ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
CHU NỮ NGỌC PHỤNG PHÂN CẤP QUẢN LÝ ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP
NƢỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. VŨ ANH DŨNG
Mã số 60 31 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. VŨ ANH DŨNG Hà Nội - 2012 MỤC LỤC
Trang
Danh mục các ký hiệu viết tắt
i
Danh mục các biểu đồ
ii
Danh mục các hình vẽ
iii
LỜI MỞ ĐẦU
1
Chƣơng 3: Một số giải pháp cải thiện việc phân cấp quản lí FDI tại Việt Nam
76
3.1. Định hướng cải thiện phân cấp quản lý FDI thời gian tới
76
3.2. Các nhóm giải pháp cần thực hiện
77
3.2.1. Các giải pháp đối với các cơ quan quản lí nhà nước ở Trung ương
77
3.2.2. Các giải pháp đối với các cơ quan quản lí nhà nước ở địa phương
82
KẾT LUẬN …………………………………………………………………
84
TÀI LIỆU THAM KHẢO ……………………………………………………
PHỤ LỤC ……………………………………………………………………
Tổ chức Thương mại thế giới
Tên viết tắt tiếng Việt
Nghĩa đầy đủ tiếng Việt
CN
Công nghiệp
CNH-HĐH
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
ĐTNN
Đầu tư nước ngoài
ĐTTTNN
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
KCN-KCX
Khu công nghiệp, khu chế xuất
M&A
Mua lại và sáp nhập
Nxb
Nhà xuất bản
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ HÌNH VẼ
Số trang
Bảng 2.1
Cơ cấu vốn FDI theo ngành giai đoạn 1988 – 1993
56
nhân lực, thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu và hội nhập kinh tế quốc tế [16].
Đạt được những thành tựu trên là nhờ môi trường đầu tư-kinh doanh nước ta
từng bước được cải thiện, tạo sự hấp dẫn đối với đầu tư trong nước và đầu tư nước
ngoài; hệ thống luật pháp chính sách về ĐTNN ngày càng được bổ sung, hoàn
thiện, phù hợp với thông lệ quốc tế, tạo khuôn khổ pháp lý đầy đủ, rõ ràng và thông
thoáng hơn. Các yếu tố trên là những tiền đề và động lực góp phần đưa lại kết quả
đáng khích lệ của hoạt động ĐTNN tại Việt Nam, xác định vai trò quan trọng của
khu vực kinh tế có vốn ĐTNN trong sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hoá đất
nước ta. [17]
Luật Đầu tư mới được ban hành và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2006
cùng Nghị định 108/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 đã tạo ra một bước đột phá mới
trong thủ tục hành chính đối với hoạt động ĐTNN. Theo đó, nhà đầu tư nước ngoài
được đối xử bình đẳng với các nhà đầu tư trong nước và công tác quản lý nhà nước
đối với hoạt động ĐTNN được phân cấp toàn diện và triệt để cho các địa phương.
Bên cạnh những thuận lợi, công tác quản lý ĐTNN trong bối cảnh phân cấp đang
xuất hiện những bất cập, đặc biệt là khi hệ thống pháp luật chuyên ngành chưa theo
kịp với tiến độ phân cấp hoạt động ĐTNN. Điều này dẫn tới sự cần thiết phải
nghiên cứu các biện pháp, công cụ và mô hình mới cho công tác quản lý hoạt động
ĐTNN. [17]
Khu vực kinh tế có vốn ĐTNN là một trong những khu vực kinh tế đầu tiên
triển khai chủ trương phân cấp quản lý để đẩy mạnh cải cách hành chính nhà nước
trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa [16].
Chủ trương phân cấp quản lý hoạt động ĐTNN đã được thực tế kiểm nghiệm là
đúng đắn, thực sự góp phần nâng cao hiệu lực quản lý của chính quyền địa phương,
phát huy sự linh hoạt, tính sáng tạo của mỗi địa phương trong thu hút ĐTNN, tạo
điều kiện cho thành phần kinh tế này đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế -
xã hội trên địa bàn [16].
