lực giải bài tập của học sinh khi học chương
"Động lực học chất điểm" - vật lý 10 ban cơ bản.

37
2.4.1. Thực trạng hứng thú giải bài tập chương "Động lực học chất
điểm" vật lý 10 ban cơ bản của học sinh

37
2.4.2. Thực trạng năng lực tiếp thu kiến thức lý thuyết và vận dụng

79
3.3. Các biện pháp phát triển năng lực giải bài tập vật lý chương
“Động lực học chất điểm” cho học sinh khối 10 trường THPT Ngô
Thì Nhậm 80
3.3.1. Tạo dựng cho học sinh động cơ, hứng thú trong việc giải bài
tập vật lý nói chung và chương “Động lực học chất điểm” nói riêng

81

5
3.3.2. Phát triển năng lực giải bài tập của học sinh thông qua con
đường dạy học

84
3.3.3. Phát triển cho học sinh năng lực sáng tạo, năng lực khái quát
vấn đề năng lực phân dạng bài tập khi giải bài tập chương “Động lực
học chất điểm” 102
3.3.4. Xây dư
̣
ng và sử dụng hệ thống bài tập vật lý chương “Động
lực học chất điểm” theo hướng phát triển năng gia
̉
i ba
̀

được, Bộ chính trị cũng chỉ ra một số điểm tồn tại trong đó có chương trình,
quy trình, phương pháp giáo dục chậm đổi mới, chậm hiện đại hoá, công tác
quản lý giáo dục còn nhiều yếu kém, tư duy giáo dục chậm đổi mới, chưa theo
kịp yêu cầu đổi mới, phát triển đất nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Đây
chính là một trong những vấn đề nổi cộm mà hệ thống nhà trường ở các cấp
học đã và đang từng bước tháo gỡ. Phải nói rằng chất lượng, hiệu quả giáo
dục phụ thuộc vào nhiều thành tố, nhưng có lẽ mấu chốt của vấn đề cần phải
có bước đột phá vẫn là phương pháp dạy và học. Dường như trong tất cả các
hội nghị bàn về giáo dục và đào tạo, các yếu tố về nội dung, chương trình …
thì vấn đề nổi lên thu hút nhiều ý kiến tham gia của các nhà khoa học, các
chuyên gia giáo dục, các cấp học đều xoay quanh phương pháp dạy và học.
Đứng trước sự phát triển của kinh tế, xã hội đã đặt ra đòi hỏi giáo dục
Việt Nam cần có định hướng phù hợp. Mục tiêu của giáo dục Việt Nam:
“Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện, hình thành và bồi dưỡng
nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân đáp ứng nhu cầu của sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao
góp phần xây dựng thế hệ con người Việt Nam mới hiện đại, có bản lĩnh, tự
chủ, trung thực, năng động, có hoài bão, có ý trí vươn lên , biết hợp tác, cạnh
tranh lành mạnh, biết lập thân, lập nghiệp, biết làm giàu cho đất nước trong cơ
chế thị trường…”. Đặc biệt ngày này, trước những thách thức và yêu cầu của
thời đại mới – thời đại của sự phát triển chủ yếu dựa vào nguồn lực thông tin
và tri thức, với xu thế toàn cầu hóa, lôi cuốn sự hội nhập của các quốc gia, các
nước trêm thế giới ở mức độ khác nhau đều có những thay đổi có tính cách
mạng nền giáo dục và đào tạo, chuyển từ đào tạo kiến thức và kĩ năng là
chính sang chủ yếu là đào tạo năng lực. Trong đó, đặc biệt nhấn mạnh tư duy