Vì vậy, yêu cầu và nhiệm vụ mới đặt ra cho công tác thu hút ĐTNN của Việt
Nam trong thời gian tới là nâng cao công tác quản lý nhà nước đối với ĐTNN trong
bối cảnh phân cấp toàn diện và triệt để theo Luật Đầu tư và Nghị định
Tác giả nghiên cứu về cơ sở pháp lý và cơ hội thu hút FDI vào Việt Nam. Tác giả
đã chỉ ra điểm yếu cần khắc phục trong lĩnh vực này là chưa thu hút được nhiều tập
đoàn đa quốc gia, các công ty lớn nước ngoài. Phần lớn các doanh nghiệp có quy
mô còn quá nhỏ, năng lực cạnh tranh thấp, yếu về vốn, kinh nghiệm, nhân lực, quản
lý, tiếp thị
- “Đầu tư trực tiếp nước ngoài với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt
Nam giai đoạn 1988-2005” của tác giả Đỗ Thị Thủy (Luận án Tiến sĩ kinh tế,
2011). Tác giả đã phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến FDI vào Việt Nam, nhất là
giai đoạn 1997-2000 do ảnh hưởng khủng khoảng kinh tế trong khu vực làm giảm
sút FDI vào Việt Nam giai đoạn này. Trên cơ sở đánh giá và phân tích các nguyên
nhân, tác giả đã đưa ra một số giải pháp nhằm thu hút Fdi vào Việt Nam nói chung
đến năm 2005 phục vụ công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Luận án
chưa đề cập đến việc phân cấp quản lý FDI ở Việt Nam.
- “Thực trạng của chính sách thuế đối với khu vực FDI tại Việt Nam”, luận án của
Trần Ngọc Hoàng (2004) đã nêu được những vấn đề cơ bản về thuế và vai trò của
thuế trong việc thu hút vốn Đầu tư FDI; thực trạng của chính sách thuế đối với khu
vực FDI tại Việt Nam nhưng năm vừa qua (1988 - 2002) và đưa ra những giải pháp
hệ thống chính sách này.
- “Thu hút FDI vào khu kinh tế Dung Quất tỉnh Quảng Ngãi”, luận văn thạc sĩ của
Nguyễn Thị Diễm Phương, Đại học Đà Nẵng, 2010. Tác giả đã nghiên cứu và liệt
kê tình hình thu hút FDI vào khu kinh tế Dung Quất qua các thời kỳ và đưa ra một
số gợi ý về việc nâng cao thu hút nguồn FDI vào khu kinh tế Dung Quất.
- Đề tài KH-CN cấp nhà nước: Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài - vị trí,
vai trò của nó trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam, GS.TS
Nguyễn Bích Đạt, Hà Nội(2004). Các tác giả đã tóm lược tính cần thiết phải điều
chỉnh chính sách thuế, thuế quan và trợ cấp sau khi gia nhập WTO, phân tích một số
bài học rút ra từ kinh nghiệm quốc tế, điểm qua thành tựu và một số hạn chế của
chính sách thuế, thuế quan và trợ cấp của Việt Nam theo các quan điểm hiệu quả
kinh tế và tính tương thích của chính sách hiện hành so với các quy định của WTO.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài này, tác giả đã đọc và tham khảo thêm nhiều
khu vực có mật độ tập trung FDI lớn.
5. Câu hỏi nghiên cứu
1. Đầu tư trực tiếp nước ngoài là gì? Phân cấp quản lý nhà nước trong đầu tư
nước ngoài là gì? Bản chất và tầm quan trọng của phân cấp quản lý FDI?
2. Tác động của phân cấp đối với quản lý nhà nước?
3. Phân cấp quản lí FDI có ảnh hưởng thế nào đến các Khu công nghiệp và chế
xuất, kinh tế ở Việt Nam?
4. Thực trạng phân cấp quản lý FDI ở Việt Nam?
5. Thực trạng thu hút FDI qua các thời kỳ phân cấp? Nguyên nhân thành công
và hạn chế cần khắc phục là gì?
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
Tài liệu: Chủ yếu là dữ liệu thứ cấp, được thu thập qua nguồn tài liệu đã
được tổng hợp của Bộ kế hoạch đầu tư; ngoài ra tác giả còn thu thập và tham khảo
thêm các bài nghiên cứu, các bài báo, …của các tác giả và các báo có uy tín (tất cả
được liệt kê trong phần tài liệu tham khảo). Bên cạnh đó, để so sánh, đối chiếu với
kinh nghiệm quốc tế, tác giả cũng đã thu thập những dữ liệu về phân cấp quản lý
ĐTNN tại một số quốc gia châu Âu và Trung Quốc (nguồn: Bộ KHĐT, Tổng cục
thống kê).
Với đề tài này nghiên cứu của tác giả chủ yếu để làm luận cứ xây dựng chính sách
cho các nghiên cứu tiếp theo của tác giả (nếu có điều kiện) theo phương pháp quy
nạp. Phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử được sử dụng làm
phương pháp luận nghiên cứu cơ bản. Luận văn đã phối hợp sử dụng một số
phương pháp nghiên cứu chủ yếu trong lĩnh vực kinh tế như: thu thập tài liệu, thống
kê mô tả, so sánh, đối chiếu, phân tích và tổng hợp, mô hình hóa, diễn giải và quy
nạp…
7. Dự kiến đóng góp mới của luận văn
- Đóng góp về mặt khoa học của luận văn là góp phần hệ thống hoá và phát
triển những cơ sở lý luận và thực tiễn về phân cấp quản lý đầu tư trực tiếp
nước ngoài thông qua một số lý thuyết cơ bản về FDI và phân cấp quản lý.
- Khái quát thực trạng phân cấp quản lý đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt
Cho tới nay có nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm FDI, mỗi ý kiến tiếp nhận
từ một góc độ nhất định.
Theo luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà
đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến
hành các hoạt động đầu tư ”. [1, tr30]
Thông thường có thể hiểu FDI là việc các nhà đầu tư (tư nhân hoặc pháp
nhân) đưa vốn bằng tiền hay bất kỳ tài sản nào vào nước tiếp nhận đầu tư để thực
hiện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ…nhằm thu được lợi nhuận và
đạt được những hiệu quả xã hội.
FDI được xem như một loại hình di chuyển vốn quốc tế, trong đó người chủ
sở hữu cũng là người trực tiếp quản lý hoạt động sử dụng vốn. FDI là sự đầu tư
nhằm xây dựng các cơ sở, chi nhánh ở nước ngoài và làm chủ một phần hay toàn
bộ cơ sở đó. Do đó, có thể hiểu FDI là hình thức đầu tư mà nhà đầu tư nước
ngoài góp một số vốn đủ lớn vào lĩnh vực mà họ muốn sản xuất hoặc dịch vụ và
cho phép họ trực tiếp điều hành đối với đối tượng họ đã đầu tư.
Quỹ Tiền tệ Quốc tế cũng đưa ra một khái niệm về FDI năm 1977: “Đầu tư
trực tiếp nước ngoài là quá trình mà nhà đầu tư thực hiện công việc đầu tư kinh
doanh hoạt động ở nền kinh tế khác với nền kinh tế thuộc đất nước của mình
nhằm thu về những lợi ích lâu dài. Mục đích của nhà đầu tư là giành được tiếng
nói có hiệu quả trong việc quản lý doanh nghiệp”. [16]
Định nghĩa này bao quát rằng nhà đầu tư có thể đến từ quốc gia, vùng lãnh thổ
không được coi là quốc gia, hay là từ nơi mà được hưởng các quy chế đặc biệt như
là các đặc khu kinh tế, các vùng kinh tế đặc biệt trong các quốc gia.
Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài hiện nay là một hiện tượng phổ biến và
được coi là một trong những biểu hiện mạnh mẽ nhất của quá trình toàn cầu hoá
kinh tế. Quá trình này diễn ra không những từ các nước phát triển với nhau mà sang
cả các nước đang phát triển, giữa các nước đang phát triển với nhau, và từ các nước
đang phát triển sang cả các nước phát triển.
Hiện nay, các nhà đầu tư thường tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh ở
nước ngoài, và các chính phủ tham gia ngày càng tích cực vào việc thu hút vốn FDI
tìm kiếm thị trường nước ngoài và các năng lực nhiều ngành nghề khác của con
người.