2
sáng tạo, gắn liền với năng lực giải quyết vấn đề có hiệu quả. Đó là xu thế tất
yếu và cũng là đòi hỏi bức thiết đặt ra cho chúng ta phải thường xuyên chú
trọng đến yếu tố đổi mới phương pháp dạy học. Chính vì thế mà Bộ chính trị

của học sinh khối 10 ban cơ bản trường THPT Ngô Thì Nhậm.
4.Khách thể nghiên cứu
Học sinh khối 10 trường THPT Ngô Thì Nhậm.
5.Giả thuyết khoa học
- Năng lực giải bài tập vật lý chương “Động lực học chất điểm” của học
sinh phát triển không đồng đều.
- Một số học sinh tỏ ra nắm vững lý thuyết nhưng chưa phát huy được
năng lực giải bài tập khi học chương này.
- Kết quả học tập của một bộ phận học sinh khi học chương này được phát
huy tốt nhờ phát triển được năng lực giải bài tập.
6.Nhiệm vụ nghiên cứu
- Khái quát những vấn đề lý luận về năng lực và phát triển năng lực giải
bài tập vật lý khi học chương “Động lực học chất điểm” của học sinh khối 10
ban cơ bản.
- Làm rõ thực trạng năng lực giải bài tập của học sinh khi học chương
“Động lực học chất điểm”, những hạn chế liên quan đến giải bài tập.
- Đề xuất các giải pháp phát triển năng lực giải bài tập cho học sinh
khối 10 ban cơ bản khi học chương “Động lực học chất điểm”
- Xây dựng và hướng dẫn sử dụng hệ thống bài tập chương “Động lực
học chất điểm” theo hướng phát triển năng lực giải bài tập cho học sinh.
7.Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu được dựa trên những cơ sở lý luận và phương pháp
luận có tính hệ thống theo quan điểm giáo dục – đào tạo của Đảng và nhà
nước ta và những vấn đề nghiên cứu được tổng kết mang tính lý luận, tính

4
khoa học, thực tiễn trong giáo dục – đào tạo. Đồng thời sử dụng các phương
pháp truyền thống như: Nghiên cứu văn bản, tài liệu, kết quả học tập, điều tra
bằng bảng hỏi, phỏng vấn sâu và toạ đàm; phân tích thực tiễn, quan sát các
hoạt động học tập; trắc nghiệm; thực nghiệm kiểm chứng và thống kê toán

Nghiên cứu phát triển năng lực giải bài tập vật lý chương “Động lực
học chất điểm” đối với học sinh khối 10 ban cơ bản THPT là vấn đề hoàn
toàn mới. Do đó, sự thành công của luận văn có ý nghĩa tích cực góp phần
nâng cao chất lượng học tập cho học sinh khối 10 THPT nói chung và có cơ
sở để phát triển năng lực giải bài tập khi học chương này của học sinh trường
THPT Ngô Thì Nhậm nói riêng.
10. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, nội
dung luận văn được trình bày trong 3 chương
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của đề tài
Chƣơng 2: Thực trạng năng lực giải bài tập vật lý chương “Động lực
học chất điểm” – của học sinh khối 10 ban cơ bản trường THPT Ngô Thì
Nhậm.
Chƣơng 3: Các biện pháp phát triển năng lực giải bài tập vật lý chương
“Động lực học chất điểm” cho học sinh khối 10 trường THPT Ngô Thì Nhậm

6
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
1.1.1. Các nghiên cứu ngoài nước về vấn đề năng lực và phát triển năng lực
1.1.1.1. Quan niệm của các triết gia Tư sản về vấn đề năng lực và phát triển
năng lực
Khi bàn về vấn đề năng lực, triết gia Tư sản có nhiều hướng nghiên cứu
khác nhau:
Hướng sinh vật hoá phát triển năng lực của con người được khởi xướng
bởi nhà khoa học người Anh F.Galtol (1822-1911). Trong tác phẩm “Sự di