Đối với công ty, đó lại là cơ hội để tạo được các giá trị mới, tiến hành những
công việc mang lợi ích trước mắt và lâu dài, có thể tiến hành thăm dò, chuẩn bị
sức mạnh để khai thác tiềm năng mới.
Như vậy, có thể định nghĩa rằng: Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc một đối
tác nước ngoài đưa vốn vào một nước và trực tiếp tham gia điều hành để trực
tiếp đạt được một mục đích nào đó hoặc để thực hiện một chính sách nào đó về
kinh tế, chính trị, tuỳ theo mục đích, địa vị và những tính toán của mình.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một trong những loại hình đầu tư quan trọng
trong nền kinh tế thế giới. Trong những thập kỷ gần đây, đặc biệt là những năm 90,
vốn đầu tư FDI đã có nhiều thay đổi, trong đó có các xu hướng như sau:
Trong thập kỷ 50-60, luồng vốn đầu tư trực tiếp tập trung vào các nước đang
phát triển (chiếm khoảng 70% tổng số vốn đầu tư), phần còn lại vào các nước tư
bản phát triển thì những thập kỷ gần đây, đặc biệt là đầu thập kỷ 90, tỷ lệ đó đã thay
đổi cơ bản theo hướng ngược lại. Hầu hết FDI được thực hiện trong những khu vực
có tương đối nhiều vốn của thế giới. Dòng vốn FDI không chảy từ nơi nhiều vốn
sang nơi ít vốn mà lại chảy chủ yếu vào các khu vực các nước công nghiệp phát
triển. Tỷ lệ vốn đầu tư vào các nước đang phát triển hiện chỉ chiếm dưới 30%.
Do những ưu thế và khoảng cách địa lý và các điều kiện tương đồng, nên FDI
chủ yếu được thực hiện giữa các nước trong cùng một khu vực. Có thể lấy ví dụ các
NIEs là những nhà đầu tư lớn ở các nước trong khu vực Châu Á, nhất là Đông Nam
Á.
Tương quan lực lượng giữa các nước đầu tư quốc tế đã có những thay đổi lớn.
Ngày nay không còn tình trạng chỉ có một trung tâm phát ra luồng vốn tư bản đầu
tư như trước. Nếu ở đầu thế kỷ 20, Anh, Pháp, Đức, Hà Lan là những nước dẫn đầu
thế giới về xuất khẩu vốn ra nước ngoài thì đến giữa thế kỷ Mỹ nhảy lên dẫn đầu,
sau đó đến Anh, Pháp. Đến thập kỷ 90, với sự xuất hiện của các NIEs nhất là các
NIEs Châu Á, với sự vươn lên của Nhật Bản, Tây Âu thì tính chất một cực đã biến
mất. Nhật Bản vươn lên vị trí hàng đầu, sau đó là Pháp, Mỹ xuống thứ ba trong xuất
khác, khu vực này có nhiều hấp dẫn đối với các nhà đầu tư như giá nhân công rẻ,
môi trường đầu tư liên tục được cải thiện và so với các nước tư bản phát triển thì
khu vực này có mức độ cạnh tranh thấp hơn. Tuy nhiên, kể từ khi có khủng hoảng
tài chính tiền tệ, nền kinh tế các nước này đã bộc lộ nhiều yếu kém và lượng đầu tư
nước ngoài giảm đáng kể.
Qua phân tích các xu hướng cơ bản về sự vận động của luồng vốn đầu tư trực
tiếp nước ngoài, có thể rút ra một số nhận xét sau:
+ Thị trường đầu tư là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế thị trường, nó
luôn vận động theo các hướng khác nhau và là nơi diễn ra cạnh tranh gay gắt
giữa các nước vì cung luôn thấp hơn cầu.
+ Các nước đang phát triển, (trong đó có Việt Nam) thường rơi vào tình trạng
khó khăn, thiếu vốn nghiêm trọng một mặt, vì xuất phát điểm thấp; mặt khác,
do c ch li thi ó lm cho phn ln cỏc nc ny b tt hu so vi cỏc
nc t bn phỏt trin. Chớnh vỡ vy, cỏc nc ang phỏt trin phi vn lờn
thc hin cụng nghip hoỏ t nc trong khi ngun vn trong nc ớt i. Do
ú phn ln cỏc nc ny phi trụng ch vo ngun vn nc ngoi trong
khi n nn cũn chng cht buc h phi tỡm li thoỏt trong ú cú vic tng
cng s dng nhng gii phỏp mm do thng i th cnh tranh trong
thu hỳt cỏc nh u t nc ngoi.
1.2 C s lý lun v phõn cp trong qun lý nh nc
Phõn cp qun lý nh nc, theo ngha rng nht, l hỡnh thc chuyn giao
quyn hn v trỏch nhim trong vic thc thi cỏc nhim v cụng t cp Trung ng
xung cỏc c quan a phng hoc giao nhim v ny cho khu vc t nhõn thc
hin. [17]
Ngy nay khỏi nim phõn cp c s dng cho nhiu hon cnh nhiu hin
tng khỏc nhau trong xó hi. Mc dự cũn cú nhiu cuc tranh lun v khỏi nim
phõn cp, nhng rt nhiu quc gia, nhiu chuyờn gia thng nht vi nhau v mt
s hỡnh thc phõn cp sau:
Phân cấp
Phân cấp
Phân quyền là hình thức cao nhất trong phân cấp hành chính. Với hình thức
này, toàn bộ quyền hạn trong việc ra quyết định, tài trợ và quản lý được chính
quyền Trung ương giao cho các cơ quan độc lập của chính quyền địa phương (local
government).
Phân cấp tài khoá
Phân cấp tài khoá là cấu phần trọng tâm của mọi biện pháp phân cấp. Mỗi
đơn vị phân cấp chỉ có thể độc lập thực hiện các nhiệm vụ được phân cấp khi họ có
được các nguồn tài chính cần thiết và khi họ có quyền đưa ra các quyết định chi tiêu
cho việc thực hiện các nhiệm vụ được giao.
Một số nhận định chung
Phân cấp quản lý luôn được hiểu là phân cấp nhiệm vụ quản lý nhà nước cho
các cấp chính quyền. Chính vì vậy, tiền đề cho việc phân cấp là phải xác định một
cách hợp lý nhiệm vụ của Nhà nước trong nền kinh tế cũng như trong quản lý xã
hội. Quá trình chuyển đổi nền kinh tế luôn gắn chặt với quá trình chuyển đổi vai trò,
nhiệm vụ của Nhà nước trong quản lý và điều hành nền kinh tế. Vấn đề này liên hệ
gắn bó với khái niệm phân cấp kinh tế (được trình bày vắn tắt ở dưới đây).
Bên cạnh những hình thức trên còn có hình thức phân cấp kinh tế (còn được
gọi là phân cấp thị trƣờng, khái niệm này khác hẳn với khái niệm phân cấp quản
lý nhà nước về kinh tế). Khái niệm này được sử dụng khi Nhà nước chuyển giao
một số chức năng từ khu vực công sang khu vực tư nhân, như vậy một số nhiệm vụ
sẽ không được các cơ quan nhà nước thực hiện mà sẽ chuyển giao cho khu vực kinh
tế tư nhân, hợp tác xã, các hiệp hội, và các tổ chức phi chính phủ thực hiện. Hình
thức này được phân thành 2 nhóm, trong đó: (1) “tư nhân hoá”: chuyển giao việc
cung ứng một số sản phẩm và dịch vụ từ nhà nước sang các chủ thể tư nhân và (2)
“giải quy chế”: giảm các rào cản hành chính, tạo điều kiện cho các chủ thể tư nhân
tham gia vào thị trường.
Trong thực tiễn, 3 hình thức phân cấp trên thường có phần giao thoa với
nhau, bổ sung cho nhau và do vậy thường xuyên xuất hiện hình thức phân cấp hỗn
hợp giữa các hình thức này.
Phân cấp không có nghĩa là chính quyền Trung ương từ bỏ nhiệm vụ ở một
hướng phát triển chủ đạo của các quốc gia là kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.
Thứ hai, thị trường toàn cầu với dòng chu chuyển hàng hóa, vốn, công nghệ, lao
động qua biên giới ngày càng mở rộng; thị trường dân tộc trở thành bộ phận hữu cơ,
chịu tác động của thị trường toàn cầu.