hình thành và phát triển năng lực của con người.
Hướng nghiên cứu nổi bật thứ hai là hướng xã hội hoá sự phát triển
năng lực của con người. Đại biểu cho hướng nghiên cứu này phải kể đến các
nhà tâm lý học hành vi như nhà tâm lý học người Mỹ là B.F.Skiner (1904-
1990) và E.Tolhan (1886-1959)… Các nhà tâm lý học theo hướng này khẳng
định: Sự hình thành và phát triển năng lực của con người hoàn toàn do các
yếu tố xã hội thuộc môi trường bên ngoài quyết định, phủ nhận các yếu tố xã
hội “bên trong”, nhân tố sinh vật của con người. Với quan niệm con người là
“cỗ máy sinh học”, hành vi phản ứng trước các kích thích của môi trường xã
hội, J.Watson đã hoàn toàn phủ định tính tích cực của cá nhân, vai trò nhân tố
sinh vật của con người trong sự phát triển năng lực. Theo ông, phát triển năng
lực của con người hoàn toàn áp đặt bởi môi trường xã hội.
Sai lầm lớn nhất của thuyết này là tuyệt đối hoá môi trường xã hội,
đồng nhất các yếu tố môi trường xã hội, không thấy được vai trò của các yếu
tố sinh vật và yếu tố xã hội bên trong con người.
Như vậy, các triết gia tư sản đã tuyệt đối hoá yếu tố này, phủ nhận yếu tố kia
hoặc ngược lại. Do đó, đã không làm rõ được bản chất vấn đề phát triển năng
lực của con người.

8
1.1.1.2. Quan niệm của các nhà khoa học (Liên Xô) trước đây bàn về năng
lực và phát triển năng lực
Đứng trên quan điểm duy vật lịch sử với phương pháp tiếp cận biện
chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin các nhà tâm lý học Xô Viết đã giải quyết
đúng đắn khoa học về năng lực và sự hình thành, phát triển năng lực. Tiểu
biểu như B.M.Chieplov (1896-1965), X.L.Rubistem (1889-1960)
A.W.Leonchiev (1903-1979) hay B.G.Ananhiev (1907-1972)…. Các nhà tâm
lý học Xô Viết đã đánh giá rất cao vai trò của các tố chất sinh học trong sự
phát triển năng lực của con người. Đây là tiền đề vật chất không thể thiếu
được trong sự hình thành và phát triển năng lực của con người. B.M.Chieplov

phát triển”. [1, tr 141].
Đảng ta đã xác định giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ chi
phối mạnh mẽ tới sự phát triển năng lực. Vì vậy, giáo dục và đào tạo được coi
là quốc sách hàng đầu, là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững,
“Không có giáo dục và đào tạo chúng ta không có đủ tri thức, năng lực làm
chủ tự nhiện, xã hội và bản thân”. Điều này cho thấy vai trò của giáo dục rất
quan trọng trong sự hình thành và phát triển năng lực.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ: “Năng lực của con người không
phải hoàn toàn do tự nhiên mà có mà một phần lớn do các công tác, do luyện
tập mà có”. [11, tr 274].
Các nhà tâm lý học Việt Nam cũng tập trung nghiên cứu phát triển
năng lực của con người trong các hoạt động khác nhau. Công trình “Nghiên
cứu con người và nguồn nhân lực đi vào công nghiệp hoá - hiện đại hoá” của
GS.VS.TSKH Phạm Minh Hạc hay tác phẩm “Năng lực sư phạm của người
giáo viên” của GS.TS.Phạm Tất Dong hay “Tâm lý học phát triển của
TS.Nguyễn Thị Nho… đã chỉ ra những điều kiện cho sự phát triển tâm lý
trong đó có phát triển năng lực là phải có các yếu tố: thể chất, bẩm sinh, di
truyền, môi trường xã hội, hoạt động của chủ thể. Các tác giả cũng nên vai trò

10
của các yếu tố trong sự phát triển năng lực: “Yếu tố bẩm sinh, di truyền là tiền
đề là điều kiện tự nhiên cho sự phát triển tâm lý, môi trường xã hội là điều
kiện quan trọng cho sự phát triển tâm lý và và hoạt động của chủ thể có ý
nghĩa quyết định đối với sự phát triển tâm lý”. [12, tr 5,24,25].
Trên cơ sở lí luận đúng đắn về năng lực và sự hình thành, phát triển
năng lực, trong quá trình dạy học cũng có nhiều công trình đi sâu vào nghiên
cứu nhằm phát triển năng lực cho người học như công trình nghiên cứu của
Nguyễn Thị Quốc Minh - giảng viên Đại học Đồng Tháp với công trình “Xây
dựng hệ thống câu hỏi nhằm hình thành và phát triển năng lực nhận thức,
đánh giá và thưởng thức tác phẩm văn chương của học sinh THPT”, thạc sĩ

Trong thực tế, người nào cũng có thể tiếp thu một số kiến thức, kỹ năng, kỹ
xảo tối thiểu là cái làm cho người ta có thể dung khi hoạt động. Song, trong
những điều kiện như nhau thì những người khác nhau có khả năng tiếp thu
kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo ở mức độ, nhịp độ khác nhau. Ví dụ trong hoạt
động tiếp thu kiến thức học sinh này có thể tiếp thu nhanh, học sinh khác lại
tiếp thu chậm. Hay cùng một dạng bài tập, cùng điều kiện học tập như nhau,
học sinh này có thể đật trình độ giải một cách điêu luyện, thành thạo nhưng
học sinh khác lại ở mức độ bình thường….
Có nhiều công trình nghiên cứu với các góc độ tiếp cận khác nhau mà
có các định nghĩa khác nhau về năng lực.
Dưới góc độ xã hội, năng lực là tổng hợp những phẩm chất cá nhân đáp
ứng những yêu cầu của hoạt động nhất định đảm bảo cho hoạt động đó nhanh
chóng thành thạo và đạt hiệu quả cao.
Dưới góc độ triết học, năng lực là tổng hợp những đặc điểm cá nhân,
những khả năng chủ quan để thực hiện có hiệu quả một dạng hoạt động nhất
định của chủ thể. Năng lực vừa là cái tự nhiên vốn có mang tính di truyền
giữa các thế hệ vừa là sản phẩm của lịch sử. Con người trước hết là một thực
thể tự nhiên, là sản phẩm tiến hoá của giới tự nhiên. Đồng thời là một thực thể

12
xã hội, được quy định bởi các quan hệ xã hội trong quá trình phát triển. Mặt
xã hội và mặt tự nhiên thống nhất chặt chẽ với nhau tạo nên con người hiện
thực. Năng lực của con người được hình thành và phát triển trên chính sự
thống nhất biện chứng của hai mặt này. Năng lực được hình thành trên cơ sở
cấu trúc sinh học có thể di truyền cho thế hệ sau thông qua gen di truyền là cái
không thể thiếu nhưng năng lực của con người chủ yếu là sản phẩm của lịch
sử, của điều kiện môi trường xã hội, của hoạt động thực tiễn.
Trong khoa học tâm lý, người ta coi năng lực là những thuộc tính tâm
lý riêng của cá nhân, nhờ những thuộc tính này mà con người hoàn thành tốt
một loại hoạt động nào đó hoặc có thể vượt qua những khó khăn mà với nhiều

những đòi hỏi của một hoạt động nhất định nào đó và làm cho hoạt động đó
đạt kết quả.
Năng lực chỉ tồn tại trong hoạt động, gắn liền với hoạt động và chỉ
được bộc lộ thông qua hoạt động. Khi con người chưa hoạt động thì năng lực
tồn tại dưới dạng tiềm ẩn. Tuy nhiên, năng lực con người không phải sinh ra
đã có mà năng lực được hình thành và phát triển trong quấ trình hoạt động và
giao tiếp. Kết quả của hoạt động là thước đo đánh giá năng lực của cá nhân.
Các mức độ của năng lực:
Phân chia mức độ của năng lực, có các mức độ sau:
- Năng lực: là mức độ nhất định của khả năng con người, biểu thị khả
năng hoàn thành có kết quả một hoạt động nào đó.
- Tài năng là mức độ năng lực cao hơn, biểu thị sự hoàn thành sáng tạo
một hoạt động nào đó.
- Thiên tài: là mức độ cao nhất của năng lực biểu thị ở mức kiệt xuất,
hoàn chỉnh nhất của những vĩ nhân trong lịch sử nhân loại.
- Năng khiếu: là sự xuất hiện sớm những năng lực ở mức độ cao. Từ
năng khiếu có thể phát triển thành thiên tài, cũng có thể bị thui chột hay