Cả hai khuynh hướng đó đã làm thay đổi chức năng và vai trò của Nhà nước dân
tộc: một phần chức năng của nó được các tổ chức quốc tế, công ty xuyên quốc gia
và tổ chức hợp tác khu vực thực hiện khi một nước đã hội nhập với thế giới, tham
gia thị trường khu vực và thế giới, thu hút đầu tư quốc tế, chấp nhận luật chơi chung
toàn cầu; một phần chức năng của nó được chuyển cho chính quyền địa phương với
cách thức thấp nhất là “phân cấp quản lý”, địa phương được thực hiện một sốquyền
và nghĩa vụ vốn trước đây thuộc Chính phủ Trung ương. [18]
Theo quan điểm này thì trong khi các quốc gia hướng ra toàn cầu để tận dụng lợi
thế so sánh động trong một thế giới đang biến đổi nhanh chóng thì đồng thời phải
hướng về địa phương, phát huy bản sắc, tuyền thống, lợi thế của từng vùng lãnh thổ
để tạo thành sức mạnh quốc gia trong hội nhập quốc tế.
Rõ ràng là đang diễn ra sự thay đổi lớn lao trên phạm vi toàn cầu; có nhiều kịch
bản cho sự thay đổi đó, nhưng cho dù thế giới sẽ chuyển động theo kịch bản nào thì
toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế vẩn tác động sâu sắc đến các quốc gia, Nhà nước
dân tộc, đặt ra những yêu cầu mới về tư duy và hành động của các Chính phủ theo
hướng “ tư duy toàn cầu, hành động quốc gia”.
Phân cấp quản lý cho chính quyền tỉnh, thành phố là đòi hỏi khách quan của
việc nâng cao hiệu năng quản lý nhà nước, bởi vì quản lý là quá trình thu thập và xử
lý thông tin để ra quyết định; tính phức tạp của nền kinh tế quốc dân gia tăng đến
mức chính phủ trung ương không đủ năng lực tiếp nhận khối lượng khổng lồ các
giòng thông tin theo ngành và theo lãnh thổ để đưa ra quyết định kịp thời, đúng đắn
đối với vấn đề và sự kiện. Chính quyền tỉnh, thành phố được giao một số chức
năng, quyền hạn vốn thuộc Chính phủ, bộ, ngành Trung ương để xử lý kịp thời và
đúng đắn các vấn đề kinh tế- xã hội của địa phương.[17,19]
Phân cấp trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế
Một trong những vấn đề cơ bản nhất của quá trình chuyển đổi nền kinh tế từ
hơn với cấp ra quyết định), người dân dễ dàng có “cảm nhận” nhà nước là “của dân,
do dân và vì dân” hơn. Yếu tố này sẽ góp phần tích cực khuyến khích người dân
đóng góp xây dựng cho địa phương và xã hội nhiều hơn. [15,17]
- Phân cấp bảo vệ cho nhóm thiểu số: Khi quyết định chính sách luôn ở cấp
cao nhất thì sẽ dễ dàng xuất hiện nguy cơ quyền lợi của nhóm thiểu số không được
lưu ý. Khi quyền quyết định được chuyển xuống cấp thấp hơn thì tỷ lệ thiểu số sẽ
được nâng lên (nhất là khi mà nhóm thiểu số này cư trú tương đối tập trung tại một
vùng), do đó, những quyết định ở cấp dưới sẽ phải quan tâm nhiều hơn đến quyền
lợi của nhóm thiểu số này. [15,17]
- Phân cấp nâng cao tính hiệu quả của quá trình thực hiện các nhiệm vụ của
Nhà nước: Quá trình phân cấp đã đưa cấp quyết định xuống gần với thực tiễn hơn,
do đó dễ dàng đáp ứng đúng nhu cầu của thực tiễn. Chính quá trình này đã nâng cao
hiệu quả thực hiện các nhiệm vụ của Nhà nước. (đặc biệt là trong những việc như
xây dựng, vận hành và bảo dưỡng cơ sở hạ tầng ở địa phương). [15,17]
- Phân cấp nâng cao tính bền vững, hiệu quả và công bằng trong quá trình
sử dụng các nguồn lực kinh tế: Trên cơ sở tạo điều kiện cho việc ra quyết định phù