14
không phát triển như con người mong muốn. Năng khiếu là năng lực đã
hướng vào hoạt động cụ thể và khi thực hiện hoạt động đó thì đạt kết quả
khác thường so với lứa tuổi.
1.2.1.3. Cấu trúc của năng lực
Năng lực là tổng hợp các thuộc tính tâm lý của con người gồm năng lực
nhận thức và năng lực hành động. Năng lực nhận thức là năng lực tiếp thu,
nắm bắt các vấn đề lý luận một cách năng động, sáng tạo; nhạy bén với các
vấn đề thực tiễn mới nảy sinh; có khả năng phân tích và tổng hợp thực tiễn
cũng như có khả năng đề xuất các vấn đề có tính định hướng. Năng lực hành
động là khả năng lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện có hiệu quả các hoạt động
thực tiễn. Năng lực hành động bao gồm các thao tác thực hiện hoạt động,

hoạt động thực tiễn cần dựa vào nhiều tiêu chí khác nhau và gắn với hoàn
cảnh cụ thể khi thực hiện hành động. Một trong các tiêu chí đánh giá năng lực
của cá nhân trong một hoạt động thực tiễn là chủ yếu dựa vào kết quả công
việc đồng thời phải xét đến các yếu tố khác như: phương thức tiến hành công
việc, tính độc lập của cá nhân, tính độc đáo, tính sáng tạo, xử lý các tình
huống đột ngột khách quan.
1.2.1.5. Phân loại năng lực
Dựa vào các tiêu chí khác nhau ta có thể phân loại năng lực thành các
loại năng lựckhác nhau:
- Dựa trên mức độ chuyên biệt của năng lực, chia làm hai loại gồm:
+ Năng lực chung: là những năng lực cần thiết cho nhiều lĩnh vực hoạt
động khác nhau. Ví dụ như các thể lực, trí tuệ…
+ Năng lực riêng (năng lực chuyên biệt, năng lực chuyên môn): là sự thể
hiện độc đáo các phẩm chất chuyên biệt, có tính chuyên môn hoá cao nhằm
đáp ứng yêu cầu của một lĩnh vực hoạt động chuyên biệt với hiệu quả cao.

16
Hai loại năng lực này bổ sung lẫn nhau, hỗ trợ lẫn nhau.
- Dựa vào nguồn gốc phát sinh, phân chia năng lực thành hai loại:
+ Năng lực tự nhiên: là loại năng lực có nguồn gốc sinh vật và quan hệ
trực tiếp với tư chất của con người. Năng lực này được di truyền qua gen. Tuy
nhiên năng lực này có thể bị tác động và biến đổi của môi trường giáo dục.
+ Năng lực xã hội: là loại năng lực được hình thành và phát triển trong
quá trình sống và hoạt động của mỗi cá nhân. Nhờ năng lực này mà ta có thể
hiểu và cải tạo được thế giới.
-Dựa vào mức độ phát triển của năng lực, có hai loại:
+ Năng lực học tập, nghiên cứu: là năng lực liên quan đến việc lĩnh hội
tri thức, kĩ năng, kĩ xảo… đã có sẵn trong nền văn hoá xã hội. Các năng lực
này có thể gồn năng lực chú ý, năng lực phân tích, năng lực tổng hợp, năng
lực khái quát, so sánh…

1.2.2. Quan niệm về phát triển
Theo quan điểm của triết học Mác – Lênin, phát triển là một kiểu vận
động đặc biệt theo xu hướng tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức
tạp của các sự vật, hiện tượng. Đó là quá trình khách quan, là sự phát triển mà
nguồn gốc, động lực của nó là sự đấu tranh giải quyết giữa các mặt đối lập
bên trong của sự vật, hiện tượng.
Theo tôi, phát triển là mở mang, làm cho chiều hướng tăng từ nhỏ
thành to, từ yếu thành mạnh, từ ít lên nhiều, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến
phức tạp của các sự vật, hiện tượng.
Nguyên lý phát triển thừa nhận mọi sự vật đều vận động không ngừng,
không ngừng chuyển hoá lẫn nhau để tạo ra cái mới chưa hề có. Cái mới này
là kết quả phát triển tất yếu của quá khứ, là sự kế thừa quá khứ theo phương

18
thức phủ định hay nói cách khác, cái mới không nảy sinh từ bản thân nó mà
nảy sinh nhờ phủ định cái trước đó rồi tự hoàn thiện mình trên cơ sở của
chính mình. Một cái mới đồng thời cũng là một phương thức vận động mới.
Như vậy nguyên lý phát triển chi phối toàn bộ quá trình phát triển và trong
từng giai đoạn phát triển.
1.2.3. Bài tập vật lý và phát triển năng lực giải bài tập vật lý
1.2.3.1. Khái niệm bài tập vật lý và giải bài tập vật lý
Bài tập vật lý là những tình huống chứa đựng những vấn đề vật lý đòi hỏi
người giải phải vận dụng kiến thức vật lý hay kinh nghiệm vốn có và những
kĩ năng , kĩ xảo cần thiết để giải quyết vấn đề. Giải bài tập suy cho cùng là
giải quyết vấn đề nảy sinh trong bài tập bằng các kiến thức và kinh nghiệm
của bản thân. GV đưa ra tình huống có vấn đề có thể là câu hỏi, bài toán, thí
nghiệm, các hiện tượng trong tự nhiên dưới hình thức kiểm tra bài cũ hoặc
là GV thông báo. GV bằng phương pháp đàm thoại yêu cầu HS trình bày lại
những kiến thức đã học để làm cơ sở cho HS phát hiện vấn đề mới và đề xuất
giả thuyết giải quyết vấn đề đó. Đó chính là quá trình giải bài tập của học sinh

ưu nhất.
- Thực thi giải pháp đã lựa chọn:
Khi đã hiểu được vấn đề và biết cách giải quyết nó, chúng ta bắt đầu thực
hiện giải quyết vấn đề. Khi thực hiện giải quyết vấn đề cần chú ý đến thời
gian thực hiện, hiệu quả của công việc, tính ngắn gọn, khoa học, xúc tích và
chính xác của các bước giải.

20
- Đánh giá toàn bộ quá trình giải bài tập:
Sau khi đã đưa vào thực hiện một giải pháp, chúng ta cần kiểm tra xem
cách giải quyết đó đã tối ưu chưa, có những vấn đề gì cần rút kinh nghiệm,
cần phải ghi nhớ cho những lần giải bài tập sau.
Bước đánh giá toàn bộ quá trình giải quyết bài tập là khâu rất quan trọng
nhưng nhiều học sinh lại bỏ qua.
1.2.3.2. Cấu trúc năng lực giải bài tập
Có nhiều cách phân chia cấu trúc năng lực giải bài tập. Trong giới hạn
đề tài nghiên cứu của mình, chúng tôi đưa ra cấu trúc năng lực gồm:
- Nhóm năng lực môn học: Năng lực nhận thức và năng lực vận dụng các
kiến thức cơ bản vào giải quyết các tình huống, bài tập cụ thể.
- Nhóm năng lực phương pháp:
+ Năng lực tìm hiểu đề bài:
Phân biệt được đâu là ẩn số.
Dùng kí thiệu để tóm tắt đề bài. Nếu cần thiết phải vẽ hình minh hoạ diễn đạt
điều kiện ban đầu của bài toán.
+ Năng lực phân tích hiện tượng: Những sữ kiện đã cho của bài toán liên
quan đến những khái niệm, định luật nào trong vật lý. Xác định các giai đoạn,
diến biến của hiện tượng và các định luật chi phối.
+ Năng lực xây dựng lập luận: Sử dụng phương pháp phân tích và phương
pháp tổng hợp. Phương pháp phân tích để tìm ra mối liên hệ giữa ẩn số và đại
lượn nào đó của một định luật đã xác định, diễn đạt bằng công thức, tiếp tục


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status